Bài tổng quan
Chính tinh tại cung Quan: sao làm quan văn, sao làm quan võ
Thất Sát hợp với binh chủng dù, thủy quân lục chiến, lối đánh ồ ạt tràn ngập bằng hỏa lực; còn Vũ Khúc lại giỏi ngồi sau bàn mưu tính hơn là xông pha trận mạc. Cùng ngồi ở cung Quan mà mỗi sao mang một phong cách làm việc riêng biệt. Vậy Tham Lang và Phá Quân thì sao…
Liêm Trinh ở cung Quan
Cùng ngồi ở cung Quan, mỗi sao lại mang một phong cách làm việc riêng: có sao đứng trước hàng quân, có sao ngồi sau bàn mưu tính.
Sao này đắc địa trở lên chủ về quan lộc, giống như Thái Dương, cho nên tọa thủ ở quan lộc rất hợp vị.
Liêm Trinh chủ yếu chỉ võ nghiệp, nhưng cũng có khi kiêm nhiếp cả chính trị, nếu đóng ở hai cung Dần, Thân. Đây là người làm việc bán văn bán võ. Đi với sao Tử chỉ võ nghiệp.
Cái hay của Liêm về quan lộc bắt nguồn trước hết từ khả năng toàn diện đó. Trong cả hai ngành đều sáng chói, hiển đạt trong thời chiến lẫn thời bình, nhờ ở tài thao lược, khả năng thích ứng với nhiều hoàn cảnh. Ngoài ra, Liêm Trinh đắc địa ở Dần, Thân còn ban cho sao này những điều tốt đẹp để thành công: đó là sự liêm khiết, thẳng thắn, mực thước. Viên chức hay quân nhân có Liêm ở quan lộc tại Dần, Thân rất trong sạch, có đạo đức, không chịu làm điều trái phép, trái lương tâm chức nghiệp. Đạo đức và tài năng toàn diện kể trên khiến cho Liêm Trinh đắc dụng trong mọi thời đại, loạn cũng như trị. Đó là những người tối cần cho công vụ.
Những đặc điểm này khiến cho Liêm Trinh gần như đồng nghĩa với Thái Dương. Nhưng cả hai sao này có lẽ kém hơn Tử Vi đắc địa trong lãnh vực quyền biến. Người có Tử Vi sáng sủa ở Quan, dám làm những điều bất nghĩa tùy đòi hỏi của thời thế. Trái lại, Liêm và Dương thì câu nệ nguyên tắc và đạo lý, thẳng thắn, mực thước có kỹ luật, cho nên bị đóng khung trong những ràng buộc của luật lệ, của lương tâm. Tử Vi đối phó theo thời thế, Liêm và Nhật phản ứng theo khuôn sáo của thể lệ và đạo nghĩa. Trong ý nghĩa này, Liêm, Dương kém tác dụng hơn Tử Vi.
Nếu Liêm Trinh mà đi với Thiên Tướng chỉ sự chính trực càng nổi bật. Viên chức có Liêm Trinh dùng pháp trị để chi phối thời thế và tự chi phối lấy mình, ít chịu ra ngoài khuôn thước, coi đó như một điều kiện của trật tự xã hội. Tử Vi đôi khi bạo và liều hơn, mạo hiểm hơn. Nếu có cả ba sao trên hội chiếu thì cá nhân dung hòa được các khuyết điểm của mỗi sao, từ đó đắc dụng trong nhiều hoàn cảnh. Tùy theo sao đó đóng ở Quan, xu hướng của sao đó nổi bật hơn.
Liêm Trinh hãm địa ở Quan báo hiệu chức vụ nhỏ, thấp, thường gặp chung sự trong công vụ, đặc biệt là hình thù.
Thiên Tướng ở cung Quan
Liêm Trinh giữ phép, còn Thiên Tướng thì sinh ra để cầm phép trong tay và đem trật tự tới cho thiên hạ.
Sao này là quyền tinh, dũng tinh, thích hợp với ngành võ. Càng đắc địa, công danh càng sáng chói.
Thiên Tướng là người đảm đang, tháo vát, có chí khí lớn, nhất là có ý thức công bằng, bình đẳng rất cao, có hoài bão mang trật tự cho xã hội. Theo nguyên nghĩa, Thiên Tướng là vị tướng của trời được phái làm công việc cứu độ, dẹp loạn, mang lại bình trị cho thiên hạ. Cho nên quyền lực của Thiên Tướng đắc địa rất hiển hách, khả năng cũng thao lược, rất giỏi chấp hành mệnh lệnh, chế phục cường đồ. Về mặt công vụ, Thiên Tướng là lương thần, hảo tướng được tín nhiệm, trọng dụng, có quyền uy lại đôn hậu và kỷ luật.
Vì thế, Thiên Tướng đi kèm với Tử Vi rất đắc cách cung Quan. Đó là người vừa có tài lãnh đạo vừa có tài thừa hành, dám làm, dám quyết, có khí phách hơn người, có hoài bão cao xa. Nhưng cặp sao này nói lên tính tự phụ và khuynh hướng ái quyền. Hai đặc điểm này bắt nguồn từ Tử Vi mà có, chớ riêng sao Thiên Tướng thì kỷ luật và tuân phục. Tử Tướng đồng cung có tài và có tham vọng lãnh đạo chỉ huy.
Nếu Thiên Tướng được Tướng Quân xung chiếu hay ngược lại thì rất hiển đạt trong võ nghiệp (cách xuất tướng, nhập tướng).
Thất Sát ở cung Quan
Từ vị tướng của trời, đến người lính xung phong nơi hỏa tuyến — Thất Sát không chịu ngồi yên sau lưng trận địa.
Sát là sao quyền, sao dũng, hợp với cách làm quan võ. Người có Thất Sát ở Quan là quân nhân.
Vì đặc tính cố hữu của Thất Sát là can đảm, nóng nảy, uy dũng, sát phạt cho nên Thất Sát thích hợp với loại quân nhân cầm binh xuất trận, đi tiên phong, nghênh địch ở vùng hỏa tuyến. Vốn tích cực và hiếu động, đặt tính chiến thuật của Sát là tấn công ở tiền tuyến, cho nên sao này không thích hợp với trách nhiệm phòng thủ ở hậu phương. Đơn vị phục vụ tối hảo của sao này là binh chủng dù, thủy quân lục chiến hay bộ binh chiến đấu, thiết giáp với lối đánh ồ ạt tràn ngập bằng hỏa lực để tái lập chủ quyền trong một thời gian ngắn. Quân nhân nào có đức tính của Thất Sát sẽ không thích hợp với chiến tranh du kích, đánh nhỏ, đánh tiêu hao, đánh trường kỳ.
Lẽ dĩ nhiên, Sát không đắc dụng trong ngành tham mưu, nhất là ngành chính trị, hành chánh.
Đi liền với nhiều trợ tinh tốt, ý nghĩa quyền dũng càng rõ rệt hơn. Đó là loại sĩ quan có binh lính dưới trướng, có khả năng tác chiến cao, lập được nhiều chiến công trên trận địa. Điển hình nhất là bộ sao Thất Sát – Hóa Quyền.
Thiên Phủ ở cung Quan
Rời mặt trận, ta bước vào nơi giữ kho tàng của quốc gia.
Phủ là quyền tinh, chỉ cách làm quan văn. Đồng thời, Phủ cũng là tài tinh nên nghề làm quan liên hệ đến tài chánh. Viên chức có Phủ đóng ở Quan có thể làm ngân hàng, thuế vụ, ngân khố, tín dụng hoặc những công việc có dính líu đến ngân sách, có trách nhiệm chi tiêu, phát lạc tiền bạc, kiểm soát công ngân.
Nếu Phủ miếu vượng địa, chức vụ tài chánh sẽ cao hơn trường hợp Phủ đắc địa. Nếu có thêm phụ tinh tốt, nhất là trợ tinh và tài tinh, đương số có thể là người đứng đầu cơ quan tài chánh. Bằng không, sẽ có nghĩa là tiền bạc, giàu có hơn các đồng nghiệp khác.
Những chính tinh có nghĩa quan lộc gián tiếp
Còn những sao không phải quý tinh, quyền tinh hay dũng tinh — cách làm quan của chúng mờ hơn, nhưng vẫn để lại dấu.
Sở dĩ gọi là quan lộc gián tiếp vì những sao kể dưới đây không phải là quý tinh, quyền tinh hay dũng tinh cho nên cách làm quan không được rõ ràng. Tuy nhiên, vì chính tinh nào đắc địa cũng có ít nhiều ý nghĩa quan tước nên cũng cần liệt kê để biết rõ.
Vũ Khúc
Vũ là sao tài đúng nghĩa. Nhưng nếu miếu địa ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, vượng địa ở Dần, Thân, Tỵ, Ngọ, đắc địa ở Mão, Dậu thì cũng đắc quý cách. Trong trường hợp này, Vũ chỉ võ nghiệp, cao hay thấp tùy thế miếu vượng hay đắc địa. Đặc biệt nếu Vũ đi cùng với các sao võ như Tướng, Sát, Phá, Tham thì binh nghiệp rõ ràng hơn. Đi với Văn Khúc thì có tài cả về văn lẫn võ.
Trong các trường hợp đắc địa, Vũ là người có chí lớn, có tài thao lược, tính toán giỏi, dám mưu đại sự, lại can đảm, quả cảm. Vũ Khúc có binh cách của một chiến lược gia, định trù quyết sách nhiều hơn là xông pha trận mạc. Đây là ngôi sao tham mưu, đánh giặc bằng mưu lược nhiều hơn là binh đao hỏa lực. Cho nên, quân nhân có Vũ Khúc ở Quan sẽ đắc dụng trong ngành tham mưu hơn là tác chiến. Về điểm này, Vũ đối chọi với Thất Sát và Thiên Tướng, vốn là hai sao võ cách xung phong, sát phạt, điều binh, thi hành kế hoạch. Nếu Vũ đi cùng với Tướng hay Sát thì sĩ quan đó kiêm cả tham mưu lẫn tác chiến, vừa có dũng vừa có mưu.
Nếu hãm địa, năng tài của Vũ Khúc bị phai mờ, hoặc kém cỏi, hoặc không có chỗ dụng, hoặc thất bại.
Trong trường hợp đơn thủ, hoặc đồng cung với Phủ, Vũ Khúc làm quan văn, coi về ngành kinh tế rất đắc dụng. Đó là người có tài kinh doanh mang lợi lộc cho quốc gia, vận dụng tiền bạc giỏi, biết bắt mạch và khai thác cơ hội. Giữa Vũ và Phủ, có lẽ Phủ chỉ ngành tài chánh (vì Phủ là kho của trời), Vũ chỉ ngành kinh tế. Nhưng sự phân biệt không mấy gì làm rõ rệt lắm. Nếu cả hai đồng cung thì đương số có tài về cả hai lãnh vực.
Trong bất cứ trường hợp đắc địa nào, Vũ cũng là người có tiền bạc dư dã.
Tham Lang
Đây là một trong những sao võ cách. Trừ phi miếu địa ở Thìn, Tuất thì hiển đạt, còn ở các vị trí khác, Tham Lang tầm thường, có thể nói là bất tài, hám lợi.
Ngay trong trường hợp đắc dụng, sĩ quan có Tham Lang ở Quan có nhiều nết xấu, từ tính hiếu thắng, tự phụ cho đến tính hình thức, ham vui, bê trễ, nhất là lòng tham dưới nhiều khía cạnh (tiền bạc, tửu sắc). Đây là quân nhân có nhiều nhược điểm.
Duy nếu Tham miếu địa đi với Linh hay Hỏa miếu địa thì lại rất hay cho võ nghiệp.
Phá Quân
Phá Quân là võ tinh, một yếu tố làm quan võ. Quan có Phá miếu vượng và đắc địa thì can đảm, hoạt động, nhưng hiếu thắng, tự kiêu, mưu cơ, gian trá và nhất là bất nhân. Những đức tính này cần cho quan võ, nhưng cũng làm cho quan cách trở thành bá đạo, làm cho đời người dễ gặp hung sự, tai họa. Mặt khác, bản chất của Phá Quân ở Quan là không được trung tín, hay lấn lướt người trên.
Có thể nói Phá và Tham là hai sao tệ nhất trong võ cách Sát Phá Liêm Tham, dù là đắc địa. Còn nếu miếu và vượng địa thì đỡ hơn. Trong trường hợp hãm địa, quan cách của Phá Quân rất tầm thường, hay gặp tai nạn khó thoát, hay hại người và bị người hại.
Thái Âm
Thái Âm là phú tinh, chỉ điền trạch. Nếu sáng sủa, Âm cũng có quan cách, nhưng không rực rỡ bằng Thái Dương. Tuy nhiên, người tuổi Âm, sinh ban đêm, lúc thượng huyền (trăng lên) có Thái Âm sáng sủa ở Quan thì quý cách rực rỡ hơn người tuổi Dương, sinh ban ngày. Nếu có thêm trợ tinh thì càng sáng lạng: đó là trường hợp người sớm phát đạt, toại ý, vừa có danh, vừa có lợi. Nếu là tuổi Dương và sinh ban ngày thì công danh có ít, lợi lộc nhiều hơn.
Thái Âm chỉ cách làm quan văn, đặc biệt là những lãnh vực văn chương, giáo dục, nghệ thuật. Nam số và nữ số đều cùng giống tình trạng.
Nếu hãm địa, quan cách tầm thường, chậm phát, thường gặp những hoàn cảnh không toại ý, thiếu cơ hội thi thố tài năng.
Nếu Âm Dương đồng cung ở Sửu, Mùi thì có lộc, nhưng không quý hiển. Muốn đắc quý, phải có Tuần, Triệt án ngữ hay Hóa Kỵ đồng cung.
Thiên Đồng
Đồng là phúc tinh chỉ nghĩa quan lộc nếu đắc địa trở lên thông thường, sao này chỉ văn cách, nhưng riêng ở Mão thì văn võ kiêm toàn. Đồng chỉ thật sự quý hiển nếu ở cung Tý, cung Dần hay cung Thân.
Trong mọi trường hợp, Đồng chỉ loại viên chức làm việc lưu động, thường hay đổi công việc, cụ thể như thanh tra, đại sứ, liên lạc viên, giao liên hoặc gặp hoàn cảnh phải đổi nghề, đổi chỗ làm tương đối nhanh chóng.
Đồng cung với Nguyệt ở Tý, Đồng cũng lỗi lạc.
Nếu hãm địa, quan cách nhỏ thấp, thăng giáng thất thường và bất đắc trong nghề nghiệp.
Thiên Lương
Thiên Lương là cách quan văn. Đắc địa trở lên, Thiên Lương là người có tài mưu sĩ, cố vấn, khuyến cáo đường lối, chiến lược, chính sách, đặc biệt là khi đóng ở Thìn, Tuất (đồng cung với Thiên Cơ) hay ở Mão (đồng cung với Thái Dương). Ở những vị trí này, Lương là người hay tìm tòi, hiếu học, có khả năng nghiên cứu và thiết kế các chương trình lớn nhất, rất hợp với công việc tham mưu. Nếu có khoa bảng thì công danh rất sáng chói, được ở cạnh chức quyền cao cấp.
Nếu Lương ở Sửu, Mùi thì quan cách tầm thường. Còn hãm địa ở Tỵ, Hợi, chức vị càng thấp, tính tình phóng đãng, hay thay đổi chí hướng, ưa phiêu lưu, không toại chí, phải bôn ba lưu lạc, tha phương cầu thực. Trường hợp đồng cung với Nhật ở Dậu, ý nghĩa cũng tương tự.
Cự Môn
Miếu, vượng và đắc địa, sao này chỉ quan văn, đặc biệt là chính trị gia hoặc nhà ngoại giao. Sao này rất thích hợp cho quan tòa, trạng sư, giáo sư, dân biểu, nghị sĩ, những người có học lực uyên bác, năng khiếu hùng biện, thiên về chính trị.
Viên chức có Cự Môn sáng sủa thường có hoài bão cải tạo xã hội, có ý chí muốn làm việc lớn, có xu hướng chính trị cấp tiến, muốn thay đổi hoàn cảnh chớ không bảo thủ, chấp nệ hiện trạng. Do đó, Cự Môn đắc địa thường là người bất mãn hiện tại, nhưng lại không chịu thúc thủ chờ thời, trái lại muốn đóng góp để tạo thời thế. Chỉ khi nào hãm địa, Cự Môn mới là người bất đắc chí, bất mãn mà bất lực, thường bị tụng ngục, kìm hãm không hoạt động được.
Đi chung với Thiên Cơ ở Mão, Dậu, đi chung với Thái Dương ở Dần, Thân, thì quan chức cao, có cả phú lẫn quý cách.
Nếu hãm địa ở Tỵ thì quan cách nhỏ, ở Hợi cao vọng, thường bất mãn, ở Thìn, Tuất tuy có tài và có chức phận cao trong hậu vận, nhưng thường gặp thị phi, đố kỵ, cạnh tranh, gièm xiểm.
Thiên Cơ
Sao quan văn, Thiên Cơ là kỹ, kỹ thuật, sự tinh xảo trong ngành chuyên môn, đặc biệt là máy móc. Nghề của Cơ có thể là kỹ sư, kỹ nghệ. Ngoài ra, Cơ trong bộ sao Cơ Nguyệt Đồng Lương chỉ nghề công chức, quan lại, cụ thể là ngành y khoa hay dược khoa.
Đồng cung với Cự Môn ở Mão, Dậu, đồng cung với Thiên Lương ở Thìn, Tuất, Thiên Cơ là viên chức tham mưu, giỏi về kế hoạch, chính tinh, xảo, tinh thục, có lương tâm chức nghiệp cao.
Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc
