Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Quan niệm cách Quý và bảy cung định đoạt đường công danh

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề30/09/202612 phút đọc3 lượt đọc
Quan niệm cách Quý và bảy cung định đoạt đường công danh

Giữa Phú và Quý, người xưa trọng Quý nhiều hơn, bởi không phải ai muốn cũng có được địa vị giữa chốn quan trường. Khoa Lý số học dựng hẳn một hệ thống bảy cung để đo đường công danh ấy, nhưng chỉ một cung lên tiếng trực tiếp nhất. Và ngay từ ngôi sao đứng đầu bàn số, cách quân thần khánh hội đã hé lộ ai mới thật sự có phần...


Lý do Lý số học đề cao chữ Quý

Trong tư duy của người Trung Hoa xưa, đàn ông thành đạt hay không được cân bằng hai đầu Phú và Quý. Sinh ra làm trai mà muốn được kể là hiển đạt thì phải gom đủ ba thứ: tiếng tăm, của cải và một vị trí trong xã hội. Tuy vậy, hai chữ ấy không nặng ngang nhau; người xưa chuộng Quý hơn Phú, vì tiền bạc còn có thể kiếm bằng đủ mọi lối, trong khi ngôi vị và danh phận không phải ai muốn là được. Thói chuộng ấy hình thành từ nhiều nguyên do chồng lên nhau, và nguyên do đầu tiên nằm ngay trong kết cấu của xã hội quân chủ đương thời.

Trung Hoa cổ vận hành dưới thể chế quân chủ, phong kiến. Thể chế này nuôi dưỡng một tầng lớp quan lại đông đúc, cầm quyền hành và thế lực, khiến họ trở thành cái đích mà bất cứ ai mong tiến thân đều hướng tới. Nho giáo, nền tảng triết học và đạo học của chế độ quân chủ, còn làm sức hấp dẫn ấy tăng lên khi coi nghĩa tôn quân là điều đứng đầu, đồng thời xem việc ra làm quan là thiên chức, một sứ mạng cao quý dành cho hàng kẻ sĩ.

Khổng Tử là người dọn đường cho lối nghĩ đó. Ngài đi khắp các nước để xin làm quan, rồi trở về quê dạy học trò lập thân bằng chính trị và hành chính; xét đến cùng, việc giáo dục của Khổng Tử chính là giáo dục chính trị. Mạnh Tử kế thừa, và cả hai bậc thầy đều để lại sách vở nhằm phổ biến điều mình học cùng chí hướng mình ấp ủ. Từ đấy hình thành dần một thang giá trị mới, lấy học hành và thi cử làm nấc thang leo vào quan trường. Người ta chen nhau đi học chỉ với mong ước ra làm quan, và theo đà ấy, ông thầy cùng kẻ sĩ đèn sách cũng được kính trọng lây. Nho giáo đặt người thầy ngay dưới vua, còn kẻ sĩ đứng đầu mọi tầng lớp. Quan, thầy, sĩ là ba hạng người được xã hội đề cao hơn cả.

Lý số học ra đời trong không khí ấy, nên tiếp nhận nguyên vẹn lối nghĩ của thời mình. Một lá số dành riêng hẳn một cung cho việc xem xét đường công danh cả đời, đó là cung Quan Lộc, mà tên gọi "Quan Lộc" đã nói thẳng chuyện làm quan. Vậy nên khi bàn đến "chữ Quan trong Lý số học", trước hết phải hiểu là nghề chính trị và hành chính, chưa phải nghề nghiệp nói chung như cách hiểu rộng ra về sau, khi các ngành buôn bán, kỹ nghệ, nông nghiệp hay nghề tự do ngoài quan trường cũng được tính vào.

Cần nói thêm cho minh bạch: những sao quý cách sắp liệt kê chủ yếu cho thấy địa vị xã hội, chức quyền và phẩm tước của người làm trong ngành hành pháp, tư pháp, nghĩa là quan cách theo nghĩa hẹp; các nghề khác sẽ được luận ở một chỗ khác. Thêm nữa, thời trước chỉ đàn ông mới có cơ hội gây dựng công danh, còn phụ nữ hầu như chỉ loanh quanh chuyện bếp núc gia đình, nên phần lớn quan cách ở đây thiên về nam số. Ngày nay nhiều phụ nữ học vấn và tài tổ chức không thua nam giới; khi xem số cho những người nữ có chức phận, vẫn phải quay lại xét kỹ cung Quan.

Bảy cung cùng nói về đường công danh

Quan cách của Lý số học không tập trung tại một điểm mà dàn trải ở nhiều cung, nhiều sao. Số cung liên can tới việc luận quý cách lên đến bảy: Quan, Phúc, Mệnh, Di, Tài, Phu Thê, Nô. Trong số này, chỉ cung Quan có nghĩa trực tiếp nhất; sáu cung kia làm nhiệm vụ bổ khuyết và soi rọi thêm.

Cung Quan, tiếng nói quyết định

Muốn luận trọn một đời làm quan, mọi chi tiết cần thiết đều tụ về đây: làm quan văn hay võ; chức tước cao thấp thế nào; đắc quan sớm hay muộn, nắm thực quyền hay chỉ hư danh; có được tin dùng không, cấp trên có nâng đỡ và thuộc hạ có phò tá không; uy tín trước dân chúng ra sao, gặp thời hay lỡ vận, tư cách con người làm quan thế nào; kế đó là bổng lộc thu về, cảnh giàu nghèo, mức tiện nghi của nhà cửa; và cả những lúc thăng trầm, biến cố, thậm chí bệnh tật phát sinh từ chính nghề nghiệp. Chẳng cung nào gói được hết chừng ấy điều, song cung Quan luôn phải được tra xét đầu tiên để nắm được điểm then chốt và nổi bật nhất; xong xuôi, người luận số mới sang các cung khác tìm những chỗ bổ sung.

Cần lưu ý rằng nhiều người chưa từng vào quan trường mà lá số vẫn có sẵn quý cách. Với những trường hợp này, nên hiểu cung Quan như nghề nghiệp nói chung, nghĩa là xét sang nghề riêng mà đương số đang làm, không nhất thiết phải là nơi công quyền.

Cung Phúc, bù đắp hoặc khoét sâu

Vì cung Phúc chế ngự cung Quan nên tự thân cũng mang sắc thái quan lộc, đặc biệt ở nam số. Phúc đẹp thì giúp san bớt điều xấu ở cung Quan; nếu Phúc còn hội nhiều quan cách thì công danh càng thêm thuận lợi. Trái lại, Phúc xấu không hẳn chỉ giáng vào quan lộc, mà có thể làm hỏng cả những địa hạt khác của cuộc đời. Chỉ khi Phúc và Quan cùng xấu, họa mới đổ dồn cả vào đường công danh. Tóm lại, cung Phúc chỉ là yếu tố tăng giảm, không quyết định; người cầm cân vẫn là cung Quan.

Cung Mệnh, cung Thân, càng về sau càng rõ

Mệnh có tam hợp chiếu thẳng sang cung Quan, nên tác động trực tiếp hơn Phúc. Thế nhưng Thân còn hệ trọng hơn nữa, vì Thân ứng với giai đoạn dựng nên công danh. Đến lúc này sự nghiệp của một người mới thành hình rõ ràng, khi họ đã có một nghề tương đối vững và sẽ theo nghề đó lâu dài. Có thể coi Thân như cung Quan thứ hai.

Khi Thân trùng hợp đóng ngay tại cung Quan, nghĩa quan lộc của Thân được nhân mạnh lên: toàn bộ quãng đường quan trường trở thành nhân tố định đoạt sự nghiệp của đương số. Nếu Thân nằm ở cung khác, màu sắc quan lộc sẽ biến đổi theo cung đó. Thân tại Thiên Di báo hiệu công việc di chuyển, nhiều biến đổi, có thể phải sống xa quê; Thân tại Tài cho biết nghề nghiệp dính tới tài chính, kinh tế; Thân tại Thê (nam số) cho biết người vợ có tác động cụ thể hơn đến quan trường, khi ấy cung Quan và cung Thê gần như đan vào nhau, vợ chồng cùng góp sức xây nghiệp, thậm chí làm chung một nghề. Vài nữ số có Thân tại Phu cũng là chuyện thường gặp, hợp cách, và ý nghĩa giống trường hợp Thân tại Thê của nam số.

Cung Tài, thước đo giàu nghèo khi làm quan

Xét theo quan lộc, cung Tài phản ánh kế sinh nhai trong quan trường, tức là người ấy khá giả hay túng thiếu khi vào chốn quan trường; ta có thể coi đây là phần "phú" ẩn bên trong "quý". Khi đương số chỉ đơn thuần ra làm quan, cung Tài giúp đoán được món lợi mà quan trường đem lại: Tài xấu là làm quan mà chẳng giàu; Tài tốt là lương bổng cao, hoặc được giao coi việc tài chính, kinh tế, hoặc chính bản thân giỏi xoay xở để sinh ra của cải.

Cung Di, thời vận và ngoại cảnh

Con đường quan trường chịu ảnh hưởng rất nặng từ thời thế và hoàn cảnh. Người tài đức mà lỡ nhịp thời vận thì tài năng dễ mai một hoặc nở muộn, rốt cuộc thành kẻ bất đắc chí. Cung Di là chỗ phản chiếu ngoại cảnh và thời vận đối với quan lộc. Dù không tam hợp chiếu cung Quan và cũng không kề bên, cung này vẫn có sức chi phối lớn. Di tốt sẽ đẩy quan lộc lên cao, tạo dịp cho tài năng được thi thố, và đem lại cả cái may hiếm có của việc gặp đúng thời.

Cung Phu Thê, vai trò người bạn đời

Cung này tam hợp chiếu thẳng vào cung Quan, vì thế nghĩa quan lộc thể hiện rất rõ và rất mạnh. Cung Phu Thê cho thấy phần đóng góp của người bạn đời vào sự nghiệp đương số, đồng thời cho thấy nghề riêng của người phối ngẫu; đôi khi đó chính là nghề thứ hai của mỗi người. Nếu các quý tinh tọa thủ ở Phu Thê, ấy là người phối ngẫu có nghề riêng hoặc trực tiếp giúp sức cho sự nghiệp của bạn đời, dấu hiệu của cách vượng phu, vượng thê. Với nam số có Thân ở Thê, nghĩa quan lộc của Thê thêm cụ thể: Quan và Thê gắn bó như một, tức hai vợ chồng cùng làm việc và cùng vun đắp cho cơ nghiệp chung.

Cung Nô, nhân sự và thuộc cấp

Cung Nô nói về tôi tớ, bằng hữu, đồng liêu và người dưới quyền, tóm lại là phần nhân sự trong quan trường, tức sự trợ lực của bạn bè và thuộc cấp trên bước đường công danh. Cung Nô đẹp thì chức vụ càng nặng, kẻ giúp việc càng nhiều và càng giỏi. Từng có người bảo Nô tốt là đương số phải đi làm công cho bạn; cách hiểu ấy chỉ đúng trong trường hợp cả Mệnh lẫn Quan đều xấu, phải dựa vào bạn bè mới tiến thân được. Nếu cả hai cung kia đều tốt thì phải luận ngược: đương số có nhiều cộng sự đắc lực, nhiều người thuộc quyền dưới trướng, như sĩ quan chỉ huy quân lính, thầy giáo đông học trò giỏi, ông chủ có nhiều thợ làm dưới tay.

Bảy cung nói trên chỉ mới dựng khung để xác định vị trí của đường công danh. Muốn biết quan cách cao thấp, vinh hiển tới đâu, phải nhìn tiếp vào những ngôi sao ngự ở các cung ấy, và ngôi sao đáng nhắc trước tiên chính là vị đế tinh đứng đầu cả lá số.

Chủ Tinh, quý tinh đứng đầu trong quan cách

Hễ chính tinh đắc địa tại cung Quan thì ít nhiều đã kéo theo quý cách, nghiêng về văn hoặc về võ. Nhưng giữa hàng chính tinh ấy, có một số sao nghĩa quan lộc vượt trội hẳn, đó là những quyền tinh, quý tinh, dũng tinh, bất kể tọa ở Quan hay ở Mệnh, Thân, Di, Tài.

Dẫn đầu là Tử Vi, Chủ Tinh của toàn lá số. Đắc địa tại cung Quan, Chủ Tinh bao giờ cũng hàm nghĩa quyền quý. Là đế tinh, Tử Vi được xem như quý tinh quan trọng nhất, biểu trưng cho sự hiển đạt ở cả văn lẫn võ, hoặc gồm cả hai.

Chủ Tinh đắc địa tại cung Quan chỉ người có cơ hội chỉ huy, đủ điều kiện nắm những chức vụ hệ trọng trong bộ máy công quyền, nhiều thuộc hạ dưới quyền, có tài lãnh đạo và bản lĩnh khiến người khác phải nể phục. Địa vị quan lộc cao thấp còn phụ thuộc sao ở thế miếu hay chỉ đắc địa: càng đắc sâu, chức tước càng cao. Ở trường hợp này, Chủ Tinh tương ứng với công chức hoặc quân nhân cấp cao.

Khi Chủ Tinh được nhiều quyền tinh, dũng tinh theo hầu, chức quyền càng lớn và lực lượng trợ giúp càng đông, tựa như vị vua được đủ lương thần, hảo tướng phò tá. Người xưa gọi thế là cách quân thần khánh hội, tương ứng với những viên chức điều hành chính trị, cầm đầu hành chính ở trung ương hay địa phương, hoặc quân nhân nắm binh quyền. Trợ tinh càng đông, uy quyền càng rực rỡ: quan văn cần văn tinh phù trợ, quan võ cần võ tinh phù trợ.

Đảo lại, khi vắng bóng trợ tinh, Chủ Tinh chỉ dừng ở hạng viên chức hay sĩ quan cao cấp làm công việc tham mưu, phục vụ trong một ngành chuyên môn, ít dịp trực tiếp cầm quyền hay cầm quân; nếu có thì cũng chỉ chỉ huy được một số người hạn hẹp và không giữ được lâu. Đó có thể là kiểu mưu sĩ, chuyên gia, làm cố vấn, góp ý vào quyết định chứ hiếm khi tự mình quyết đoán công việc.

Có quan điểm cho rằng Chủ Tinh chỉ thật sự uy lực nếu có Tả Phù, Hữu Bật kề cận, tựa cảnh vua có "tiền hô hậu ủng". Nói vậy là tôn hai sao Tả Hữu lên hơi quá mức, bởi thực tế nhiều phụ tinh khác cũng giúp Chủ Tinh thêm uy lực chẳng kém, như Phục Binh, Thiên Hình, Thiên Tướng, Tướng Ấn, Mã, Thiên Quan, Thiên Phúc... Nghĩa là sức mạnh của quý tinh đứng đầu lá số không gói trong một hai bộ sao nhất định, mà lệ thuộc cả dàn phụ tinh xung quanh; điều này còn được bàn tiếp khi nói đến những chính tinh khác cũng mang nghĩa quan lộc trực tiếp.

Rộng hơn nữa, cách quân thần khánh hội của Chủ Tinh cũng soi lại đúng bức tranh xã hội đã phác từ đầu bài: một triều đình vững chãi không thể chỉ có nhà vua đơn độc, mà cần văn thần võ tướng quây quanh thì công việc trị nước mới trọn vẹn. Lá số của người có Chủ Tinh tọa thủ cung Quan cũng chuyển vận theo lẽ ấy: trợ tinh tốt tụ càng nhiều, người đó càng đủ điều kiện gánh vác việc lớn, thu hút được nhiều bậc tài giỏi dưới trướng, thay vì phải lẻ loi xoay xở giữa chốn quan trường.

Nguồn: Hi Di Trần Đoàn với nền văn hóa Trung Hoa đời Tống (Dương Thành biên soạn).

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề