Bài tổng quan
Chọn tuổi phối hôn theo trụ năm và cửa ải năm mươi tư tuổi
Người xưa chọn đôi lứa bằng ngũ hành năm mệnh, bằng tám chữ bù nhau, bằng mười hai con giáp hợp hay xung. Nhưng có những cặp mệnh năm tương sinh vẫn tan vỡ, và những cặp lá số đầy sát tinh vẫn bạc đầu bên nhau. Điều gì đứng dưới tất cả, và vì sao tuổi năm mươi tư lại là cửa hẹp của nhiều đôi vợ chồng...
Muôn vật muôn việc trên đời quy về khí thì chỉ có hai khí âm dương, quy về chất thì chỉ có năm loại kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Con người cũng không ngoài lẽ ấy: nam là dương, nữ là âm, và ai cũng mang một trong năm hành. Vì thế hôn nhân của nam nữ thực chất là kết quả của sự tương sinh, tương hợp giữa khí âm dương và ngũ hành.
Từ đó mới hiểu vì sao có những cặp ái ân đằm thắm, bách niên giai lão, có những cặp lúc đầu tình sâu nghĩa nặng rồi giữa chừng chia lìa, có những cặp trước hợp sau tan, trước yêu sau thành thù địch tuyệt tình. Tất cả đều là kết quả tất yếu của sinh khắc trong hôn nhân.
Ba cách chọn tuổi phối hôn mà người xưa để lại
Để đời sống mọi người được hạnh phúc, tổ tiên đã nghiên cứu hôn nhân rất sâu. Sau khi Kinh Dịch ra đời, người xưa dùng Bát quái để đoán hôn nhân tốt xấu; sau khi can chi được đưa vào Tứ trụ và mười hai con giáp được phát hiện thì sự nghiên cứu càng thêm kết quả. Những tìm tòi ấy đại thể chia thành ba loại.
Loại thứ nhất lấy ngũ hành của năm mệnh sinh khắc nhau làm chính. Ví dụ nam mệnh kim, nữ mệnh thổ, vì thổ kim tương sinh nên phối hôn là tốt. Loại thứ hai lấy tám chữ của nam nữ bù cho nhau để cân bằng ngũ hành. Ví dụ Tứ trụ của nữ thương quan nhiều thì nên phối với nam có tỉ kiếp nhiều, để phòng nữ khắc nam. Cho nên đời xưa khi đính hôn thường hợp Tứ trụ là có cơ sở khoa học. Loại thứ ba dựa vào mười hai con vật cầm tinh tương hợp với nhau; nếu các con vật ấy xung hại bất hòa thì không thể phối hôn. Trong một bản thư xưa có ghi câu ca về các cặp không lợi cho kết hôn:
Xưa nay ngựa trắng sợ trâu xanh, dê chuột gặp nhau thì xấu ngay. Rắn gặp hổ dữ như dao cắt đứt, lợn gặp khỉ thì chẳng bền lâu. Rồng gặp thỏ thì nửa chừng đứt gánh, gà gặp chó thì nước mắt chảy quanh.
Những cách phối hôn ấy thời đó đã giúp nhiều cuộc hôn nhân mỹ mãn, xây được gia đình hạnh phúc, và đến nay vẫn còn được coi trọng. Nhưng xã hội không coi trọng việc nghiên cứu nó, nên chuyện phối hôn nam nữ chưa được giải quyết tốt. Lại nữa, nhiều người phối hôn không theo khoa học mà chỉ dựa vào cảm tính bồng bột, dẫn đến bi kịch khắc vợ khắc chồng, không những gây thảm kịch hôn nhân mà tỉ lệ ly hôn cũng ngày càng cao.
Qua nhiều lần đoán về hôn nhân, người luận số nhận thấy khoảng tám phần mười các cuộc hôn nhân không suôn sẻ. Chết vì hôn nhân và ly hôn làm tan nát gia đình, kéo theo nhiều vấn đề nan giải cho xã hội, khiến Nhà nước phải chú ý và xã hội ngày càng thận trọng với hôn nhân. Các chuyên gia ở Nhật Bản và Xingapo đều tích cực tìm biện pháp; một số chuyên gia Nhật cho rằng tuổi nam nữ phối hôn nên chênh nhau chừng mười lăm tuổi, nam hơn nữ.
Qua quan sát lâu dài, người ấy còn nhận ra rằng chết vì hôn nhân hoặc ly hôn có rất nhiều nguyên nhân, không hoàn toàn do mệnh năm khắc nhau hay con vật cầm tinh hại nhau: mệnh năm tương sinh, cầm tinh tương hợp vẫn có chuyện khắc vợ khắc chồng. Phần lớn các cặp phạm khắc là do hung thần ác sát trong Tứ trụ, và nhất là do can chi trụ năm của vợ chồng phạm thiên khắc địa xung.
Trụ năm của hai người là gốc rễ của hai cây
Hai cây đứng cạnh nhau chỉ vững khi rễ đã quấn vào nhau, còn cành lá có chút xô lệch cũng chẳng sao.
Nhiều cặp thương yêu nhau từ đầu đến cuối, hoặc có cãi vã lẫn nhau mà vẫn sống với nhau đến già (người xưa cho rằng sau sáu mươi tuổi mà hôn nhân tan vỡ thì không còn là khắc hại nữa). Điều chủ yếu và quan trọng nhất ở những cặp ấy là trụ năm của vợ chồng tương sinh, tương hợp. Thiên hợp địa hợp thì không còn sợ mệnh năm tương khắc, cầm tinh tương hình, hay trong Tứ trụ có hung sát.
Lý do là trụ năm là căn bản, là rễ của hai cây. Rễ đã tương sinh tương hợp thì gốc cây ổn định vững chắc, không dễ chia ly, không sợ khắc hại. Ngược lại, nếu trụ năm của vợ chồng phạm thiên khắc địa xung thì dù mệnh năm tương sinh, dù sát tinh trong Tứ trụ ít, rễ cây đã bị tổn thất thì rễ khô cây chết, dẫn đến bi kịch hôn nhân.
Ba lá số trụ năm hợp nên vợ chồng bền lâu
Một nam mệnh: năm Nhâm tí, tháng Quý mão, ngày Canh thân, giờ Nhâm ngọ; vợ sinh năm Giáp dần. Quý thủy thương quan ở đất trường sinh, thực thần xuất hiện hai lần mà thực nhiều là thương, can chi ngày giống nhau, nên khắc vợ rất nặng. Nhưng trụ năm vợ chồng tương sinh, vì vậy hai người trường thọ, đến nay vẫn khỏe mạnh.
Một nam mệnh: năm Đinh sửu, tháng Quý sửu, ngày Bính thân, giờ Canh dần; vợ sinh năm Ất dậu. Thê tinh ở mộ địa mà bị khắc, ngày giờ tương xung nhau, là tượng khắc vợ, phải lấy vợ lần thứ hai. Nhưng trụ năm của vợ chồng thiên địa tương sinh tương hợp nên hai người vẫn ái ân đằm thắm.
Ông Lý, cán bộ nghiên cứu khoa học kỹ thuật có những công trình đáng kể: năm Canh thìn, tháng Đinh hợi, ngày Giáp tuất, giờ Đinh mão; vợ sinh năm Ất dậu. Tháng 10 năm 1991, ở Chu Hải, Quảng Đông, thấy thương quan nhiều, nhật nguyên Giáp tuất khắc vợ rất nặng, người xem nói ông lấy vợ lần thứ hai. Năm ông 40 tuổi gặp đại vận thìn, lưu niên 1988 cũng thìn, cùng các thìn trong lá số thành ba thìn xung một tuất, xung đúng vào ngôi vợ, nên năm 1988 có họa, nếu không ly hôn thì chết. Nhưng vợ sinh năm Ất dậu, trụ năm của hai người thiên can hợp nhau, địa chi cũng hợp nhau, gốc rễ bền vững không thể phá nổi, nên qua những biến động của xã hội hai vợ chồng vẫn ý hợp tâm đầu, cuộc sống mỹ mãn.
Tuổi năm mươi tư: cửa ải sinh tử của vợ chồng
Có một con số cứ trở lại trong đời nhiều cặp vợ chồng như một cửa hẹp, nơi người đi qua và người ngã xuống cùng đứng sát nhau.
Nếu trụ năm của vợ chồng phạm thiên khắc địa xung, tức gốc bị thương tổn, thì dù mệnh năm tương sinh, nếu Tứ trụ không có cát tinh cứu giúp, cũng không tìm được cách hóa giải, thì khi mệnh nam qua tuổi 54, người nhẹ thì ly hôn hoặc vì bệnh mà tàn phế, người nặng thì chết. Cả nam lẫn nữ, ở tuổi chẵn 54 đều là cửa ải sinh tử. Nguyên nhân chủ yếu là trụ năm của năm sinh ở thời điểm 54 tuổi cùng lưu niên phạm thiên khắc địa xung, làm hại thái tuế của năm ấy. Đặc biệt với mệnh nam mà trụ năm phạm thiên khắc địa xung với vợ thì tuổi 54 rất khó vượt qua. Năm ấy lại đúng năm bản mệnh của vợ, nên về phía nữ phần nhiều là năm dễ mất chồng.
Có cặp vợ chồng trụ năm phạm thiên khắc địa xung, chồng 54 tuổi tuy không chết nhưng vì bệnh tật hoặc tai nạn mà tàn phế; đến năm 60 tuổi gặp năm bản mệnh của mình, lúc ấy vợ vừa 54 tuổi đúng phạm thiên khắc địa xung với lưu niên làm hại thái tuế, nên chồng mất.
Các cặp sau minh họa điều ấy. Chồng sinh năm Canh ngọ, 54 tuổi gặp năm Giáp tí thì bị bệnh; vợ sinh năm Bính tí gặp năm bản mệnh của mình thì mất chồng. Chồng sinh năm Tân mùi, 54 tuổi gặp năm Ất sửu thì bị bệnh; vợ sinh năm Đinh sửu, 48 tuổi gặp năm mệnh, mất chồng. Chồng sinh năm Mậu dần, 54 tuổi gặp năm Nhâm thân thì bị bệnh; vợ sinh năm Giáp thân, 48 tuổi gặp năm mệnh, mất chồng. Một cặp khác cũng chồng Mậu dần, 54 tuổi gặp Nhâm thân bị bệnh tàn phế, vợ Giáp thân 48 tuổi gặp năm mệnh, chồng tàn phế. Chồng sinh năm Đinh sửu, 54 tuổi gặp năm Tân mùi bị bệnh tàn phế; vợ sinh năm Quý mùi, 48 tuổi gặp năm mệnh, chồng tàn phế. Chồng sinh năm Bính tí, 54 tuổi gặp năm Canh ngọ, đầu năm ly hôn; vợ sinh năm Nhâm ngọ, 48 tuổi gặp năm mệnh, ly hôn.
Cặp cuối cùng này, từ năm 1987, người xem đã đoán rằng năm Canh ngọ 1990 người chồng nếu không ly hôn thì chết, không chết thì vì bệnh mà tàn phế. Nhờ đoán trước và tìm cách hóa giải, hai vợ chồng đều bình yên vượt qua năm Canh ngọ, từ hung thành cát, về sau danh lợi đều đạt, đến nay vẫn khỏe mạnh. Điều đó cho thấy một khi đã đoán được tai họa, tìm cách hóa giải thì có thể vượt qua.
Với những cặp trụ năm không phạm thiên khắc địa xung, khi nam nữ đến tuổi 54, nếu tổ hợp Tứ trụ tốt thì bản thân không bị bệnh hay tai họa, nhưng người thân trong nhà ắt gặp trắc trở, khó khăn. Nếu tổ hợp Tứ trụ không tốt thì chính mình sẽ bị bệnh hoặc gặp trắc trở nào đó. Một ông họ Tôn ở Nam Kinh, năm Quý hợi 1983 đúng 54 tuổi, vì bệnh phải qua một ca đại phẫu, sau đó mất năm Kỷ tị.
Bảng năm sinh phối hôn của nam và nữ
Từ những điều ấy, một bảng tra đã được lập ra: ứng với mỗi năm sinh của nam, những năm sinh của nữ mà trụ năm sinh hợp với nhau.
Bảng này lấy người lớn phối người nhỏ, tức mệnh nam phối với mệnh nữ. Ví dụ nam sinh năm Quý sửu thì nên phối với nữ sinh năm Canh thân, Tân dậu hoặc Giáp tí. Nếu là nữ sinh năm Quý sửu thì phải tìm năm sinh ấy trong cột nữ để tra ra nam nên phối: nữ Quý sửu nên phối với nam sinh năm Ất tị hoặc Mậu thân.
Đặc điểm chính của bảng là lấy trụ năm của nam nữ tương sinh, tương hợp làm chính, không đòi hỏi mệnh năm của hai người phải tương sinh. Nếu trụ năm của hai bên tương sinh, tương hợp mà mệnh năm lại tương sinh thì càng tốt. Ví dụ nam Giáp tuất phối với nữ Kỷ mão là trụ năm thiên địa tương hợp, lại một người mệnh hỏa, một người mệnh thổ, tức mệnh năm cũng tương sinh.
Bảng đồng thời bảo đảm trụ năm tương sinh tương hợp và cố tránh điều kiêng kị của mười hai con giáp xung hại và chi năm tương hình. Có trường hợp chi năm tuy tương hình như thìn dậu, nhưng với hai người thì trong hợp có sinh nên lấy hợp làm chính. Trong bảng, tuổi nam nữ cách nhau ít nhất một tuổi, nhiều nhất mười lăm tuổi; riêng nam sinh năm hợi chỉ có tương sinh tương hợp với nữ có trụ năm nhỏ hơn mười lăm tuổi. Gặp trường hợp ấy, nếu không tìm được, vẫn có thể theo cách cổ là mệnh năm nam nữ tương sinh để phối hôn.
Bảng năm phối hôn là cách chọn năm sinh lý tưởng nhất, lấy mục tiêu chính là đề phòng khắc chồng khắc vợ. Bên cạnh đó, những cách phối hôn cổ vẫn dùng được; theo bảng này hay theo cách cổ đều tùy người chọn. Bảng lấy sáu mươi năm làm một vòng; khi dùng có thể tra bảng nạp âm sáu mươi hoa giáp. Ở đây chỉ chép can chi từ năm 1941 đến năm 2000, ngoài khoảng ấy có thể suy ra.
| Mệnh nam | Năm | Phối với năm sinh của nữ |
|---|---|---|
| Tân tị | 1941 | Quý mùi, Bính tuất |
| Nhâm ngọ | 1942 | Canh dần, Tân mão |
| Quý mùi | 1943 | Giáp thân, Ất dậu, Giáp ngọ |
| Giáp thân | 1944 | Bính tuất, Kỷ sửu |
| Ất dậu | 1945 | Nhâm thìn, Quý tị |
| Bính tuất | 1946 | Tân mão, Giáp ngọ |
| Đinh hợi | 1947 | Mậu tí |
| Mậu tí | 1948 | Canh dần, Bính thân, Đinh dậu |
| Kỷ sửu | 1949 | Bính thân, Đinh dậu |
| Canh dần | 1950 | Mậu tuất, Kỷ hợi, Bính ngọ |
| Tân mão | 1951 | Mậu tuất, Kỷ hợi |
| Nhâm thìn | 1952 | Đinh dậu, Ất tị |
| Quý tị | 1953 | Mậu tuất, Tân sửu, Giáp thìn |
| Giáp ngọ | 1954 | Nhâm dần, Quý mão |
| Ất mùi | 1955 | Bính thân, Đinh dậu, Bính ngọ |
| Bính thân | 1956 | Tân sửu, Giáp thìn |
| Đinh dậu | 1957 | Giáp thìn, Ất tị |
| Mậu tuất | 1958 | Giáp mão, Bính ngọ |
| Kỷ hợi | 1959 | Giáp dần |
| Canh tí | 1960 | Nhâm dần, Mậu thân, Kỷ dậu |
| Tân sửu | 1961 | Mậu thân, Kỷ dậu |
| Nhâm dần | 1962 | Tân hợi |
| Quý mão | 1963 | Canh tuất, Tân hợi |
| Giáp thìn | 1964 | Bính ngọ, Kỷ dậu |
| Ất tị | 1965 | Đinh mùi, Canh tuất, Quý sửu |
| Bính ngọ | 1966 | Giáp dần, Ất mão, Kỷ mùi |
| Đinh mùi | 1967 | Mậu thân, Kỷ dậu, Mậu ngọ |
| Mậu thân | 1968 | Canh tuất, Quý sửu, Bính thìn |
| Kỷ dậu | 1969 | Bính thìn, Đinh tị |
| Canh tuất | 1970 | Ất mão, Mậu ngọ |
| Tân hợi | 1971 | Bính dần |
| Nhâm tí | 1972 | Giáp dần, Canh thân, Tân dậu |
| Quý sửu | 1973 | Canh thân, Tân dậu, Giáp tí |
| Giáp dần | 1974 | Quý hợi |
| Ất mão | 1975 | Đinh tị, Nhâm tuất, Quý hợi |
| Bính thìn | 1976 | Mậu ngọ, Tân dậu |
| Đinh tị | 1977 | Kỷ mùi, Ất sửu, Mậu thìn |
| Mậu ngọ | 1978 | Bính dần, Đinh mão, Tân mùi |
| Kỷ mùi | 1979 | Canh thân, Tân dậu, Canh ngọ |
| Canh thân | 1980 | Nhâm tuất, Ất sửu, Mậu thìn |
| Tân dậu | 1981 | Mậu thìn, Kỷ tị |
| Nhâm tuất | 1982 | Đinh mão, Canh ngọ |
| Quý hợi | 1983 | Mậu dần |
| Giáp tí | 1984 | Nhâm thân, Quý dậu, Đinh sửu |
| Ất sửu | 1985 | Nhâm thân, Quý dậu, Bính tí |
| Bính dần | 1986 | Kỷ tị, Ất hợi |
| Đinh mão | 1987 | Giáp tuất, Ất hợi |
| Mậu thìn | 1988 | Canh ngọ, Quý dậu |
| Kỷ tị | 1989 | Tân mùi, Giáp tuất |
| Canh ngọ | 1990 | Mậu dần, Kỷ mão |
| Tân mùi | 1991 | Nhâm thân, Quý dậu, Nhâm ngọ |
| Nhâm thân | 1992 | Giáp tuất, Đinh sửu |
| Quý dậu | 1993 | Ất hợi, Canh thìn, Tân tị |
| Giáp tuất | 1994 | Kỷ mão, Nhâm ngọ |
| Ất hợi | 1995 | Mậu dần, Canh dần |
| Bính tí | 1996 | Giáp thân, Ất dậu |
| Đinh sửu | 1997 | Giáp thân, Ất dậu |
| Mậu dần | 1998 | Đinh hợi |
| Kỷ mão | 1999 | Tân tị, Bính tuất, Đinh hợi |
| Canh thìn | 2000 | Kỷ dậu, Nhâm ngọ |
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
