Bài tổng quan
Họa trinh tiết của nữ số và họa cách chức, thôi việc
Câu phú xưa chép rằng chồng vừa ra cửa trước, người đàn bà đã dắt trai vào, chỉ vì hai vì sao đứng cạnh nhau trong lá số. Còn ngoài xã hội, một viên chức đang ngồi vững trên ghế bỗng bị bãi nhiệm, và cung Quan chỉ cần có Tuần hay Triệt…
Mục lục · 2 phần
Họa của phái nữ
Những tai họa của phái nam kể trên đều có thể xảy ra cho cả phái nữ dù không loại đó không mấy thông dụng cho nữ số. Đàn bà con gái thường gặp họa trinh tiết và gia đạo.
Họa trinh tiết
Loại này vừa ứng dụng cho con gái (chữ trinh) vừa ứng cho đàn bà (chữ tiết).
Mặt khác, khi nói họa tức là sự bất hạnh xảy ra ngoài ý muốn của mình. Trên thực tế, không phải lúc nào việc mất trinh hay thất tiết cũng ngoài ý muốn : vẫn có trường hợp có sự ưng thuận. Và khoa Tử-Vi cũng kể đó là một họa trinh tiết, bởi vì, theo quan niệm Á Đông, phụ nữ đã mất đi căn bản cao quý cần thiết cho nếp sống đạo đức của cá nhân hay của gia đạo. Về điểm này, khoa Tử-Vi không nói được sự thuận ý hay sự bất thuận, mà chỉ nói lên cái kết quả mà thôi, tức là việc mất trinh hay thất tiết.
Họa trinh tiết thường do nhiều loại sao dưới đây kết hợp :
- Sao chỉ tình dục, đặc biệt là tình dục nặng về thể xác.
- Sao chỉ sự giao hợp nam nữ : sự hiện diện của loại sao này rất quan trọng vì nó giúp xác nhận một cách quyết đoán vấn đề mất trinh hay thất tiết. Đó là những sao Thai, Thiên Riêu, Tham Lang.
- Sao chỉ sự xui xẻo, trong số đáng lưu ý nhất là Địa Không, Địa Kiếp, Cự Môn, Hóa Ky.
- Sao chỉ sự bạo hành, cưỡng bức như Địa Không, Địa Kiếp, Tướng Quân, Phục Binh.
- Sao chỉ tòng phạm (trường hợp bị hiếp dâm tập thể) như Phục Binh, Tả Phù, Hữu Bật.
Dưới đây là những phối trí đáng lưu ý.
Thai, Phục, Kiếp hay Không
Thai chỉ sự giao hợp nam nữ. Phục Binh chỉ sự lừa lọc, lường gạt ái tình, sự dụ dỗ hoặc sự rình rập bắt cóc. Địa kiếp hoặc Địa Không chỉ sự cưỡng đoạt, bạo hành, hoặc chỉ sự xui xẻo bất khả kháng.
Bộ sao này nói lên sự hiếp dâm. Có người cho rằng đây là trường hợp hiếp tập thể vì tham chiếu sao Phục Binh (chỉ tòng phạm, người giúp đỡ hoặc xí phần). Quan điểm này cũng khả chấp, duy biết rằng tương đối hãn hữu.
Có khi việc thất trinh tiết chỉ cần qui tụ hai sao như:
- Thai, Phục
- Thai, Kiếp hay Không
Dù chỉ có hai sao, nhưng ý nghĩa cũng tương tự. Cần lưu ý rằng Thiên Riêu hay Tham Lang hoặc Đào hay Hồng có thể thay chân cho sao Thai để kết hợp thành : Riêu, Phục, Riêu, Không, Kiếp, Tham Phục, Tham, Kiếp, Không, v.v... càng có nhiều sao chỉ sự giao hợp hội tụ, ý nghĩa thất trinh càng chắc chắn. Bằng không, nếu là sao chỉ chung về ái tình thì có thể đây là trường hợp thất tình mà thôi.
Đào, Riêu
Đào Hoa là sao mèo chuột, Riêu chỉ sự giao hợp. Bộ này tượng trưng cho loại ái tình thể xác của nam nữ. Đặc biệt đối với phái nữ, ý nghĩa càng nặng nề hơn : nếu là con gái thì lăng loàn, đàn bà thì ngoại tình, có khi không phải với một người. Vấn đề mất trung tiết đương nhiên là hậu quả của tính nết lang chạ này. Với bộ sao này, không có việc hiếp dâm, chỉ có sự hiến dâng tự ý. Người xưa có câu phú về bộ sao này như sau :
Đào Riêu số gái ai hay
Chồng ra cửa trước, dắt ngay trai vào.
Cần lưu ý rằng sao Hồng Loan vì đồng nghĩa với Đào Hoa cho nên khi kết hợp với Riêu vẫn mang ý nghĩa tương tự.
Đào, Thai
Giống nghĩa với Đào, Riêu về bản chất ái tình và cường độ của tính nết dâm đãng. Câu phú của người xưa về bộ này như sau :
Sao Thai mà ngộ Đào Hoa.
Tiền dâm hậu thú mới ra vợ chồng.
Tuy nhiên, bộ này không hẳn chỉ có nghĩa tiền dâm hậu thú trong cảnh một vợ một chồng mà vẫn có ý nghĩa lăng loàn được.
Đào, Riêu, Thai
Ba sao này kết hợp trong số thì phụ nữ sẽ là gái giang hồ. Trong trường hợp không phải là gái giang hồ thì đó là người đàn bà dâm đãng không chỗ nói, thông thường chủ động tấn công nam giới, chọc ghẹo phái nam, chim trai hay chim chồng của kẻ khác. Nết tính của loại phụ nữ này bạo tháo đến nỗi dám ngang nhiên ăn ở công khai với tình nhân trong lúc có chồng.
Lẽ dĩ nhiên, trong trường hợp này, việc mất trinh tiết không được đương số xem là một mối họa mà không chừng được họ coi tự nhiên như một nhu cầu hoặc một sở thích, không đặt vấn đề đạo đức, luân lý, dư luận.
Cự Ky hay Tham, Ky
Hai bộ sao này có nghĩa là ngọc có vết, ám chỉ sự mất trinh thất tiết. Cự Môn và Hóa Ky là ám tinh, ứng vào số phụ nữ thường chỉ sự bất hạnh trong tình ái. Tham Lang là dâm tinh, càng làm rõ nghĩa thêm mối bất hạnh này.
Với Cự, Ky có thể kết luận về một mối tình ngang trái một phần nào. Nhưng với Tham, Ky, mối tình này phải đi đến họa trinh tiết.
Thai, Hình, Hỏa, Tang, Hổ, Kiếp
Bộ sao này chỉ sự hiếp dâm đi liền với án mạng. Con gái, đàn bà gặp phải sẽ bị 2 tai họa lần lượt : hiếp và chết.
Sự hiện diện của sao Hỏa có nghĩa là bị hỏa thiêu, bị chết cháy, hoặc bị lửa đạn. Không có Hỏa Tinh, nạn này có thể không xảy ra.
Sự hiện diện của Thiên Hình cho thấy người con gái bị bắt cóc, hoặc ngoài ra còn bị hình thương (đánh đập, hành hung, đâm chém).
Sao Hình đi với sao Thai cho thấy bộ phận sinh dục của phụ nữ (sao Thai) bị đâm chém, sau khi bị hiếp.
Toàn thể bộ sao này tượng trưng cho sự thanh toán vì tình, sự trả thù của tình nhân ác độc.
Tóm lại, những bộ sao của họa trinh tiết khá nhiều và có nhiều kết hợp tương đối chi tiết. Sự hiện diện của sao Thai trong các trường hợp hiếp dâm còn bao hàm cả ý nghĩa bị mang thai về sau.
Họa nghề nghiệp
Từ chuyện trinh tiết trong phòng kín, tai họa bước ra ngoài xã hội, nơi chiếc ghế, chức tước và quyền hành có thể mất đi chỉ trong một hạn xấu.
Sự nghiệp do người tạo ra. Những mối họa cá nhân, bệnh nặng hay đại tật đều di lụy đến nghề nghiệp. Vì vậy, họa cho nghề nghiệp liên quan nhiều đến họa cho cá nhân, bệnh tật ách.
Mặt khác, vì tài sản đi liền với nghề nghiệp cho nên họa về tài sản trực tiếp ảnh hưởng đến nghề nghiệp, nhất là đối với những nhà buôn, thương gia, kỹ nghệ gia sống bằng tài sản.
Kỳ dư, nội dung của họa nghề nghiệp liên quan đến chức tước, quyền hành, công danh, hiểu theo nghĩa quan cách.
- Bị chết vì nghề nghiệp, gọi là sinh nghề tử nghiệp, như quân nhân tử trận, công chức cán bộ tử nạn vì công vụ.
- Bị cách chức, tước mất quyền hành nghề.
- Bị đè nén, chèn ép, không thi thố được tài năng.
- Bị bất dụng, sai dụng hay thiểu dụng.
- Bị những trở ngại khác, bắt nguồn từ những nguyên nhân của thời cuộc.
Hai hình thái đầu đã được đề cập trong đoạn trước nói về họa binh đao, họa ngục tụng. Hai loại họa này được qui chiếu cho nghề nghiệp nếu họa cách đóng hay chiếu vào cung Quan, hoặc những họa cách đó đi chung với sao quí, quyền, sao dũng. Ta chỉ cần đề cập đến những hình thái họa còn lại.
Cách chức, thôi việc
Xem việc huyền chức, cần lưu ý :
- Xem cung Quan và ba cung chiếu Quan, coi như tiên quyết để giải đoán tốt, xấu.
- Quan tâm đến sao quan cách, như Hóa, Quyền, Quốc Ấn, Phong Cáo, Thai Phụ, Đường Phù, Quan Đới, Tướng Quân, Thiên Mã, Lộc Tồn, Tang Hổ ở Dần, Khốc Hư ở Tý, Ngọ.
- Quan tâm đến các sao chủ về thay đổi như Thiên Mã, Lưu Thiên Mã, Thiên Đồng, Đại Hao, Tiểu Hao.
- Đặc biệt quan tâm đến các chính tinh vì hầu hết chính tinh đều có nghĩa quan lộc. Cần cân nhắc trường hợp hãm địa của chính tinh. Riêng những chính tinh có ý nghĩa quan lộc một cách trực tiếp như Tử, Dương, Liêm, Tướng, Sát, Phủ nếu bị hãm thì quan cách bị liên luỵ.
- Quan tâm đến sự trùng phùng của đại, tiểu hạn xấu, thường ảnh hưởng nặng thêm cho quan cách.
- Quan tâm đến những số có Thân cư Quan.
Ngoài ra, việc bị cách chức không phải xảy ra triền miên, mà chỉ ứng vào một hạn nào mà thôi. Do đó chính tinh cung Hạn mới là nơi giúp ta quyết đoán thời điểm bất lợi.
Tuần, Triệt ở cung Quan
Nói một cách tổng quát, cung Quan có Tuần, hay Triệt hoặc Tuần, Triệt đồng cung thường gây trắc trở cho quan trường bằng nhiều hình thái : chậm công danh, công danh vất vả và thấp kém, không bền vững, thăng giáng thất thường. Sao Triệt nặng hơn sao Tuần, báo hiệu sự gãy đổ ít nhất một lần trong sự nghiệp. Sao Tuần tác họa nhẹ hơn nhưng lâu dài hơn. Gặp cả Tuần, Triệt đồng cung thì tai họa nghề nghiệp vừa nặng, vừa nhiều.
Nhưng, đi sâu vào chi tiết, phải phân biệt bốn trường hợp khá phức tạp :
- Tuần, Triệt gặp Âm, Dương, ở Sửu, Mùi không phá mà làm vượng quan.
- Tuần, Triệt gặp Sát, Phá, Liêm, Tham hãm tối hay bại tinh mờ ám cũng làm vượng quan.
- Tuần, Triệt gặp Tử, Phủ, Cự, Nhật, Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương sáng sủa thì bất lợi cho chức vụ rất nhiều như chậm quan, chóng tàn, gặp hung họa, thăng giáng thất thường. Nếu tám sao trên mà hãm địa thì khá hơn, tức là gặp khó khăn, thất thường trong việc thăng tiến, nhưng tựu chung có chức vị khá lớn, nhất là về sau.
- Tuần, Triệt gặp Sát, Phá, Liêm, Tham đắc địa cũng còn đỡ khổ, không đáng lo ngại về sự thăng giáng hay gãy đổ sự nghiệp. Nếu hãm địa thì lại đẹp : công danh bộc phát mạnh mẽ.
Cung Quan vô chính diệu, cần có Tuần, Triệt, trấn thủ tại đó mới hay. Bằng không thì dễ sa sút, nhất là khi gặp phải sát, hình, hao bại tinh hay ám tinh. Nếu chính tinh xung chiếu mà sáng sủa thì còn khá ngược lại, nếu mờ tối thì bất lợi.
Riêng với Thiên tướng gặp Tuần, Triệt thì cho dù được đắc địa, quan chức không những bị truất giáng mà còn dễ chết thảm khốc. Tướng Quân gặp Tuần, Triệt cũng lâm vào họa hại như thế.
Không, Kiếp
Dù đắc hay hãm địa, hai sao này chỉ sự thăng trầm, lên voi, xuống chó. Hãm địa thì càng nguy, chắc chắn phải ít ra một lần mất chức nhục nhã, bị đổi xa vì kỷ luật, chưa kể những hung họa dẫy đầy, dễ chết vì binh lửa, chiến nạn. Như vậy, sự gián đoạn chức vụ có thể bắt nguồn từ 2 nguyên nhân bị chết hoặc bị cách chức. Còn những họa nhỏ khác như vất vả, đè nén, đố ky thì khỏi kể.
Tai họa công vụ của Không, Kiếp cũng còn do tật xấu của chính mình. Người có Không, Kiếp và có lá số xấu thường xử sự bằng thủ đoạn, bá đạo, ám muội, phi pháp, kiểu như tham lận, cướp của hối lộ, tham nhũng, buôn lậu, biển thủ, đưa đến việc mất chức.
Thiên hình, Thiên tướng, Tuần, Triệt
Hình hãm địa ở Quan có ý nghĩa gián đoạn công vụ vì bị ngục tụng, những tai bay vạ gió làm cho viên chức phải bị liên luỵ trong quan trường, chẳng hạn như bị khiển trách, bị điều tra, bị ngưng chức, bị truy tố, bị sa thải. Nếu đi với sát tinh thì dễ bị hình tù vì Thiên Hình chỉ hình phạt, bằng kỷ luật hay bằng tòa án.
Cho dù Hình gặp Tuần hay Triệt, ngục tụng cũng khó tránh vì trong trường hợp này, Hình ví như thanh kiếm gãy, ngụ ý uy quyền bị gián đoạn. Cũng đồng nghĩa đó nếu Hình đi với Thiên Tướng ở cung Quan : quân nhân có thể bị xử tử hoặc tối thiểu cũng bị giáng cấp, huyền chức vì lỗi, viên chức có thể bị sa thải và xuống trận. Nếu có thêm Thiên Khôi vào, có thể bị mất đầu (Thiên Khôi là cái đầu). Nhưng, dù sao Thiên Hình ở Quan là hình thương đến công vụ.
Ý nghĩa này vẫn tồn tại nếu Hình đi chung với Liêm Trinh, với Quan Phù, Thái Tuế, Quan Phủ, với Hóa Ky, với Cự Môn hãm địa... trong bộ sao nói về hình ngục trình bày ở mục trên.
Hóa Quyền, Thiên hình hay Tuần, Triệt
Hóa Quyền tượng trưng cho quan tước. Gặp Hình hay Tuần, Triệt thì có gián đoạn công vụ, thông thường là bị bãi nhiệm bị đổi chỗ hoặc phải thôi việc. Nếu có chức phận thì cũng không giữ được lâu bền, phải từ bỏ vì một nguyên nhân nào đó.
Những sao đồng nghĩa với Hóa Quyền mà gặp một trong ba sao này cũng rơi vào tai họa tương tự. Đó là các bộ sao :
- Quốc ấn, Thiên hình hay Tuần, Triệt
- Phong cáo, Thiên hình hay Tuần, Triệt
- Thái dương hãm, Thiên hình hay Tuần, Triệt
Thông thường, ý nghĩa mất việc chỉ rõ ràng nếu bộ sao này đóng đồng cung ở Quan Lộc. Nếu chỉ hội chiếu, thì việc mất chức không rõ ràng lắm, chỉ có thể là tự ý thôi việc mà thôi.
Có một số quý tinh khác như Thai Phụ, Đường Phù gặp Tuần, Triệt hay Hình không đến nỗi nặng lắm, có thể có nghĩa như hụt thăng trật, hụt huy chương, có tên trong danh sách tranh thăng nhưng giờ chót bị xóa...
Tuế, Đà, Ky
Ba sao này hội ở cung Quan chỉ mọi sự xui xẻo liên tiếp do sự tố cáo, chỉ trích, vu khống, xuyên tạc, đố ky, cạnh tranh làm cản trở bước tiến quan lộc, từ đó có thể đưa đến sự thôi việc, sự thay đổi công việc.
Vì có Đà La, bộ sao này cho thấy có sự tranh cãi, gây lộn, ăn thua, khiếu nại, có khi ẩu đả giữa đồng nghiệp, xô xát với cấp chỉ huy để rồi cuối cùng gián đoạn công vụ.
Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc
