Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Dụng thần của thân nhược và thân vượng, từng bậc từng hành

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc01/10/202618 phút đọc3 lượt đọc
Dụng thần của thân nhược và thân vượng, từng bậc từng hành

Một lá số yếu mà bị quan sát vây quanh như người ốm bị mũi tên bắn từ bốn phía; một lá số vượng mà ấn chồng ấn như nước đầy tràn cốc. Hai thế ngược nhau thì thuốc cũng ngược nhau. Nhưng thuốc nào phải dùng trước, thuốc nào chỉ là phương án thứ hai…


Nhật can yếu mà quan sát dày đặc: ấn là phương thuốc đầu tiên

Khi nhật can đã yếu lại còn bị nhiều quan sát khắc, dụng thần đầu tiên nên chọn là ấn tinh. Việc ấn làm trước hết là rút bớt sức của quan sát, sau đó mới là biến kẻ địch thành bạn để có ích cho mình.

"Xì hơi" trong ngũ hành có nghĩa là thế này: kim mạnh gặp thủy thì thủy dũa cùn mũi sắc của kim; hỏa mạnh gặp thổ thì thổ làm yếu ngọn lửa; thủy mạnh gặp mộc thì mộc làm giảm khí thế của thủy; thổ mạnh gặp kim thì kim rút bớt thổ; mộc mạnh gặp hỏa thì hỏa làm yếu tính ngoan cường của mộc. Phải dũa cùn khí sắc, làm tiêu giảm ngọn lửa, làm xẹp khí thế của đối thủ trước, thì mới gọi được là biến nó để sinh thân.

Theo lẽ thường, kim sinh thủy nhưng thủy nhiều thì kim chìm; thủy sinh mộc nhưng mộc nhiều thì thủy bị dồn co lại; mộc sinh hỏa nhưng hỏa nhiều thì mộc bị đốt cháy; hỏa sinh thổ nhưng thổ nhiều thì hỏa mờ ám; thổ sinh kim nhưng kim nhiều thì thổ yếu đi. Đó là quy luật vật đến cực đỉnh tất quay trở lại. Nhưng khi nhật can đã rất yếu, lại bị nhiều quan sát khắc, thì chỉ làm xẹp cái khí bệnh là chưa đủ để mình mạnh lên, mà còn cần được đại bổ. Lúc ấy thủy không làm chìm kim, mộc không dồn co thủy, hỏa không đốt cháy mộc, mà còn khiến kim thủy đùm bọc nhau, thủy mộc tương sinh, mộc hỏa thông suốt. Như thế gọi là uốn nắn cái vượng quá cho vừa mức.

Cho nên nhật can nhược là thủy, thổ là cái khắc tôi, thì không chỉ lấy kim để chế áp thổ mà còn dùng kim sinh thân cho tôi. Nhật can nhược là hỏa, thủy là cái khắc tôi, thì lấy mộc vừa làm xẹp thế thủy vừa sinh thân. Nhật can nhược là thổ, mộc khắc tôi, thì lấy hỏa vừa hóa tính ngoan cố của mộc vừa sinh thân. Nhật can nhược là kim, hỏa khắc tôi, thì lấy thổ vừa giảm lửa vừa sinh thân. Nhật can nhược là mộc, kim khắc tôi, thì lấy thủy vừa dũa tù mũi kim vừa sinh thân.

Điều ấy giống như người bên trong hỏa vượng lại còn âm hư. Mâu thuẫn ấy không dễ giải, nên dùng sâm để vừa xì hơi của hỏa vừa tư dưỡng chỗ âm hư, mâu thuẫn nhờ vậy được điều hòa. Đúng như xem bệnh bốc thuốc: bệnh nặng dùng thuốc mạnh; nhật can yếu lại nhiều quan sát thì hóa giải là tốt nhất, hết bệnh mà còn khỏe thêm.

Khi hóa địch thành bạn không đủ sức

Nếu nhật can nhược lại nhiều quan sát mà cách hóa địch thành bạn không hữu hiệu thì Tứ trụ ấy thiếu dụng thần. Phải tìm đường khác để chặn bớt những mũi tên đang bắn vào mình. Dụng thần thứ hai khi ấy là tỉ kiếp. Tỉ kiếp như một tấm khiên dày chắc, vừa chắn được những sao khắc mình vừa hộ thân cho mình.

Phàm nhật can nhược mà bị nhiều quan sát khắc, tài thì hao, thực thương thì xì hơi, đều là biểu hiện dụng thần yếu. Nếu gặp được sự sinh khắc hóa hợp của mười thần tạo thành tổ hợp tốt thì lá số có cứu. Nếu không thì đành trông nhờ hỉ thần thay dụng thần, và cuối cùng là dựa vào vận để bổ cứu.

Nhật can nhược là mộc thì không chịu nổi sự chặt phá, nhưng mộc nhiều thành rừng thì chịu được. Nhật can nhược là kim thì không thắng nổi sự rèn dũa, nhưng hợp kim cứng sẽ thành thép chịu được. Nhật can nhược là hỏa thì không chịu được dập tắt, nhưng hỏa cháy khắp cánh đồng thì khó mà dập. Nhật can nhược là thủy thì không thắng được sự tắc nghẽn, nhưng dòng nước chảy xiết sẽ đẩy trôi mọi ách tắc. Nhật can nhược là thổ thì không thắng được cây dày, nhưng thổ đất bằng thì thắng được.

Trong lá số nhật can nhược, quan sát vượng, dụng thần tỉ kiếp kém hơn dụng thần ấn tinh. Xét về vận trình, đến vận ấn kiêu là gặp được dụng thần mà lá số đang thiếu, bổ cứu đúng chỗ khuyết, nên là vận tốt nhất. Vận tỉ kiếp chỉ là vận tốt loại hai.

Nhật can yếu mà tài nhiều: tỉ kiếp đứng ra giữ của

Nhật can nhược, tài tinh nhiều giống người tham của, châu báu đeo đầy mình nhưng đáng tiếc thân thể ốm yếu không giữ nổi. Khi bị cướp mà muốn lấy lại, phải nhờ người đi đường hoặc bạn bè giúp. Còn nếu muốn tự lấy lại thì bản thân phải đủ sức vật lộn mà không bị tổn thương, nếu không thì nhẹ là mất của, nặng là mang vạ vào thân, mất cả chì lẫn chài. Cho nên tỉ kiếp, kiếp tài có thể bổ cứu chỗ thiếu của thân nhược mà tài nhiều.

Tài và tỉ kiếp vốn là một cặp khắc nhau, vậy tại sao lại lấy một ví dụ nghe không hay như thế? Chỉ vì thân nhược tài nhiều thì không những không gánh nổi tài, cầu tài gian lao vất vả, mà của cải đến tay thường là mầm tai họa. Với loại mệnh cục này, của cải chính là nguồn gốc tai họa.

Qua nhiều lần dự đoán thực tế, khi đến vận tài vượng sinh tài, nếu mệnh cục tổ hợp tốt thì về nhân phẩm không có vấn đề gì, đường tài lộc cũng phát triển dễ dàng, có người còn có bản lĩnh kinh doanh. Nhưng lúc bắt đầu được của cũng là lúc người bị ngã xe, hoặc xe hàng đổ, cuối cùng tiền của ấy dồn vào việc bồi thường mà hết. Nếu mệnh cục tổ hợp không tốt thì dễ thành tay cờ bạc. Khi thắng được nhiều tiền trên chiếu bạc cũng là lúc mất hết cả vốn lẫn lời, thậm chí tan nát gia đình. Người thân nhược tài nhiều, nói gọn là vì của cải mà sinh sự, kể cả thê tài. Phụ nữ có mệnh cục như thế thì đường tình duyên kẻ đón người đưa, nhưng phải trả giá rất đắt, thậm chí có thể bị ngồi tù.

Vậy khi nào mới thắng được tài? Chỉ khi hành vận kiếp tài mới thắng được tài. Nhật can nhược là hỏa, kim là tài vượng thì phải dùng hỏa vượng để luyện kim. Nhật can nhược là thủy, hỏa là tài vượng thì phải có thủy nhiều để tương tế. Nhật can nhược là thổ, thủy là tài vượng thì phải dùng thổ nhiều để vây chặn thủy. Nhật can nhược là mộc, thổ là tài vượng thì phải dùng mộc nhiều thành rừng xanh để lấn át thổ. Nhật can nhược là kim, mộc là tài vượng thì phải dùng kiếm sắc để đẽo gọt mộc. Hành vận tỉ kiếp thì không những tự mình thăng quan phát tài mà anh chị em cũng được lợi lộc. Thứ đến là hành vận ấn kiêu.

Không có tỉ kiếp thì dùng ấn thay

Nhật nhược tài nhiều mà trong mệnh không có tỉ kiếp thì ấn tinh là dụng thần thứ hai, thay cho dụng thần thứ nhất. Khi đó ấn tinh và nhật can có quan hệ tương sinh, nên trước hết ấn có tác dụng sinh thân. Nhật can đã yếu quá lại gặp kị thần tài tinh thì đã yếu càng thêm yếu, giống như trời đã tuyết còn thêm sương, nhà dột lại gặp mưa lâu. Muốn Tứ trụ đạt được cân bằng thì phải nắn cái vượng quá cho vừa mức; mọi trường hợp chọn dụng thần ở đây đều xuất phát từ lẽ ấy.

Chọn ấn tinh làm dụng thần cho nhật nhược, tài nhiều còn có tác dụng làm hao tài. Nhưng tài khắc ấn cũng giống như dùng người này đánh người kia, cả hai đều tổn thương, không bằng dùng tỉ kiếp giúp thân đánh thắng. Nói cách khác, nếu mình cường tráng thì không cần nhờ người khác liên lụy vì mình. Vì thế ấn tinh chỉ có thể chọn làm dụng thần thứ hai, lực kém hơn dụng thần tỉ kiếp có sẵn trong mệnh. Trong các vận trình thì vận tỉ kiếp tốt nhất, có thể trở nên giàu có, mọi việc thuận lợi. Vận ấn kiêu là vận tốt loại hai, không những tốt cho đường tiền của mà còn có lợi cho đường văn khoa.

Nhật can nhược là kim, mộc là tài thịnh, có thể lấy thổ ấn tinh làm dụng thần để sinh thân, hao tài. Nhật can nhược là mộc, thổ là tài thịnh, lấy thủy ấn tinh. Nhật can nhược là thổ, thủy là tài thịnh, lấy hỏa ấn tinh. Nhật can nhược là thủy, hỏa là tài thịnh, lấy kim ấn tinh. Nhật can nhược là hỏa, kim là tài thịnh, lấy mộc ấn tinh.

Nhật can yếu mà thực thương nhiều: ấn vừa sinh vừa chặn

Ấn tinh vừa sinh thân, vừa khắc chế kị thần thương thực, tức là vừa đỡ chỗ yếu vừa chống chỗ xì hơi. Điều đó giống như đau bụng, tiêu chảy mà chỉ cầm đi ngoài thì chưa đủ, vì nguyên khí đã tổn thương nên còn cần bồi bổ thêm mới được; cho nên ấn tinh có tư cách nhất để chọn làm dụng thần.

Nhật can nhược là kim, thủy nhiều là thương thực, thân xì hơi quá nhiều thì lấy thổ ấn tinh chế áp thủy và sinh thân. Nhật can nhược là hỏa, thực thương là thổ nhiều, thân xì hơi quá nên lấy mộc ấn tinh chế áp thổ, sinh thân. Nhật can nhược là mộc, thực thương là hỏa nhiều, lấy thủy ấn tinh chế áp hỏa, sinh thân. Nhật can nhược là thổ, thực thương là kim nhiều, lấy hỏa ấn tinh chế áp kim, sinh thân. Nhật can nhược là thủy, thực thương là mộc nhiều, lấy kim ấn tinh chế áp mộc, sinh thân.

Nếu trong mệnh cục không có ấn tinh thì đành lùi lại tìm dụng thần thứ hai là tỉ kiếp. Ít nhất chỗ yếu của bản thân cũng được bù đắp. Nhật can nhược là kim, thực thương thủy nhiều, mừng có kim tỉ kiếp đến giúp thân. Nhật can nhược là hỏa, thương thực thổ nhiều, mừng có hỏa tỉ kiếp. Nhật can nhược là mộc, thương thực hỏa nhiều, mừng có mộc tỉ kiếp. Nhật can nhược là thổ, thương thực kim nhiều, mừng có thổ tỉ kiếp. Nhật can nhược là thủy, thương thực mộc nhiều, mừng có thủy tỉ kiếp.

Quá nhược hay quá vượng cũng đều có cái giá của nó

Mọi trường hợp trên đều là nhật can nhược lại bị khắc, bị hao, bị xì hơi. Ngược lại, khi nhật can vượng mà lại còn được sinh, được giúp thì càng vượng quá. Ai cũng biết vàng ròng vì nguyên chất quá nên càng mềm, nước đến miệng cốc đầy quá thì tràn.

Người nhật can quá nhược thì khí không đủ, tính cách là người không thích nói nhiều, hướng nội; về đường con cái thì khí huyết không đủ, âm dương không cân bằng nên khó có con. Ngược lại người thân vượng, khí thịnh thì hay tranh giành, hiếu thắng. Trong Tứ trụ, trụ năm vượng mà không bị xung khắc là người có cha mẹ mạnh khỏe, anh chị em thường đông. Với người thân vượng, nguyên lý cũng như thế: nhật can vượng thì phải chọn dụng thần để áp chế, hao tán, xì hơi cho giảm xuống.

Nhật can cường vượng mà ấn tinh dày: tài tinh vừa giữ vừa hao

Khi nhật can đã mạnh mà ấn tinh còn nhiều, dụng thần đầu tiên nên chọn là tài tinh. Tài tinh ở đây có hai việc: nó gánh được tài, cầu được tài, đồng thời áp chế nguyên thần của nhật can, tức ấn tinh, để ấn không sinh thân quá mức mà gây ra kiếp tài. Giữa nhật can và tài tinh vốn là quan hệ tương khắc.

Nhật can đã vượng lại được ấn tinh sinh thêm thì tài tinh trở nên quá yếu. Kim yếu gặp hỏa thì chảy tan, hỏa yếu gặp thủy thì tắt, thủy yếu gặp thổ thì tắc nghẽn, thổ yếu gặp mộc thì khô cằn, mộc yếu gặp kim thì gãy. Cho nên nhật can vượng là hỏa, được mộc ấn sinh thân càng cường vượng, thì dụng thần phải chọn kim tài để vừa chế áp ấn mộc vừa làm hao thân cường vượng. Nhật can vượng là thủy, được kim ấn sinh thân, thì dụng thần chọn hỏa tài, vừa chế ấn kim vừa hao tán sự cường vượng. Nhật can vượng là thổ, được hỏa ấn sinh thân, thì chọn thủy tài. Nhật can vượng là mộc, được thủy ấn sinh thân, thì chọn thổ tài. Nhật can vượng là kim, được thổ ấn sinh thân, thì chọn mộc tài.

Không có tài thì tìm quan sát

Nhật can cường vượng, nhiều ấn tinh mà lại không có tài thì mệnh cục thiếu dụng thần. Dụng thần thứ hai có thể lấy là quan sát, vì nó khắc chế được thân cường vượng. Thật ra chỉ khi ấn tinh không quá vượng mới dùng quan sát; nếu ấn tinh quá vượng thì tác dụng sinh thân của quan sinh ấn sẽ vượt hẳn tác dụng quan khắc thân, lúc đó kị thần đã làm thay rồi. Cách dùng linh hoạt này phải qua thực tiễn mới hiểu dần.

Nhật can vượng là kim lại có thổ ấn sinh thân làm thêm cường vượng thì lấy hỏa quan tinh để khắc kim thân. Nhật can vượng là hỏa lại có mộc ấn sinh thân thì lấy thủy quan tinh để khắc hỏa thân. Nhật can vượng là thổ lại có hỏa ấn sinh thân thì lấy mộc quan tinh để khắc thổ thân. Nhật can vượng là mộc lại có thủy ấn sinh thân thì lấy kim quan tinh để khắc mộc thân. Nhật can vượng là thủy lại có kim ấn sinh thân thì lấy thổ quan tinh để khắc thủy thân.

Không có cả tài lẫn quan sát thì dùng thực thương

Nếu cả tài tinh lẫn quan sát đều vắng mặt thì có thể chọn thực thương làm dụng thần. Tác dụng của nó là xì hơi nhật vượng và làm hao tổn sự cường vượng của ấn. Vì ấn là cái khắc thực thương, nên phải dựa vào nguyên thần là cái làm hao thân vượng để mong lá số biến động nhiều được bình ổn trở lại.

Nhật can vượng là kim, thổ ấn vượng khiến thân càng vượng thì lấy thủy thực thương để điều tiết. Nhật can vượng là hỏa, mộc ấn vượng thì lấy thổ thực thương. Nhật can vượng là thổ, hỏa ấn vượng thì lấy kim thực thương. Nhật can vượng là thủy, kim ấn vượng thì lấy mộc thực thương. Nhật can vượng là mộc, thủy ấn vượng thì lấy hỏa thực thương.

Nhật can cường vượng mà tỉ kiếp dày: quan sát đứng đầu

Trường hợp này có ba bậc dụng thần. Trước hết, tỉ kiếp là thần hao tài, nếu không áp chế tỉ kiếp thì không dưỡng được mệnh, càng không thể lấy tài sinh quan để cầu phú quý vinh hoa. Vì vậy quan sát là dụng thần thứ nhất để áp chế tỉ kiếp. Trong mệnh cục có quan hay sát thì không những áp chế được tỉ kiếp lộ trên các thiên can mà còn khắc được lộc, kình dương của lệnh tháng.

Thân vượng có hai nghĩa. Một là tỉ kiếp trên thiên can giúp thân, hoặc ấn tinh sinh thân quá mức. Hai là nhật can nắm lệnh, tức nhật can ở chi tháng gặp trường sinh, mộc dục, quan đới, lâm quan, đế vượng, nhất là chi tháng là đất kiến lộc của nhật can. Lấy nhật can giáp làm ví dụ: lộc của nó là dần, dần là địa nguyên của giáp, cùng loại ngang vai, nên so với các địa chi khác thì nó tàng khí gốc của nhân nguyên. Kình dương của giáp là mão, mão cũng là địa nguyên cùng loại ngang vai, trong chi tháng cũng tàng khí gốc của nhân nguyên.

Kình dương: khi thành công đến cực điểm

Kình dương là hung thần ác sát. "Dương" nghĩa là cứng, "kình" nghĩa là cắt, chặt mạnh mẽ. Lộc quá thì sinh kình dương, như người thành công quá, đáng lẽ nên lui mà không lui thì vượt mức nên bị hại. Vừa thành công mà chưa đến cực điểm mới là phúc, đã cực điểm thì ngược lại là xấu, tức kình dương đang ở đất cực thịnh của thiên can. Nguyên lý của âm dương vạn vật là cực thịnh thì biến xấu: lửa bị dập tắt, nước bị tràn, kim loại bị bẻ gãy, thổ bị vụn nát, mộc bị chặt đứt. Nhật can vượng bao gồm cả chi năm, chi ngày, chi giờ gặp lộc, kình dương; trong đó lộc, kình dương ở lệnh tháng là xấu nhất.

Trong lúc đoán thực tế, đã gặp hai trường hợp đều là nam thanh niên hai mươi tuổi, đều có kình dương ở lệnh tháng. Loại mệnh cục này làm cha mẹ luôn có điều lo lắng. Một người thường lang thang ngoài đường, đâm thuê chém mướn, vết thương đầy người, phải ra cửa tòa án, cha mẹ tìm mọi cách cứu giải. Đừng nói là gặp bại vận, chỉ cần lưu niên gặp kình dương cũng có thể xảy ra những việc bất ngờ. Người kia theo lý mà nói cũng chẳng khác, nhưng nhờ được khuyên nhập ngũ. Kỷ luật nghiêm ngặt của quân đội đã hạn chế cá tính của anh ta, thiên tính ngang ngược chuyển thành tố chất kiên quyết của người chỉ huy, nên anh ta được thăng cấp đều đều.

Quan sát theo từng hành của nhật can

Nhật can vượng là cường kim thì đầu tiên lấy hỏa quan tinh làm dụng thần. Nhật can vượng là cường hỏa thì lấy thủy quan tinh. Nhật can vượng là cường thổ thì lấy mộc quan tinh. Nhật can vượng là cường mộc thì lấy kim quan tinh. Nhật can vượng là cường thủy thì lấy thổ quan tinh.

Không có quan sát thì dùng thực thương

Nếu thân vượng mà không có quan sát thì đành lấy dụng thần thứ hai là thực thương, kém hơn một bậc. Thực thương xì hơi được thân vượng, đồng thời làm xẹp hơi vượng khí của lệnh tháng. Thực thương có tác dụng sinh tài, hơn nữa vì không có quan sát nên không sợ nó khắc dụng thần thứ nhất. Nhật can vượng là kim, không có hỏa quan tinh chế áp thì lấy thủy thực thương. Nhật can vượng là hỏa thì lấy thổ thực thương. Nhật can vượng là thổ, không có mộc quan tinh thì lấy kim thực thương. Nhật can vượng là thủy, không có thổ quan tinh thì lấy mộc thực thương. Nhật can vượng là mộc, không có kim quan tinh thì lấy hỏa thực thương.

Thiếu cả quan sát lẫn thực thương

Nếu thân vượng mà vừa không có quan sát vừa không có thực thương thì lá số đã thiếu mất hai hành, chỉ còn ấn tinh, tỉ tinh và tài tinh. Đó là Tứ trụ rất khô, ngoài tài tinh ra không còn gì có thể giải cứu. Người có Tứ trụ như thế thì nhất định khó nuôi hoặc chết yểu, không thể có trường hợp thứ tư.

Tiền đề để chọn dụng thần thứ ba chính là không có quan sát và không có thực thương, phải dựa vào tài tinh để chế áp ấn tinh và làm hao tổn thân. Dụng thần tài tinh này càng nhiều, càng vượng càng tốt. Vì thân vượng, ấn vượng đã là cả hai cái chất chồng lên nhau, lực so với tài rất chênh lệch, cho nên tài càng nhiều, càng vượng cũng không làm thân nhược. Tài càng ít, càng suy thì chắc chắn như cốc nước để trên xe, nước sánh ra rồi bốc hơi khô ngay.

Vì thế nhật can vượng là kim, có thổ ấn vượng sinh thân mà không có hỏa quan tinh để chế áp, không có thủy thực thương để xì hơi, thì phải lấy mộc tài tinh làm dụng thần. Nhật can vượng là hỏa, có mộc ấn sinh thân, không có thủy quan tinh và thổ thực thương, thì lấy kim tài tinh. Nhật can vượng là thổ, có hỏa ấn sinh thân, không có mộc quan tinh và kim thực thương, thì lấy thủy tài tinh. Nhật can vượng là thủy, có kim ấn sinh thân, không có thổ quan tinh và mộc thực thương, thì lấy hỏa tài tinh. Nhật can vượng là mộc, có thủy ấn sinh thân, không có kim quan tinh và hỏa thực thương, thì lấy thổ tài tinh.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc