Bài tổng quan
Giàu nghèo trong Tứ trụ: tài tinh là hỉ hay là kị
Hai đứa trẻ chào đời cùng lúc: một đứa trên thuyền giữa sông nước, một đứa bên lò rèn đỏ lửa. Hai mươi năm sau, đứa đầu đỗ đạt làm quan, đứa sau vẫn đứng cầm búa bên lò. Cùng một Tứ trụ lửa vượng mà nơi chốn đã đổi cả số phận, vậy tiền của đến hay đi rốt cuộc phụ thuộc vào điều gì...
Mục lục · 6 phần
- 01Cách cục theo chi tháng: có chỗ đúng, cũng có chỗ chênh
- 02Quy luật chung và nét riêng: vì sao Tứ trụ đoán được giàu nghèo
- 03Giàu đến mức nào, sang đến mức nào
- 04Nơi sinh, nghề nghiệp và tên gọi: những cách bổ cứu cho mệnh thiên lệch
- 05Giàu nghèo xoay quanh tài tinh: là hỉ hay là kị
- 06Những kiểu nghèo thường gặp trong Tứ trụ
Cách cục theo chi tháng: có chỗ đúng, cũng có chỗ chênh
Từ xưa, bàn chuyện giàu sang nghèo hèn là bàn theo cách cục. Có những cách cục dùng được, có những cách cục phải được bổ sung theo bước đi của xã hội. Người xưa thường lấy khí gốc của chi tháng để định cách cho mệnh: cách thương quan, cách chính quan và những cách tương tự. Có nơi lại lấy thế của khí mà đặt cách đặc biệt, như dùng cách, khí cách, hóa cách; có cách quý thể, cách tỉnh lan cho mệnh đại phú quý; có nơi lấy thần sắc để định cách, như cách kim thần, cách lộc, kình tương.
Với các cách phổ thông, việc chọn cách theo chi tháng có chỗ đúng nhưng cũng nhiều chỗ mâu thuẫn. Người xưa có ý lấy dụng thần làm trung tâm; nếu dụng thần không hiện ở chi tháng thì dùng cách cục của chi tháng, thứ khắc chính dụng thần, để làm thuốc cứu mệnh. Làm vậy chẳng khác nào cầm mâu của mình đâm vào thuẫn của mình, người nhà đánh người nhà.
Lại nữa, bàn mệnh phải lấy nhật can làm chủ, nhật can mạnh hay yếu phải dựa vào sự cân bằng tổng hợp của mọi can chi trong Tứ trụ. Chỉ nhìn vào lệnh tháng mà nhật can không đắc lực, không được trợ giúp, không được sinh phù thì thực chất là có khí mà không có lực, tức là yếu. Mệnh cục vốn phải bàn một cách toàn cục; chọn cách mà chỉ dựa vào chi tháng thì Tứ trụ mất hết ý nghĩa, và dự đoán thiếu toàn diện như vậy là thiếu trách nhiệm.
Quy luật chung và nét riêng: vì sao Tứ trụ đoán được giàu nghèo
Thầy Thiệu Vĩ Hoa kể rằng để đáp lại đông đảo người mới nhập môn, ông từng mở lớp hàm thụ trên toàn quốc. Muốn thử xem nếu không kết hợp tướng mặt, tướng tay, chỉ biết ngày giờ sinh và đọc Tứ trụ thì chính xác đến đâu, ông đã đoán rồi viết ra giấy cho hơn hai trăm học viên. Theo thư phản hồi, mỗi thư đạt độ chính xác từ chín mươi phần trăm trở lên; trung bình mỗi thư đoán chừng ba mươi điều về quá khứ, mức sai chỉ từ một đến ba điều. Chỉ có ba thư lệch nhiều. Nhưng nếu người hỏi khai sai ngày giờ sinh, hoặc không nhớ rõ việc đã xảy ra, thì chưa thể nói là đoán sai. Với người luyện khí công hoặc làm nghề đặc biệt, tức là họ đã tự điều chỉnh vận khí hậu thiên, cũng không thể gọi là sai; nếu có thêm tướng mặt, tướng tay thì độ chính xác còn cao hơn.
Điều ấy cho thấy dù cách cục Tứ trụ nhiều và phức tạp, vẫn có quy luật chung và đặc điểm riêng. Quy luật chung là: căn cứ vào can ngày mạnh hay yếu, dụng thần có lực hay không để thấy giàu nghèo, sang hèn. Khác với lối bàn mệnh đơn giản kiểu phụ họa, hễ cùng năm sinh là cùng gặp may rủi, những kết luận này rút ra từ tổ hợp năm, tháng, ngày, giờ của từng người và đã được thực tế kiểm nghiệm.
Nét riêng là, trên nền quy luật chung ấy, phải phân biệt tổ hợp Tứ trụ của người này khác người kia nhiều hay ít. Nhờ đó mới giải thích được vì sao cùng ngày giờ sinh mà người này suôn sẻ thành công, người kia gian nan tai họa.
Còn cách cục đặc biệt thì dành cho những Tứ trụ thiên khô, tổ hợp xấu nhiều hơn tốt: thường chỉ có hai hoặc ba ngũ hành, hoặc cực vượng hay cực nhược, hoặc vận trình không có cứu, có trường hợp là mệnh không nuôi được. Những mệnh ấy là mệnh ngõ cụt, càng đi càng tối, và cách chọn dụng thần cho chúng ngược hẳn với cách người mới học thường dùng, nên rất dễ lạc đường. Loại cách cục ấy vừa hiếm gặp, vừa chưa ai nghiên cứu đến tận cùng, nên chưa phải chỗ để người mới nhập môn dừng chân. Cứ nắm vững những điều căn bản, rồi từ từ tự mình khám phá và kiểm chứng.
Giàu đến mức nào, sang đến mức nào
Người đi xem thường hỏi: tôi giàu thì giàu đến đâu, sang thì sang đến đâu? Câu hỏi này cần có vật so sánh mới trả lời rõ được. Trước hết, mỗi xã hội chỉ cho phép con người giàu trong một giới hạn nhất định: không ai được phép sở hữu cơ nghiệp đủ làm khuynh đảo nền kinh tế quốc gia, và sang đến mấy cũng không thể làm hoàng đế.
Giàu sang nghèo hèn còn gồm cả thọ yểu, cát hung, con cháu hiếu thuận hay không, đời sau có phúc hay không. Nói cho đủ thì đó là phạm vi của phúc, lộc và thọ. Con người không thoát khỏi cái ăn chỗ ở, nên người thường lấy giàu làm vinh, người làm quan lấy sang làm trọng. Tài là nguồn nuôi mệnh, quan là gốc lập mệnh. Quan lại có cao có thấp, có quyền có ấn mới là quan vinh hiển. Tài sinh quan, quan che chở cho tài; quan sinh ấn, ấn che chở cho quan. Vì thế có đủ tài, quan, ấn là dấu hiệu của chức cao lộc hậu.
Người nào ngũ hành sinh khắc hợp lý, dụng thần có lực thì không chỉ đủ phúc lộc thọ mà còn chức cao, ngôi rõ. Nhưng mấy ai toàn diện được như thế; Tứ trụ như vậy rất ít.
Người đời lại thường chỉ thấy mặt phú quý của người khác, ít ai biết quá trình gian khổ họ đã đi qua. Thực tế họ từng chịu áp lực và khó khăn gấp trăm lần người bình thường. Lúc họ ngẩng đầu lên được là lúc dụng thần phát huy tác dụng; lúc rủi ro khốn khó là lúc dụng thần đang bị khắc, cuộc sống treo trên đầu sợi tóc. Mệnh phú quý có dụng thần có lực, nhưng thường nghiêng về cực vượng hoặc cực nhược, nên đời lên xuống dữ dội, ít khi bằng phẳng. Người thiên về vượng, tuy gặp khó nhưng nỗ lực hậu thiên nhiều, khi chuyển sang vận tốt sẽ đón được cát tinh chiếu xuống. Người thiên về nhược, gặp vận tốt cũng khá giả, uy phong vẫn nổi. Hai loại mệnh này thể hiện rõ nguyên lý có thuốc cứu là quý.
Còn mệnh cục tốt, dụng thần vượng không bị khắc, tổ hợp Tứ trụ tốt đều lại gặp vận tốt thì mới là phú quý song toàn, mới là trung hòa vi quý chân chính. Trong hàng triệu người chưa chắc có một. Người như thế ngoài mệnh của mình còn có âm phúc tổ tiên, phong thủy, tướng mặt, tướng tay đều đặc biệt. Tất cả ấy gắn với vận khí của các thiên thể trong vũ trụ, cộng thêm ảnh hưởng của hoàn cảnh xã hội và vận hội quốc gia.
Nơi sinh, nghề nghiệp và tên gọi: những cách bổ cứu cho mệnh thiên lệch
Một câu chuyện cũ kể về viên thái thú ở Hà Trung. Khi còn nghèo, ông có người bạn đoán mệnh rất nghiệm, thường nói: có quan mà không có lộc, cố gắng đến mấy cũng không được. Thái thú cho đó là lời hoang đường, cứ ra công đèn sách, thi đâu đỗ đó. Người bạn hối hận vì nghiên cứu chưa sâu, bèn tìm một thầy cao hơn. Thầy ấy nói: ngày thái thú sinh có sao văn khúc chiếu, thiên trù hóa giải, nếu sinh ở chỗ văn minh thì nhất định quý hiển. Hỏi lại mẹ ông, bà nói hôm sinh ông là lúc hoàng hôn trên đường chạy nạn, không có chỗ nghỉ nên sinh ông ngay ngoài cửa sổ một ngôi nhà. Giờ sinh ấy gặp thiên thời địa lợi.
Chuyện thứ hai xảy ra đời Khang Hi nhà Thanh. Một viên quan sinh con trên thuyền, và biết lúc đó có một gia đình trên bờ cũng sinh con. Hai mươi năm sau, ông về thăm quê, tìm hỏi con nhà thợ rèn giờ ra sao, đến nơi thì thấy chàng thanh niên đang cầm búa đứng rèn. Viên quan nói với bạn bè rằng Tứ trụ con ông hỏa khí rất thịnh, nhưng may sinh trên sông nước nên được thủy khí bổ cứu mà thành đạt. Con nhà thợ rèn hỏa khí trong mệnh cũng rất thịnh, lại sinh ngay bên lò lửa, hỏa thịnh còn gặp hỏa, không có thủy điều hòa, nên mệnh không được bổ cứu.
Ngày nay loại mệnh như vậy gặp rất nhiều. Có người, khi thầy Thiệu Vĩ Hoa xem, thấy trong Tứ trụ thổ nhiều mà không bị chế, nhưng vẫn là mệnh phú quý bền, ông bảo: nếu anh ở trong quân đội chừng mười năm thì mới điều chỉnh được vận xấu để thành đạt. Người ấy lập tức thừa nhận. Ý của thầy là màu xanh quân phục, môi trường màu xanh của quân đội cùng kỷ luật nghiêm ngặt chính là sự bổ cứu cho thổ nhiều. Người đó làm sĩ quan, khi chuyển ra ngoài thì bắt đầu gặp vận tốt, nên tuổi trẻ tránh được nhiều trắc trở, đời thuận lợi đi lên.
Có những Tứ trụ thiên nhược hoặc thiên vượng, khi đoán thầy đều đề nghị đổi tên để bổ cứu. Có người đến, nói tên ra rồi tra lại Tứ trụ thì thấy chính cái tên đã sẵn bổ cứu, chứng tỏ họ lúc nhỏ từng được xem mệnh; hiện nay người ấy vẫn giàu sang thành đạt, cho thấy sự bổ cứu có tác dụng.
Giàu nghèo xoay quanh tài tinh: là hỉ hay là kị
Xem giàu nghèo phải trọng tài tinh, vì mọi phán đoán về giàu nghèo đều dựa vào đó. Nhưng trong mệnh, tài nhiều chưa chắc đã giàu, thậm chí có thể nghèo; ngược lại tài ít hoặc không có tài cũng chưa chắc đã nghèo, thậm chí có thể giàu. Điều then chốt là tài tinh ấy là hỉ hay kị, có nguồn gốc từ đâu, có đầy đủ trọn vẹn không, có lợi cho mình không.
Thân vượng dùng tài: bốn điều kiện để giàu
Thân vượng thì tài mới có thể làm dụng thần, và như vậy mới có khả năng giàu. Có bốn trường hợp. Thứ nhất, tài là dụng thần có lực, không bị khắc, hợp, xung: giàu nhất. Thứ hai, ấn là kị thần, tài là dụng thần làm tổn ấn; thân và tài đều thỏa đáng thì giàu. Thứ ba, ấn nặng, quan suy, tài nắm lệnh; tài làm dụng thần tổn được ấn, lại nhờ quan suy nên tài không bị chuyển hóa, vì thế giàu. Thứ tư, ấn vượng, thực thương nhẹ, tài tinh được cách cục; tài cục đối địch được ấn vượng, mà nhật chủ cần ấn vượng sinh thân để gánh được tài lớn.
Tài là hỉ thần và chuyện tài ẩn
Khi tài là hỉ thần, tức tài sinh cho dụng thần là quan, tài cần vượng, có lực, không bị khắc, hợp, xung, phá thì mới sinh được quan. Thân vượng, tài và quan tương sinh là phú quý song toàn.
Có sách giải thích ám tài là trong mệnh có tài ẩn, có thực thương sinh tài. Cách giải ấy không hợp lý. Mệnh không có tài là mệnh nghèo, mệnh thầy tu. Có những nhà cự phú khi còn nghèo chỉ vì mệnh không có tài, lại chưa gặp vận tài; đến khi tài của vận được lệnh, có lực, chẳng hạn vận thực thương gặp năm tài, thì khởi sắc, giàu rất nhanh. Nhưng người như vậy, khi vận ấy đi qua, tài không còn phát mạnh nữa. Cho nên người trong mệnh không có tài mà giàu thường là người thân vượng gặp tài của vận thực thương. Cụ thể có hai dạng: thân vượng, tỉ kiếp vượng, thực thương vượng, tài ấn suy; khi tài là dụng thần, tỉ kiếp sinh thực thương, thực thương vượng sinh tài, ấn suy nên không hại được thực thương, tài vận nhờ thực thương sinh mà giàu. Dạng kia là thân vượng, có tài khí thông thương: tài vượng lại được thực thương sinh nên nguồn rất dồi dào.
Các trường hợp thân vượng, tài vượng khác
Tài vượng sinh quan, quan lại bảo vệ tài, dụng thần tài gánh nổi tài; ngoài ra cần ấn và tỉ sinh khắc chế hóa hợp lý. Nếu thân vượng, ấn vượng, quan nhẹ, thì ấn che chở quan. Thân, tài, quan, ấn đều đủ là vừa giàu vừa sang. Quan vượng bảo hộ tài nhược, hay quan nhược được tài vượng sinh, hoặc ấn nhược mà quan vượng sinh, ấn vượng bảo hộ quan nhược: có trường hợp phú quý song toàn, có trường hợp quý mạnh nắm thực quyền. Khi nào là được che chở, khi nào là được sinh, chính là mấu chốt cân bằng Tứ trụ, và điều quyết định là dụng thần cùng nhật chủ đều có lực.
Tài nặng, thực thương ít, dụng thần tài gánh nổi, lại cần ấn kiếp sinh khắc chế hóa hợp lý. Thân vượng, ấn nhẹ thì thân và tài ngang nhau. Có thực thương hoặc có quan sát, tài nắm lệnh; dụng thần tài tinh vừa vượng vừa có nguồn, hoặc quan sát bảo vệ tài để tài không bị cướp, đồng thời thân và tài đều nhau thì mới giàu.
Thân nhược: dùng ấn hay dùng tỉ kiếp
Thân nhược dùng ấn: dùng ấn và tài gắn chặt nhau để sinh quan, mà tài quan không bị phá; ấn sinh thân lại còn ngăn được thực thương làm xì hơi mình. Ví dụ nhật nhược, ấn vượng, tài quan không bị phá thì có ích, gặp vận ấn thụ phúc lộc thọ đều có. Hoặc thực thương nặng, có tài tinh, quan không bị phá: tài xì hơi thực thương mà sinh quan, quan sinh ấn, ấn sinh thân, nghĩa là mượn tài tinh làm đường thông cho sinh hóa; tài, quan không bị phá là ngũ hành đều đặn hợp lý nên giàu sang.
Thân nhược dùng tỉ kiếp: tỉ kiếp nhiều có thể gánh được tài vượng mà giàu; gặp vận tỉ kiếp sẽ phát lớn.
Những kiểu nghèo thường gặp trong Tứ trụ
Dụng thần là tài mà tài bị phá nặng: thân vượng nhờ tài vốn đang giàu, nhưng tài làm dụng thần bị xung, hợp, khắc nên hóa nghèo. Tài là hỉ thần bị phá: thân vượng, quan không vượng, lấy quan hoặc sát làm dụng thần, tài là hỉ thần mà bị xung hợp khắc, dụng thần mất nguồn, tài không sinh nổi quan thì chẳng thể nói giàu sang.
Tài là kị thần, dụng thần bị phá: thân nhược đáng ra dụng thần phải giúp thân, hoặc là ấn hoặc là tỉ kiếp. Quan sát vượng, gặp tài cục hoặc tài vượng có lợi cho quan sát thì tài thành kị thần; thân quá yếu không thắng nổi tài quan vượng nên nghèo. Thực thương nhiều mà dụng thần là ấn, tài được thực thương sinh lại phá ấn thành kị thần; khi tài là kị thần, dụng thần bị khắc nên nghèo. Tài là kị thần vượng, dụng thần là ấn, tài phá ấn nên nghèo.
Khi tài tinh không trung hòa cũng sinh nghèo. Thân nhược, tài mạnh, nhật chủ không thắng nổi tài; người thân nhược trong mệnh không nên gặp tài vượng, gặp là tai họa ập đến. Thân nhược, dụng thần là kiếp, quan tinh lại chế kiếp, kiếp bị khống chế khiến thân càng nhược, không gánh nổi tài nên nghèo. Thân nhược, tài nặng mà thực thương cũng nặng, thực thương xì hơi thân, sinh tài, thân không gánh được nên nghèo. Thân vượng, tài yếu, thực thương không xuất hiện: tài yếu lại không nguồn, huynh đệ tỉ kiếp tranh nhau cướp nên mất tài. Thân vượng là hỉ của thực thương nhưng tài nhẹ, ấn vượng: mệnh có thực thương lẽ ra sinh được tài, nhưng ấn kiếp chế thực thương nên ấn kiếp thành kị thần, tài nhẹ không được sinh nên nghèo. Thân vượng, quan sát càng vượng, tài nhẹ: thần khắc chế càng vượng thì mình càng yếu, tài đã nhẹ lại bị quan sát xì hết, gọi là kị thần quan sát vượng làm xì hơi tài nên nghèo.
Thân bị xì hơi quá mức cũng vậy: thực thương nặng, thân nhược, ấn nhẹ mà ấn là dụng thần, dụng thần vô lực không chế nổi thực thương, thực thương mạnh sinh tài, thân nhược không gánh nổi tài nên nghèo.
Còn một số kiểu nghèo khác, hơi khác nhau về tính chất. Ấn là dụng thần, tài tinh phá ấn, nhưng quan tinh sinh hóa hợp lý và cứu được ấn thì tuy nghèo mà sang. Quan sát vượng, thân nhược, tài tinh sinh trợ cho quan sát, nhờ có ấn nên dễ ra làm quan nhưng vẫn nghèo. Tài nhiều, thân gánh không nổi, cái giúp thân được chọn làm dụng thần mà chẳng có ích bao nhiêu thì vẫn nghèo. Thân vượng, có ấn, thực thương vượng xì hơi ấn nên không có tài: đó là hạng thư sinh nghèo, bần nho.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
