Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Con mất sớm, con tật nguyền và nỗi lo từ mộ tổ trong Tứ trụ

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc02/10/202613 phút đọc2 lượt đọc
Con mất sớm, con tật nguyền và nỗi lo từ mộ tổ trong Tứ trụ

Một người đàn bà sinh bốn lần, bốn lần con đều mất: đứa đầu vừa sinh đã đi, đứa cuối được bốn mươi bảy ngày. Hai vợ chồng đi dò hỏi khắp nơi rồi tìm đến nhờ giải hạn, và cuối cùng một bé gái sống được. Cung con, sao con, hình xung của lệnh tháng, và cả một rãnh nước chảy thẳng vào mộ tổ, đều có tiếng nói riêng...


Một người đàn bà sinh bốn lần, bốn lần con đều mất: đứa đầu vừa sinh đã mất, đứa thứ hai sống được ba ngày, đứa thứ ba mất ngay, đứa thứ tư được bốn mươi bảy ngày rồi cũng đi. Nghe chuyện ai cũng đau lòng. Trong Tứ trụ, những nỗi mất mát như thế không đến từ hư không: cung con, sao con, hình xung của lệnh tháng và cả phần mộ tổ tiên đều có tiếng nói riêng.

Dấu hiệu con ít, con khó nuôi, con chịu bệnh tật

Sao con ở đất suy, bệnh, tử, mộ thì chắc chắn con ít, cô đơn, nghèo hèn. Trụ giờ có thương quan thì đường con cái khó khăn. Thương, thực nhiều thì khó có con. Tứ trụ có kiêu, ấn, thương thì cháu khắc bà nội. Thương quan gặp quan cũng khiến đường con cái gian nan. Ấn thụ, kiêu thần thì khó có con. Cung con ở hưu, tù, tử, tuyệt, bệnh thì có con cũng như không. Tứ trụ có quan sát mà đi đến vận thương, thực thì làm tổn thương con cái, qua vận ấy mới bình thường. Cung con gặp mộ thì con không bệnh tật nhiều cũng bị lao ngục, hoặc tàn phế khó nuôi. Mệnh nữ không có quan tinh mà thân vượng, ấn lại nhiều thì chắc chắn tổn thương con.

Tứ trụ của đứa con mà tài nhiều thì khắc cha mẹ, hoặc đó là con nuôi. Tứ trụ có thiên tài, thiên quan, thiên ấn thì là con nuôi, nếu không thì cũng là đứa thứ ba, thứ tư về cuối. Vận đến đất thương quan thì khắc con cái. Thương quan làm hại con cái, về sau không có phúc. Trong trụ có sát lẫn tam hình thì có sinh mà không nuôi được. Trụ mẹ sáng, cha mờ thì phần nhiều là con ngoài giá thú. Nguyệt lệnh gặp xung thì con xa rời tổ nghiệp. Thân không nương tựa thì là con nuôi. Mệnh nữ phạm thương quan, thiên ấn thì con chết, hại chồng. Ngày giờ tương xung thì không lợi cho con cái. Quan gặp tử tuyệt thì khó có con. Trụ năm làm thương tổn can ngày thì cha con không thân nhau. Thực gặp kiêu ấn thì khắc con. Thân tuy mạnh nhưng bị sát hoặc bị tiết, hay thân nhược, thì con ít và không phát đạt. Thìn, tuất của ngày giờ tương xung thì tuy có con nhưng con học hành không đỗ đạt.

Trong trụ có kiêu, thực lại có thương quan thì con chết, chồng chết. Có cả thực lẫn kiêu thì không lợi cho con cái, nếu không tuyệt tự thì đứa con cũng thấp bé, gầy yếu. Mệnh nữ trụ giờ gặp hoa cái, gặp không vong thì suốt đời không sinh đẻ. Hoa cái ở trụ giờ và thai thì là con nuôi. Người có vong thần, sát thần thì khắc con, hình phạt chồng. Trong trụ thai bị hình phạt, lại có cách góc, nhiều sát, tam hình, không vong, ngũ hành không có khí thì phần nhiều sinh con hư hỏng. Thực nhiều là thương quan, tức ít con cái. Trẻ em thân nhược lại gặp sát vượng thì không chết cũng tàn phế. Trong trụ thực thần nhiều, kiêu thần quá vượng thì mẹ không có sữa. Thực gặp kiêu thì trẻ con đói sữa, người lớn thiếu ăn. Mệnh nữ quan tinh ở tử địa lại bị tiết quá thì khắc con hoặc không có con. Tài quan tử tuyệt thì có con nuôi. Ấn nhiều thì đến già vẫn không có con. Mệnh nữ phạm mão, dậu thì phần nhiều sẩy thai, khắc con. Tứ trụ thuần dương, thuần âm thì khó có con.

Con nuôi, con riêng và những tín hiệu khác thường quanh đứa trẻ

Có những đứa trẻ lớn lên dưới mái nhà không phải của cha mẹ ruột, và tám chữ đã khẽ báo từ trước.

Mệnh nữ có đủ thìn, tuất, sửu, mùi thì vừa khắc chồng vừa không sinh con. Trong trụ có thìn, tuất, sửu, mùi thì khắc cha mẹ: thìn tuất khắc cha, sửu mùi khắc mẹ. Trong trụ tị, ngọ nhiều thì trước mười tám, mười chín tuổi phải đề phòng khắc cha mẹ. Quan sát hỗn tạp lại có tam hình, không có tài tinh thì là con ngoài giá thú. Năm tháng tương xung thì nếu không phải con nuôi cũng là con đỡ đầu. Giờ sinh ở thìn, tuất, sửu, mùi thì phần nhiều là con nuôi. Trụ ngày có tài, trụ giờ có kiếp thì cha mẹ hưng thịnh, con suy bại. Mệnh nữ gặp mộc dục mà là con đầu thì phải đề phòng dễ chết. Trụ ngày lâm phá, hình, xung, hoặc gặp kình dương thì khắc con cái. Có tam sát, tam hợp thì bản thân không những là con nuôi mà con cháu cũng có đứa là con nuôi. Có tam hợp, tam kỳ thì người đẹp mà béo, nếu không là con nuôi thì cũng là con riêng của mẹ.

Năm tháng thương quan, kiếp tài thì đứa con sinh ở nhà nghèo, hoặc làm con nuôi. Quan, ấn gặp thiên quan thì là con nuôi. Tứ trụ có song thìn giáp góc cũng là con nuôi. Ngày giờ tương hình nhau thì tuổi trẻ chưa có con, nếu trụ giờ được quý nhân của trụ ngày phù trợ thì về già vẫn có thêm con. Có quả tú, cô thần thì có con khác họ. Có thương, kiêu cùng lúc thì con nhu nhược. Quan hưu mà gặp thương thì khó có con trai. Thương quan vượng quá thì nuôi con của chị em ruột. Thất sát ở hai đầu trụ thì đến già vẫn không có con. Cả bốn chi đều có thương quan thì thường khóc vì con. Kiêu gặp trường sinh lại gặp thực thần thì đến già vẫn không có con. Thực phá dụng thần thì con làm bại gia.

Thương thực nhập mộ thì khắc con cái. Trụ ngày vượng mà thực, thương, quan, sát rơi vào tuần không thì không có con. Thương quan bị chế ngự thì cháu họ thừa tự. Tài tinh của trụ năm, trụ tháng khắc ấn của trụ giờ thì con không chết cũng tàn tật. Trong trụ hàm trì nhiều thì đứa con không được cha mẹ nuôi nấng. Trụ giờ phạm tuần không, vong thì khắc cha mẹ, người trụ ngày lâm tử tuyệt thì trước bảy tuổi bệnh nhiều, sau bảy tuổi mới đỡ. Giờ sinh gặp tang môn thì mẹ khó đẻ hoặc lúc mang thai nhiều bệnh. Trụ giờ quan tinh không có khí thì sinh con nhưng khó nuôi. Trụ giờ gặp thương quan thì có con nhưng học hành đần độn. Trụ giờ có hình hại thì không có lợi cho con hoặc con nhiều bệnh. Trụ giờ ở tuyệt địa thì phải đề phòng không người thừa tự. Giờ khắc can ngày thì con không kính trọng cha. Chi giờ là thương thực, là cô thần hoặc quả tú thì không có con. Trụ giờ gặp hoa cái thì thân cô, có con nhưng cuối đời bị thương mà chết.

Trong trụ có kim, thủy thì đứa con chậm nói; có mộc thì sớm biết nói. Thổ vượng mà táo thì không con. Trong trụ có đào hoa lẫn với hợp thì có con lang thang. Thất sát nhiều lại không bị chế ngự thì không có con. Thê tài ở tuyệt địa bị khắc thì khó có con. Thiên ấn đóng ở trụ ngày thì vợ nhiều mà đẻ ít. Trụ ngày có sát, kiêu thì vợ nhiều đẻ ít. Tử tinh rơi vào suy, tuyệt, tử, mộ thì hỏng thai, không có con. Trụ tháng có tài thì tuy con giàu có nhưng là con nuôi. Trụ ngày gặp tài, trụ giờ gặp kiếp thì cha hưng con nhược. Giờ sinh của trẻ trong bảng nạp âm không được khắc năm; phạm điều ấy thì phải đề phòng chết yểu khi chưa đầy tháng. Can giờ khắc can năm, hoặc can năm gặp thực thần mà sinh con trai thì không thuận. Thương quan vượng quá thì nuôi con chị em gái. Trụ giờ gặp thai, hoặc mộ, tuần không, tuyệt, nếu không phải sinh đôi hay do chính mẹ mình sinh ra thì là con nuôi. Trụ giờ Bính, Đinh nhiều mà bị khắc, xung, phá thì đầu non chân yếu, chết sớm. Mão dậu đóng ở trụ giờ thì mắt to hoặc mắt hiếng, thường lêu lổng chơi bời, thích xa cha mẹ; nếu trong trụ có hình khắc thì có thể chột mắt. Sinh vào giờ thìn, tuất, sửu, mùi lại gặp không vong thì là con nuôi.

Giờ sinh gặp quan phù thì cha đang vướng kiện tụng, hoặc mẹ có việc lo sợ. Tài mệnh có khí lại gặp kiêu thần thì khóc vì con. Chi ngày gặp lục xung mà không được cứu thì tuổi trung niên dễ chết non. Tứ trụ tài tinh nhiều thì khó có con. Trẻ em mà trong trụ tài nhiều thì lúc đẻ khó.

Sáu lá số con cái khó khăn, tàn tật hay không có con

Một người phụ nữ năm nay 56 tuổi, đã ly hôn một lần lại nhiều bệnh, nên sinh con mà không nuôi được: năm Đinh sửu, tháng Canh tuất, ngày Nhâm thìn, giờ Đinh mùi. Điều ấy đúng với câu nữ gặp thìn, tuất, sửu, mùi thì vừa khắc chồng vừa khó nuôi con.

Một nam mệnh sinh năm 1964: năm Giáp thìn, tháng Bính dần, ngày Mậu tuất, giờ Giáp dần. Trong trụ Giáp mộc thất sát nhiều mà vượng, thân lại nhược; gặp trường hợp ấy không chết thì cũng tàn phế. Vì người nhà không hiểu dự đoán Tứ trụ nên không biết đề phòng, khi chưa đầy một tuổi đã sinh bệnh làm một chân bị tàn tật, đúng với câu thân nhược sát vượng thì không chết cũng tàn tật.

Một nam mệnh: năm Nhâm ngọ, tháng Nhâm dần, ngày Kỷ hợi, giờ Bính dần. Đứa trẻ thông minh tuấn tú nhưng lúc lên ba vì sốt cao mà bị câm, thật đáng thương. Nếu biết trước mà gửi đứa con đi về phương nam thì có thể tránh được. Bị câm vì trong lá số có năm, tháng gặp tài, khắc ấn của giờ nên con không chết cũng tàn phế.

Một nam mệnh: năm Mậu dần, tháng Giáp dần, ngày Mậu dần, giờ Giáp dần. Thất sát nhiều mà vượng lại không bị chế ngự, nên cả đời không sinh lần nào.

Một nữ mệnh: năm Quý mùi, tháng Đinh tị, ngày Mậu thìn, giờ Quý hợi. Người này sinh hai trai hai gái. Cung con trên giờ xung với trụ tháng, lại mộ ở nhật kiến, nên một người con trai thành tật, ứng với câu cung con gặp mộ thì con nhiều bệnh, hoặc bị tù, hoặc tàn phế.

Một nữ mệnh: năm Mậu tuất, tháng Canh thân, ngày Quý mùi, giờ Giáp dần. Người đàn bà này sinh bốn lần đều mất sớm: năm 1981 sinh lần thứ nhất, vừa sinh đã mất; năm 1983 sinh lần thứ hai, được ba ngày con mất; năm 1987 sinh lần thứ ba, con mất ngay; năm 1988 sinh lần thứ tư, được 47 ngày con lại mất. Đúng là sinh nhiều mà không nuôi được.

Giải hạn cho đôi vợ chồng sinh bốn lần đều mất con

Có lời nhờ vả đến từ nước mắt, và có cách gỡ chỉ nở hoa khi người ta làm đủ từng bước.

Tháng 7 năm 1989, hai vợ chồng đi dò hỏi nhiều nơi, cuối cùng tìm đến, nước mắt giọt ngắn giọt dài, khẩn thiết nhờ giải hạn cho người vợ. Người luận số sắp Tứ trụ của hai vợ chồng, thấy cung con cái và sao con của họ đều gặp tuyệt địa lại còn bị lệnh tháng hình xung khắc hại. Như lá số của bà, cung con cái là Giáp dần bị trụ tháng thiên khắc địa xung, sao con lại tập trung ở dần. Thân kim vượng, dần mộc ở tuyệt địa bị hình xung khắc phá, nên chỉ sinh mà không sống.

Vì hai vợ chồng rất thành tâm, làm theo cách hóa giải được dặn cẩn thận chu đáo, nên tháng giêng năm 1991 sinh được một bé gái. Thấy con sống hơn bốn mươi ngày bình an, khỏe mạnh, hoạt bát, họ tặng người xem một bức trướng thêu rất công phu mấy chữ "trắc thiên, trắc địa càn khôn" để tỏ lòng cảm ơn. Nay cháu bé hơn một tuổi, thông minh khỏe mạnh, và họ coi như có được hòn ngọc quý trong tay.

Nhất mộ, nhì phòng, ba Tứ trụ

Con cái đời sau bệnh nhiều, tàn tật hoặc khó nuôi, trước hết là do tổ hợp Tứ trụ của cha mẹ không tốt; một nguyên nhân khác cũng then chốt là Tứ trụ của người ấy và vận khí không hòa hợp nhau; một điểm nữa là phần mộ tổ tiên hoặc phong thủy của nhà ở không tốt. Ngày xưa có câu nhất mộ, nhì phòng, ba Tứ trụ: nghĩa là âm phúc của tổ tiên, phong thủy của nhà ở và tổ hợp Tứ trụ đều phải tốt. Vì vậy khi xây nhà, cất mộ, phong thủy âm dương không thể không chú ý.

Tháng 8 năm 1987, một chuyên gia người Mỹ có đứa con trai hơn mười tuổi nhưng tay chân hoạt động rất khó khăn. Ông không tiếc tiền đi nhiều nước tìm thầy chữa mà không hiệu quả; về sau qua một vị lãnh đạo giới thiệu mà đến gặp người luận số. Người luận số nói: phần mộ nhà ông có một cái hốc, nước chảy qua đó tưới thẳng vào mộ, nên nhanh chóng về sửa sang lại. Ông vô cùng kinh ngạc: đúng, năm ngoái tôi nhận được thư nhà từ Đài Loan nói mộ tổ có một cái hang, yêu cầu tôi trở về để sửa.

Tháng 5 năm 1991, trên đường về nước nghỉ lại Hồng Kông để đoán cho một người bạn, người luận số thấy mộ nhà ông ấy nằm cạnh một rãnh nước, nước chảy thẳng vào mộ. Ông hỏi: như thế thì có hại gì? Người luận số đáp: điều đó không có lợi cho đời sau. Ông hoảng hốt kêu lên: đúng, chẳng trách gì con tôi bị bệnh, nằm trên giường nhiều năm mà không khỏi.

Bù chỗ thiếu ngay từ lúc đặt tên

Với việc con cái không vượng, bị khắc, hoặc không lợi cho sự trưởng thành, thành đạt, chỉ cần đoán để biết trước rồi mới có thai, hoặc sau khi sinh con lập tức dự đoán ngay, thì có một số cách giúp hóa giải tai nạn. Ví dụ có những em bé trong Tứ trụ ngũ hành không đầy đủ hoặc có một hành mạnh quá; sau khi dự đoán biết được, khi đặt tên có thể thêm vào tên những chữ mang hành còn thiếu để bù đắp. Tứ trụ thiếu hỏa thì cho thêm chữ có bộ hỏa; thiếu kim thì thêm chữ kim; nếu chờ đến khi lớn tuổi mới đổi tên thì rất phiền phức. Những hành được thêm vào không chỉ giúp vượt tai họa mà còn có lợi cho cả đời. Vì thế không phải hễ thấy trong Tứ trụ có tai họa, tổ hợp không tốt là sợ hãi và lo rằng không còn cách gì tránh được; như thế là không nên.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc