Bài tổng quan
Kim thần, lộc, củng lộc và cách nhìn đúng về hung sát
Hai người cùng có lộc Giáp ở Dần: người này nhận lộc phúc tinh, người kia gặp lộc phá, nửa tốt nửa xấu. Củng lộc thì được ví như cái cốc, rỗng thì còn đựng được, đầy rồi thành vô dụng. Còn với hung sát, người xưa dặn quân tử chỉ hỏi họa mà không hỏi phúc...
Kim thần: thanh kiếm cần lửa luyện
Kim thần là ba nhóm can chi: Ất Sửu, Kỷ Tị, Quý Dậu. Kim thần lấy ở trụ ngày hoặc trụ giờ đều được. Qua thực tiễn, ông thấy trụ ngày gặp kim thần mà Tứ trụ thiếu hỏa thì khi vận vào hỏa là lập tức giàu sang; điều đó cho thấy trụ ngày gặp kim thần cũng đúng. Cho nên dù ở trụ ngày hay trụ giờ, chỉ cần lâm kim thần là có.
Kim không có hỏa thì không thành vũ khí, kim cần hỏa để luyện, nên kim gặp hành hỏa thì phát. Trong Tứ trụ có hỏa nhưng không đi vận hỏa thì cục hỏa ấy ban đầu cũng không có lực, phải đến vận hỏa mới phát. Vì vậy có câu: kim thần gặp hỏa, uy trấn biên cương; kim thần nhập hỏa, phú quý vang xa. Kim gặp thủy thì chìm, nên kim thần gặp thủy là gặp tai vạ: vận đến kim thủy thì tai họa đến ngay, đi lên phương bắc là xấu, có thể gặp tai nạn rất nặng. Kim thần gặp tài là tốt, gặp tài vận là phát; gặp tài vận đã tốt, gặp thêm hỏa thì càng tốt hơn.
Kim thần là quý cách; người có nó không giàu thì sang, thông minh hiếu học, có tài, nhưng tính gấp, mạnh mẽ, khăng khăng làm một mình. Nếu trong Tứ trụ kim nhiều, hoặc nạp âm kim nhiều, mà thủy vượng thì là phá cách, chủ về họa nhiều thành công ít, không có tình nghĩa với lục thân, anh em chia lìa, người vất vả khổ sở.
Lộc thần và các dạng lộc theo từng can
Giáp lộc ở Dần, Ất lộc ở Mão, Bính và Mậu lộc ở Tị, Đinh và Kỷ lộc ở Ngọ, Canh lộc ở Thân, Tân lộc ở Dậu, Nhâm lộc ở Hợi, Quý lộc ở Tý. Cách tra lấy can ngày làm chủ, thấy địa chi ấy trong Tứ trụ là có. Lộc là tước lộc, nhờ có thế lực mà được hưởng nên gọi là lộc; lộc là nguồn dưỡng mệnh. Lộc ở chi năm là tuế lộc, ở chi tháng là kiến lộc, ở chi ngày là chuyên lộc, ở chi giờ là quy lộc.
Người thân vượng mà có lộc thì tài nên thấy khắc; thân yếu mà có lộc thì tài kỵ thấy khắc. Lộc mã đi từ suy đến tử, kể cả tử tuyệt, nếu không có cát thần hỗ trợ thì nhất định phá tan sự nghiệp tổ tiên. Lộc sợ nhất là nhập không vong hoặc bị xung. Nếu lấy lộc làm dụng thần mà không may nhập không vong hay bị xung, lại không có cát thần giải cứu, thì nhất định đói rách ăn xin, làm thuê, phiêu bạt khắp nơi; nếu không bị thế thì cũng chẳng có danh vọng gì, có lộc mà như không. Lộc phạm xung gọi là phá lộc, như lộc Giáp ở Dần gặp Thân là phá, khí tan không tụ, người làm quan thì bị đình chức, mất tước, dân thường thì cơm áo không đủ. Lộc gặp xung, hoặc địa chi của tháng là kiến lộc, thì nghèo đến mức không được hưởng nhà cửa cha mẹ để lại, hoặc bỏ quê đi mưu sinh nơi khác. Lộc nhiều thân vượng không nên gặp kình dương, tức kiếp tài, nếu không sẽ khắc vợ hoặc chồng, khắc cha. Lộc còn là ngang hòa; gặp đất quan vượng là tốt. Nhật nguyên yếu mà có thần lộc giúp, lại gặp ấn sinh và cát tinh trợ giúp thì thành sự nghiệp, là người có phúc.
Còn tốt xấu từng dạng lộc theo can như sau. Giáp lộc ở Dần: gặp Bính Dần là lộc phúc tinh, gặp Mậu Dần là lộc phục mã, cả hai đều tốt; gặp Canh Dần là lộc phá, nửa tốt nửa xấu; gặp Nhâm Dần là chính lộc, nếu kèm tuần không, vong thì có nhiều khả năng đi theo đạo; gặp Giáp Dần là lộc trường sinh, đại cát.
Ất lộc ở Mão: gặp Ất Mão gọi là lộc hỉ thần vượng, cát; gặp Đinh Mão là cắt ngang đường, chủ hung; gặp Kỷ Mão là lộc tiến thần; gặp Tân Mão là lộc phá hay còn gọi là lộc giao, nửa tốt nửa xấu; gặp Quý Mão mà kèm thiên Ất là lộc chết, tuy sang nhưng nghèo suốt đời.
Bính lộc ở Tị: gặp Kỷ Tị là lộc kho trời, cát; gặp Tân Tị là đứt đường, coi như bị tuần không, vong; gặp Quý Tị là lộc phục quý thần, nửa tốt nửa xấu; gặp Ất Tị là lộc mã, gặp Đinh Tị là lộc khố, đều tốt.
Đinh lộc ở Ngọ: gặp Canh Ngọ là đứt đường như không vong, xấu; gặp Nhâm Ngọ là lộc đức hợp, gặp Giáp Ngọ là lộc tiến thần, đều tốt; gặp Bính Ngọ là mừng gặp lộc thần, nếu gặp kình dương thì nửa tốt nửa xấu; gặp Mậu Ngọ là gặp kình dương, phần nhiều xấu.
Mậu lộc ở Tị: gặp Kỷ Tị là lộc kho trời, tốt; gặp Tân Tị là đứt đường, tuần không, vong; gặp Quý Tị là lộc quý thần, hóa hợp với Mậu Quý thì được chức quan quan trọng; gặp Ất Tị là trạch mã, lộc đồng hương; gặp Đinh Tị vượng là lộc kho, đều tốt.
Kỷ lộc ở Ngọ: gặp Canh Ngọ là đứt đường, tuần không, vong; gặp Nhâm Ngọ là lộc tử quý, đều xấu; gặp Giáp Ngọ là lộc hợp tiến thần, tượng hiển đạt; gặp Bính Ngọ là mừng gặp lộc thần; gặp Mậu Ngọ là lộc phục thần kình dương, xấu.
Canh lộc ở Thân: gặp Nhâm Thân là lộc đại bại, gặp Giáp Thân là lộc đứt đường, tuần không, vong, đều xấu; gặp Bính Thân là lộc đại bại; gặp Mậu Thân là lộc phúc mã, trì trệ, nếu gặp phúc tinh quý nhân thì tốt; gặp Canh Thân là lộc trường sinh, đại cát.
Tân lộc ở Dậu: gặp Quý Dậu là lộc phục thần, xấu; gặp Ất Dậu là lộc bị phá, phần nhiều thất bại; gặp Đinh Dậu là lộc quý thần nhưng tuần không, vong nên chủ về chuyện gian dâm, nếu gặp hỉ thần thì tốt; gặp Kỷ Dậu là lộc tiến thần, gặp Tân Dậu là chính lộc, đều tốt.
Nhâm lộc ở Hợi: gặp Ất Hợi là lộc thiên đức, gặp Đinh Hợi là lộc hợp quý thần, gặp Kỷ Hợi là lộc vượng, gặp Tân Hợi là lộc cùng với mã, đều tốt; gặp Quý Hợi là lộc đại bại, đói khó suốt đời.
Quý lộc ở Tý: gặp Giáp Tý là lộc tiến thần, chủ về đăng khoa tiến đạt; gặp Bính Tý là lộc kình dương, nếu có cả thần tinh quý nhân thì có quyền; gặp Mậu Tý là lộc kình dương phục nấp, hợp với lộc quý nên chỉ tốt một nửa; gặp Canh Tý là ấn lộc, cát; gặp Nhâm Tý là chính lộc kình dương, xấu.
Củng lộc: cái cốc rỗng mới đựng được
Củng lộc có năm ngày giờ. Giờ Quý Sửu ngày Quý Hợi, giờ Quý Hợi ngày Quý Sửu là lộc củng Tý. Giờ Đinh Mùi ngày Đinh Tị, giờ Đinh Tị ngày Đinh Mùi là lộc củng Ngọ. Giờ Mậu Ngọ ngày Mậu Thìn là lộc củng Tị.
Tam Mệnh Thông Hội viết: củng lộc đòi hỏi ngày giờ phải cùng can, như thế quý lộc và nguyệt lệnh mới thông khí với nhau. Vận gặp thân vượng, tức quý lộc ở đất vượng thì mới tốt; gặp ấn thụ, thương quan, thực thần, tài vận thì đại cát. Không nên bị hình, xung, phá, hại, kình dương, thất sát làm tổn thương ngày giờ, khiến củng lộc không giữ được khí quý. Kỵ nhất là xuất khỏi tuần không vong, tức bị điền đầy. Củng lộc ví như cái cốc: rỗng thì chứa được vật, đầy rồi thì chẳng chứa được gì, vô dụng. Cho nên chỉ nên là củng rỗng; rỗng thì đựng được, bị phá thì vô dụng, nên sợ nhất là không vong và tuế vận. Củng lộc là củng quý, điền đầy thì xấu. Gặp nó thì có ích, nhưng cách bàn luận mỗi nơi một khác.
Một bài cổ thi nói: ngày giờ cả hai củng lộc là trung đình, là có rương vàng hòm ngọc; mệnh cao quý như quan tử còn đòi hỏi phải gặp nguyệt lệnh nữa; nếu nguyệt lệnh vô thần thì củng lộc ấy rất kỳ diệu. Củng lộc sợ nhất là gặp điền đầy, tức xuất không, cũng sợ trong chi tháng có thương quan, kình dương đến phá hoại; nếu không gặp những thứ ấy thì củng lộc chắc chắn là tốt.
Người có củng lộc, củng quý thuần túy là bậc vương hầu. Người có củng lộc mà bị điền đầy thì chẳng có danh lợi gì. Người có củng lộc mà không gặp tài, ấn thì không bị tổn hại; kỵ nhất là gặp quan sát, đặc biệt gặp tuần không, vong.
Giáp lộc và cách giác
Giáp góc, tức giáp lộc: Giáp gặp Mão, Sửu; Ất gặp Dần, Thìn; Bính, Mậu gặp Thìn, Ngọ; Đinh, Kỷ gặp Tị, Mùi; Canh gặp Mùi, Dậu; Tân gặp Thân, Tuất; Nhâm gặp Tuất, Tý; Quý gặp Hợi, Sửu, đều gọi là giáp lộc. Giáp lộc mà có cát thần phù trợ thì chủ giàu, thọ, quan, quý. Nên có câu: giáp lộc là giáp quý, được kính trọng.
Cách giác là khi giữa ngày và giờ bị cách một địa chi trống. Củng lộc cũng tương tự như vậy, nhưng cách giác không tốt bằng củng lộc. Cách giác chủ về cốt nhục chia lìa nhau.
Thiên xá: ngôi sao của dịp đại xá
Mùa xuân Mậu Dần, mùa hạ Giáp Ngọ, mùa thu Mậu Thân, mùa đông Giáp Tý. Cách tra thiên xá, một cách xưa lấy ngôi nào trong Tứ trụ cũng được; còn nay các lối bàn mệnh lý lấy trụ ngày làm chính, vì như thế hợp lý hơn. Sinh các tháng Dần, Mão, Thìn thì lấy ngày Mậu Dần; sinh các tháng Tị, Ngọ, Mùi thì lấy ngày Giáp Ngọ; sinh các tháng Thân, Dậu, Tuất thì lấy ngày Mậu Thân; sinh các tháng Hợi, Tý, Sửu thì lấy ngày Giáp Tý. Thiên xá là ngôi sao gặp hung hóa cát, sao giải tai họa. Trong mệnh gặp nó là có người cứu. Nhất là với người có tội, đó là dịp may được hoàng đế đại xá, nên là sao tốt.
Hung sát không phải toàn là xấu
Hung sát là sao khắc chế ta. Phần nhiều chủ về tai vạ, nên người bị hung sát nhập mệnh không chỉ gây đau khổ cho mình và người thân mà còn có thể đem lại tổn thất cho xã hội. Có những hung sát tuy không gây tổn thất cho người khác hay xã hội, nhưng khắc chế mình suốt đời: có chí mà không vươn lên được, hoặc người yếu, nhiều bệnh, hoặc gặp việc trắc trở, thậm chí có người chết yểu. Vì thế người xưa bàn rất nhiều về hung sát.
Mọi vật đều có hai mặt, có mặt xấu thì cũng có mặt tốt. Hung sát tuy phần nhiều chỉ tai vạ, là điều khó tránh trong quá trình phát triển của sự vật, nhưng cũng có mặt tích cực. Hung sát không phải toàn là xấu, trong đó cũng có sao nắm quyền bính. Có người nghĩ sai rằng sao hung chỉ dành cho người nghèo và người bình thường, mà không biết phàm là quý mệnh đều phải gặp sát, tức được vua nhấc cử. Lại có lời rằng đại phú đại quý là nhờ quyền sát, sát đứng sau, quyền đứng trước thì trở thành bậc đại hiền đại sĩ dẹp loạn yên dân; người có cả sát lẫn kình dương mà nắm binh quyền thì đáng ngôi cấp tướng; người có quyền phải có cả sát, sao quyền phải có sao sát phù trợ. Qua đó thấy sao hung có thể giúp người có quyền, có giàu sang; tai họa to thì phúc cũng to.
Mệnh gặp sao sát thật ra không đáng sợ; đáng sợ là không hiểu ý nghĩa của hung sát, không biết vận mệnh của mình. Nói chung thân vượng thì mừng gặp sát, sát có cát tinh nâng đỡ thì không hại. Thân nhược mà không có cát tinh nâng đỡ thì phải kỵ sát. Có câu: phàm là hung thần thì đừng gặp năm khắc, năm khắc thì tai vạ liên miên. Hung thần năm khắc nghĩa là can chi của năm sinh bị khắc, người bị khắc sẽ không tốt; còn nếu can chi của ngày khắc hung sát thì nhất định nắm được quyền.
Khi đoán vận mệnh, người xưa nói: quân tử hỏi mệnh thì hỏi họa chứ không hỏi phúc. Lại nói: người thường hay hỏi của, quan lại hay hỏi hình phạt. Lý do là trong mệnh đã có phúc thì không hỏi phúc nữa, đã có thì không sợ mất; còn trong mệnh có hung họa mà không báo cho biết thì không biết, không biết thì khó đề phòng. Gặp hung sát có thể giải, có thể hóa, then chốt là phải biết trước. Bàn về hung sát là để giải hung sát, nghiên cứu hung sát để tìm cách tránh.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
