Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Kim trắng thủy trong: Nhâm thủy tháng dậu xa quê dựng nghiệp

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc02/10/202614 phút đọc4 lượt đọc
Kim trắng thủy trong: Nhâm thủy tháng dậu xa quê dựng nghiệp

Một người đàn ông sinh giờ hợi ngày Nhâm thìn năm Bính thân 1956, tháng dậu kim sáng nước trong, thứ cách mà người xưa cho là thanh quý, có tiếng tăm. Tuổi trẻ lưu lạc, nhà cửa rách nát, đến trung niên mới rời quê dựng cơ nghiệp, và đường tình duyên cứ buộc chân người ấy ở mỗi nơi đi qua. Nước trong thì danh sáng, nhưng nước ấy chảy về đâu mới là điều đáng hỏi...


Một người đàn ông sinh giờ hợi ngày Nhâm thìn năm Bính thân 1956, tháng dậu kim sáng nước trong, thứ cách mà người xưa cho là thanh quý, có tiếng tăm. Tuổi trẻ lưu lạc, nhà cửa rách nát, đến trung niên mới rời quê dựng cơ nghiệp, và đường tình duyên cứ buộc chân người ấy ở mỗi nơi đi qua. Nước trong thì danh sáng, nhưng nước ấy chảy về đâu mới là điều đáng hỏi...

Lá số: kim trắng thủy trong, chọn Giáp mộc làm dụng thần

Mệnh nam sinh năm Bính thân 1956, tháng tám là Đinh dậu, ngày 18 là Nhâm thìn, giờ hợi là Tân hợi. Hai can Bính, Đinh ở trụ năm và trụ tháng đều là tài, can giờ Tân là ấn. Các chi tàng: thân có Mậu, Canh, Nhâm; dậu có Tân; thìn có Ất, Mậu, Quý; hợi có Giáp, Nhâm. Đại vận khởi từ năm tuổi tám tháng, đi thuận: Mậu tuất, Kỷ hợi, Canh tý, Tân sửu, Nhâm dần, Quý mão, Giáp thìn, Ất tị.

Tháng tám, Nhâm thủy gặp Tân kim nắm quyền, thuộc cách kim trắng thủy trong, chủ về thanh quý, trọng danh dự, có tiếng tăm. Tứ trụ kim nhiều, Nhâm thủy sinh tháng tám lại được lệnh, cho nên lấy Giáp mộc làm dụng thần: vừa để xì bớt kim khí, vừa bổ sung mộc khí mà tứ trụ còn thiếu. Lấy mộc làm dụng thần là đắc lực nhất, thủy là hỉ thần.

Sau bốn mươi sáu tuổi, hành đại vận Nhâm dần, dụng thần được sinh nên lợi nhất; tài nguyên dồi dào, mã tinh bị xung, nên cầu tài trong vận động là tốt nhất, dựng nghiệp nơi xa rất có lợi. Năm bốn mươi sáu tuổi là bước ngoặt của cuộc đời. Năm năm từ năm mươi mốt đến năm mươi lăm tuổi là quãng huy hoàng nhất: dụng thần được lệnh, quan vận hanh thông, đường công danh bằng phẳng. Cuộc đời gặp đại vận thủy mộc là tốt. Năm sáu mươi sáu tuổi hành đại vận Giáp thìn, dụng thần xuất hiện, cuối đời càng tốt đẹp.

Tính cách: cô độc, thanh cao, trọng nghĩa, nhiều mưu

Mệnh gặp hoa cái nên đời cô độc, dù phú quý vẫn khó tránh khỏi, buồn nhiều vui ít. Người thanh cao, khí độ phi phàm, thích những điều thần bí, tin mệnh lý và đạo Phật; thông minh hiếu học, tự mình phấn đấu, tay không dựng cơ đồ. Trụ tháng gặp đào hoa nên cả đời được nhiều người khác giới ưa thích, vì ràng buộc tình cảm nên nhiều lần làm chú rể.

Thiên tài thấu ra là người khẳng khái, hào phóng, trọng nghĩa khinh tài, phong lưu, thích đầu tư, được của bất ngờ; kinh doanh ở phương xa rất có lợi. Chính tài thấu ra là rất yêu vợ, đối với gia đình rất trung thực, với bản thân rất tiết kiệm, với người ngoài hào phóng, là người có cả vợ chính lẫn những người giúp việc quan tâm. Người này có đầu óc kinh doanh, biết kiếm tiền, biết tiêu tiền, tiền ra tiền vào nhiều, chỉ vì của cải không có kho nên không tụ.

Trụ ngày đóng khôi canh là người có tài lãnh đạo, tiếng vang như chuông, thích tranh đấu, giỏi quyền thuật. Trụ giờ vong thần là có mưu lược tính toán, gặp việc không bỏ lỡ thời cơ; vong thần ở đất tự quán là có tài viết lách. Tứ trụ hợp nhiều nên nhân duyên tốt, có tài tổ chức, có người tả hữu giúp đỡ, làm việc có tình.

Cha mẹ, anh chị em và nghề nghiệp

Tứ trụ rõ một chính ấn, lại ám tàng thêm hai ấn, nên trong cuộc đời có ba người mẹ; nhưng người này tài nhiều, hai tài khắc ấn, chủ về khắc mẹ, không có duyên với mẹ đẻ. Thiên tài ở đất tử nên ông cha nghèo khó phiêu bạt, lại không được cha mẹ giúp, tay không dựng cơ đồ. Ấn gặp đào hoa là mẹ đẹp và thông minh. Trụ năm gặp thiên y, ông cha có người làm nghề y.

Anh chị em có bốn, năm người; trụ tháng Đinh dậu với nhật nguyên Nhâm thìn thiên hợp địa hợp nên quan hệ anh em rất tốt.

Người này tính cách kim trắng thủy trong, là người có danh tiếng, nắm quyền quý, nên theo nghề chính trị có lợi; tài ở đất vượng nên buôn bán cũng giỏi. Làm cán bộ thì có chức, buôn bán thì có tiền, là người phú quý. Cả đời nên làm nghề thuộc mộc và hỏa, bất lợi với nghề thuộc kim. Phương hướng có lợi là đông, đông nam, bắc, đông bắc; bất lợi là tây và tây bắc. Làm bạn với người tuổi chuột, tuổi rồng, tuổi lợn, tuổi gà, tuổi thỏ đều có lợi; bất lợi với người tuổi hổ.

Hôn nhân: hai lần kết duyên, đời sau còn nhiều biến

Chính tài và thiên tài cùng thấu ra, tất có hai vợ; chính tài là người ở gần, thiên tài là người ở xa. Trụ ngày âm dương sai lệch lại thêm khôi canh, đều chủ về hôn nhân không thuận, đó là dấu hiệu hai lần kết hôn. Vợ tuổi chuột, tuổi rồng, và trong tứ trụ của vợ nhiều mộc, mộc vượng là tốt, vì bổ sung được mộc còn thiếu trong tứ trụ của người này; phương hướng kết hôn lợi nhất là tây nam, đông bắc.

Cung thê gặp thương quan, lại đóng thìn thổ, chủ về người vợ béo, quý phái, giàu, đẹp, lôi cuốn mọi người trong xã giao. Cung thê gặp hoa cái là người vợ thanh cao, thích tự do, không chịu quản lý, thích thần bí hoặc nghiên cứu những chuyện thần bí, nhưng tính mạnh mẽ, nóng như lửa. Tứ trụ hợp nhiều nên trước hôn nhân đã ở chung, lần đầu sinh con gái, thông minh lanh lợi, ham học.

Năm Tân dậu 1981 là lần đầu có bạn, gặp hoa cái; năm Quý dậu 1993 nên có người khác giới theo đuổi, hoặc tình cảm nổi sóng gió, có đau khổ về mặt tình cảm. Năm Bính tý 1996 có thân, tý, thìn tam hợp thành cục, lại Bính hợp với Tân, tý sửu thiên hợp địa hợp, là có tin mừng về hồng loan, hoặc kết hôn, hoặc sinh con; năm ấy phải chú ý chuyện đào hoa, nhất là tháng 4 và tháng 5 âm lịch.

Sau bốn mươi sáu tuổi lại có biến đổi trong hôn nhân hoặc sức khỏe của vợ quá kém, đặc biệt hai năm 2002, 2003 vợ có thể bị ốm hoặc ly dị. Năm Bính tuất 2006 thiên khắc địa xung với cung thê, không lợi cho vợ. Năm Đinh hợi 2007, đại vận Nhâm dần, Đinh hợp Nhâm, dần hợp hợi, tức là thiên hợp địa hợp, có thể lại làm chàng rể mới. Năm Mậu tuất, sáu mươi hai tuổi, lại hợp đào hoa, hợp đại vận, e rằng lại có hôn nhân mới. Người này rất có duyên với phụ nữ, cả đời bị tình cảm ràng buộc, phong lưu nhưng không háo sắc.

Bệnh tật, màu sắc và hướng nhà

Tứ trụ kim nhiều nên phải chú ý bệnh sỏi bàng quang, sỏi thận; kim chủ phế nên chú ý viêm phổi, lao phổi, viêm khí quản; kim nhiều thủy lạnh nên chú ý đau thắt lưng. Tứ trụ hỏa nhiều nên phải chú ý bệnh mắt, tim, huyết, tim đập nhanh, ngực nôn nao, thần kinh suy nhược. Kim vượng sinh thủy, thủy chủ thận nên dễ mắc bệnh bàng quang, tinh hoàn, hệ tiết niệu, thận hư. Mộc yếu, mộc chủ gan mật nên phải chú ý bệnh gan mật.

Phương có lợi nhất là đông, đông nam, kế đến là bắc, đông bắc. Không lợi nhất là tây và tây bắc, cả đời kiêng sinh sống, làm việc ở phương tây, tây bắc. Hướng phòng ở tốt nhất là hướng tây hoặc đông nam. Màu thích hợp nhất là xanh lục, kế đến là đen; màu trắng không lợi, không nên đeo đồ trang sức bằng vàng. Trong nhà nên trồng nhiều cây xanh hoặc sống trong môi trường xanh. Giường đặt theo hướng đông tây, đầu ở phía đông. Cả đời được người có chữ mộc hoặc ba chấm thủy bên cạnh làm quý nhân giúp đỡ.

Năm Bính tý 1996: tài, hôn nhân và hạn xe cộ

Năm 1996 gặp Bính là thiên tài, thiên tài là đại tài, tháng 4 và tháng 5 gặp tài bất ngờ; tài vận năm ấy tương đối tốt, nguồn của dồi dào, mua ruộng, mua nhà đều được. Năm Bính tý với đại vận thiên hợp địa hợp, có tin mừng về hôn nhân hoặc thêm người trong nhà.

Thân, tý, thìn tam hợp thành thủy cục; thủy là hỉ thần, lại tam hợp thành cục kình dương, sát không có lực, không lộ, nên năm ấy có khả năng thăng quan tiến chức, hơn nữa tài sinh quan nên công tác có biến động lớn. Buôn bán phát triển nhiều hướng thì có ích, công ty đặt ở phương nam sẽ lợi nhất. Cũng vì thân, tý, thìn tam hợp với kình dương của năm, nên tháng 10 và tháng 11 người này có thể có chuyện hiếu; năm ấy tam hợp kình dương, có thể ốm, bị thương hoặc tai nạn xe cộ.

Lưu niên và vận trình từ nhỏ đến cuối đời

Người này khắc cha khắc mẹ, từ bé chịu đủ gian khổ, không được cha mẹ nuông chiều, không được hưởng sự ấm áp của gia đình, chỉ vì từ nhỏ đại vận và nhật nguyên thiên khắc địa xung, xung cha rồi khắc mẹ, lại không lợi cho anh chị em. Năm Mậu tuất 1958 thiên khắc địa xung với nhật nguyên; trong thìn có Ất, Mậu, Quý, trong tuất có Tân, Đinh, Mậu, Tân là ấn tức mẹ, Quý là anh em, nên năm ấy không lợi cho mẹ và anh em. Hai năm 1958, 1959 thường ốm đau hoặc bị thương.

Vận thất sát từ sáu đến mười lăm tuổi: lúc nhỏ rất nghịch nên dễ bị thương, nhưng ở trường có danh tiếng. Đây là thổ vận, thổ trùng trùng, thổ là đường ruột dạ dày, nên thời gian này bộ máy tiêu hóa kém, đặc biệt các năm 1962, 1968, 1969 sức khỏe không tốt. Năm Nhâm dần 1962 ốm đau nhiều hoặc không lợi cho cha; nếu cha lấy vợ thì đỡ hơn một ít; năm ấy người này có chuyển đổi hoặc di động lớn. Sau các năm 1964, 1965 vận khí bắt đầu tốt dần, ở trường thành tích nổi bật. Hai năm 1968, 1969 có thể bị thương hoặc ốm nằm viện, chủ yếu là bệnh dạ dày, đường ruột. Năm Canh tuất 1970 được chuyển đổi hoặc đi học; các năm 1970, 1971 việc lên cấp trong học tập gặp nhiều thuận lợi.

Vận quan từ mười sáu đến hai mươi lăm tuổi: giai đoạn có thể có chức lãnh đạo nhỏ ở trường, có danh tiếng. Hai năm 1974, 1975 có thể bị thương, chủ yếu ở đầu hoặc ngón tay; nhưng sau 1974 vận khí tốt dần vì dụng thần lên ngôi. Các năm 1976, 1977 hành tài vận, bắt đầu độc lập về kinh tế, nên làm nghề liên quan đến hỏa hoặc điện. Năm Đinh tị 1977 được điều động hoặc chuyển đổi công tác. Năm Mậu ngọ 1978 thìn, ngọ, dậu, hợi bốn hình xung đều gặp, nên có thể bị thương hoặc thoát ra từ cõi chết.

Kiêu vận từ hai mươi sáu đến ba mươi lăm tuổi: học hành thuận lợi, nhưng thân, tý, thìn tam hợp thành cục kình dương nên đặc biệt không lợi cho sức khỏe, cuộc sống khá bôn ba vất vả. Năm Tân dậu 1981 gặp đào hoa, có tin mừng đính hôn; năm Nhâm tuất 1982 xung động hôn nhân, tức có tin mừng hôn nhân hoặc có việc ở chung; năm Giáp tý 1984 dụng thần lên ngôi nên tương đối thuận lợi, có tin mừng. Thân, tý, thìn tam hợp thành cục là thêm người trong nhà, nhưng lại hợp với kình dương nên năm ấy sức khỏe rất kém. Từ 1984 trở đi mọi mặt bắt đầu thuận lợi; các năm 1984 đến 1987 đều khá, riêng năm 1986 trạch mã gặp xung nên đi xa nhiều, vì tiền của mà bôn ba. Hai năm 1988, 1989 gặp quan sát, bắt đầu có chức. Các năm 1990, 1991 lại được đề bạt, có một lần được đi học. Năm 1990 thìn, ngọ, dậu, hợi tứ hình đều có nên ốm đau hoặc thương tật, phải chú ý tháng 5 âm lịch.

Vận chính ấn từ ba mươi sáu đến bốn mươi lăm tuổi: vận này có quyền bính. Sau ba mươi sáu tuổi quan vận hanh thông nhưng cầu quan tương đối vất vả, vì dụng thần bị khắc, Bính hợp Tân là có tình cảm khác giới. Hai năm 1992, 1993 là Nhâm, Quý, hỉ thần, thủy sinh mộc, sinh cho dụng thần, nên hai năm này tài quan đều đẹp, đặc biệt tháng 10, tháng 11 có tin mừng; tháng 7, tháng 8 năm 1993 được đề bạt. Hai năm Giáp tuất và Ất hợi 1994, 1995 dụng thần lên ngôi, thực thần thương quan đều sinh tài nên tài vận tương đối khá. Năm 1994 xung đến cung thê, chủ về vợ nhiều bệnh hoặc tình cảm sóng gió. Năm 1995 là thương quan, không lợi cho quan trường, phải chú ý tháng 3 và tháng 9 vì chức vụ không yên, có tiểu nhân dèm pha, đố kỵ; may nhờ quý nhân tuổi hợi giúp đỡ nên cuối cùng bình an vô sự, thần tài lên ngôi có điều phải lo nhưng không nguy hiểm. Hai năm 1996, 1997 là năm tài, tài vận rất tốt, có thể thăng quan tiến chức. Năm Mậu dần 1998 gần quan sát, trạch mã bị xung, trong công tác hoặc chức vụ lại có một lần biến động lớn, có thể chuyển nhà, nhưng không lợi cho mẹ. Năm Kỷ mão 1999 xung mất đào hoa là điềm có tình cảm khác giới, đại khái xảy ra vào tháng 2 hoặc tháng 8 âm lịch. Hai năm 2000, 2001 lại có khả năng được đề bạt, có thể xảy ra vào tháng 7 hoặc tháng 8.

Vận tỉ kiếp từ bốn mươi sáu đến năm mươi lăm tuổi khắc vợ, khắc cha; vận này hôn nhân không thuận, hơn nữa mã tinh bị xung nên đi xa nhiều, cầu tài trong hoạt động, lập nghiệp xa quê. Năm Nhâm ngọ 2002 thìn, ngọ, dậu, hợi tứ hình đều có, bản thân phải đề phòng tranh chấp hoặc kiện tụng; năm ấy cũng có nỗi lo mất cha hoặc ly hôn, cần chú ý thương tật. Hai năm 2004, 2005 vận khí tương đối tốt, có thể được đề bạt, thăng quan tiến chức, trong công việc lại có một lần biến động lớn, có thể làm cán bộ ở vùng khác, có khả năng xa quê; năm ấy có cơ hội ra nước ngoài và nhiều cơ hội xuất ngoại. Năm Bính tuất 2006 thiên khắc địa xung với cung hôn nhân, không lợi cho vợ; người nhà tuổi rồng rất không lợi. Năm Đinh hợi 2007 thiên hợp địa hợp với đại vận, lại có tin mừng lấy vợ. Các năm năm mươi hai, năm mươi ba, năm mươi bốn tuổi được thăng quan tiến chức, có chức vụ.

Cuối đời phải chú ý các cửa ải năm mươi bốn và sáu mươi mốt tuổi; nhưng năm sáu mươi mốt tuổi là năm Đinh dậu, thiên hợp địa hợp với nhật nguyên Nhâm thìn, nên sáu mươi mốt, sáu mươi hai tuổi lại lấy vợ trẻ. Năm Giáp thìn, sáu mươi tám tuổi, tuế vận cùng gặp, phải chú ý nguy hiểm đến tính mệnh. Năm Canh tuất, bảy mươi bốn tuổi, thiên khắc địa xung với đại vận, lại gặp kiêu thần và thực thần nên một lần nữa nguy hiểm đến tính mệnh. Năm Giáp dần, bảy mươi tám tuổi, dần thân tị tam hình, có thể khó qua.

Tóm lại, người này thuộc loại phú quý: tuổi trẻ lưu lạc vất vả, nhà cửa rách nát; trung niên phát đạt nhưng gian lao bôn ba, xa quê tự dựng cơ nghiệp; tuổi trung niên hôn nhân trắc trở. Cuối đời dụng thần lên ngôi, của cải dồi dào, tài vận hanh thông; cuối đời cầu tài thì lợi, làm cán bộ lãnh đạo thì không lợi. Con cái hiếu thuận, có thể hưởng phúc của con cái và cuộc sống kết thúc tốt đẹp.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc