Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Can chi trong thân thể, giờ sinh và các cách hợp của địa chi

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc01/10/202613 phút đọc2 lượt đọc
Can chi trong thân thể, giờ sinh và các cách hợp của địa chi

Hai người quen nhau, lúc đầu thân thiết đến mức tưởng chẳng gì chia nổi, rồi vài năm sau cãi vã, ly hôn hoặc tuyệt giao. Trong Tứ trụ, cổ nhân gọi đó là cái hợp mang sẵn cái khắc, khác hẳn thứ hợp càng ở lâu càng tốt. Chỗ phân ra hai thứ ấy nằm ngay trong mối quan hệ của mười hai chi...


Thiên can lộ ra, địa chi giấu kín

Mười thiên can nói về trời, nói về cái động, cái lộ ra bên ngoài; động là có hành vi. Mười hai địa chi nói về đất, nói về cái tĩnh, cái nằm ẩn bên dưới, và thường giấu nhiều thứ. Vì vậy thiên can tính chất đơn thuần, còn địa chi tính chất phức tạp. Cát hung của thiên can hiện rõ ra mắt, còn cát hung của địa chi thì chìm kín, nhìn ngay một lúc khó thấy họa phúc; có khi tuế vận đã tới mà lành dữ vẫn chưa lộ.

Khi can chi đứng cạnh nhau, địa chi là gốc của thiên can, thiên can là ngọn của địa chi. Địa chi của năm giữ chức đứng đầu các sát, địa chi của tháng nắm quyền sinh sát; thiên can không có đặc quyền ấy. Cho nên sinh, vượng, tử, tuyệt của thiên can đều do địa chi quyết định. Có thể nói địa chi quan trọng hơn thiên can, nặng ký hơn thiên can, điều này ai học Tứ trụ cũng cần nhớ.

Mười can ứng vào thân thể và tạng phủ

Mười can phối với thân thể như sau: Giáp là đầu, Ất là vai, Bính là trán, Đinh là răng lưỡi, Mậu Kỷ là mũi mặt, Canh là gân bắp, Tân là ngực, Nhâm là bắp chân, Quý là bàn chân.

Với y học và can chi thì mười can phối tạng phủ thế này: Giáp là mật, Ất là gan, Bính là ruột non, Đinh là tim, Mậu là dạ dày, Kỷ là lá lách, Canh là ruột già, Tân là phổi, Nhâm là bàng quang, Quý là thận. Chữ đứng thứ tự lẻ thuộc phủ, chữ đứng thứ tự chẵn thuộc tạng.

Mười can phối sáu vị thần

Giáp Ất là Thanh Long, Bính Đinh là Chu Tước, Mậu là Câu Trần, Kỷ là Phi Xà, Canh Tân là Bạch Hổ, Nhâm Quý là Huyền Vũ. Sáu vị thần này thật ra là tên của các ngôi sao trong thiên văn. Thanh Long chủ việc vui mừng chúc tụng; Chu Tước chủ chuyện thị phi, cãi vã; Câu Trần chủ nỗi lo về ruộng đất và chuyện giam cầm; Phi Xà chủ những lo lắng vu vơ; Bạch Hổ chủ chuyện máu me tang tóc; Huyền Vũ chủ việc ám muội, trộm cắp. Khi đoán quẻ, sáu vị thần ấy cũng được gọi ra với đúng ý nghĩa này.

Vì sao các can hợp rồi hóa

Có hai cách giải thích cho chuyện năm cặp can hợp hóa: Giáp với Kỷ hóa thổ, Ất với Canh hóa kim, Bính với Tân hóa thủy, Đinh với Nhâm hóa mộc, Mậu với Quý hóa hỏa.

Cách thứ nhất dựa vào bài tìm can của tháng giêng. Năm Giáp hay năm Kỷ lấy Bính làm đầu, Bính Dần là tháng giêng; Bính là hỏa, hỏa sinh thổ nên Giáp Kỷ hóa thổ. Năm Ất hay năm Canh lấy Mậu làm đầu, Mậu Dần là tháng giêng; Mậu là thổ, thổ sinh kim nên Ất Canh hóa kim. Năm Bính hay năm Tân lấy Canh làm đầu, Canh Dần là tháng giêng; Canh là kim, kim sinh thủy nên Bính Tân hóa thủy. Năm Đinh hay năm Nhâm lấy Nhâm Dần làm tháng giêng; Nhâm là thủy, thủy sinh mộc nên Đinh Nhâm hóa mộc. Năm Mậu hay năm Quý lấy Giáp Dần làm tháng giêng; Giáp là mộc, mộc sinh hỏa nên Mậu Quý hóa hỏa.

Cách thứ hai nói rằng sự hóa hợp của mười can do phương vị của hai mươi tám ngôi sao trên trời quyết định. Dù theo cách nào, hóa hợp cũng là dương hợp với âm, âm hợp với dương. Chu Dịch có câu: một âm một dương gọi là đạo. Âm dương hợp nhau như nam nữ hợp nhau mà thành đạo vợ chồng.

Mười hai chi chia ra từng mùa

Mười hai địa chi vốn là tên của các tháng, từ Tý, Sửu, Dần, Mão cho đến Tuất, Hợi. Âm dương và ngũ hành của chúng xem ở thiên can mà biết: Dần trực ở mùa xuân, phối với Giáp là dương mộc; Mão trực ở giữa xuân, phối với Ất là âm mộc. Chi nào đứng với can nào thì tính chất theo can ấy. Nếu thêm phần thổ: Mùi, Tuất là đất khô, trong chứa hỏa; Sửu, Thìn là đất ướt, trong chứa nước.

Về phương vị và mùa, mỗi mùa có ba chi, một chi mới thấy, một chi mạnh nhất và một chi suy. Thiếu dương thấy ở Dần, mạnh ở Mão, suy ở Thìn; ba chi ấy thuộc mộc, mùa xuân, phương đông. Thái dương thấy ở Tị, mạnh ở Ngọ, suy ở Mùi; thuộc hỏa, mùa hạ, phương nam. Thiếu âm thấy ở Thân, mạnh ở Dậu, suy ở Tuất; thuộc kim, mùa thu, phương tây. Thái âm thấy ở Hợi, mạnh ở Tý, suy ở Sửu; thuộc thủy, mùa đông, phương bắc. Trong đó Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là tháng cuối của mỗi mùa, vì thổ vượng ở bốn mùa nên đó là thổ của bốn mùa. Cách phối với mùa và phương vị của chi giống hệt mười thiên can.

Nguyệt kiến: vì sao tháng giêng là tháng Dần

Tháng giêng kiến Dần, tháng hai kiến Mão, tháng ba kiến Thìn, tháng tư kiến Tị, tháng năm kiến Ngọ, tháng sáu kiến Mùi, tháng bảy kiến Thân, tháng tám kiến Dậu, tháng chín kiến Tuất, tháng mười kiến Hợi, tháng mười một kiến Tý, tháng mười hai kiến Sửu. Tháng giêng kiến Dần nghĩa là lấy Dần mộc làm lệnh, mà Dần mộc chỉ nắm lệnh tốt sau tiết lập xuân mới có quyền sinh sát; đến tiết kinh trập thì Mão mộc nắm lệnh, các tháng sau cũng xếp như vậy. Nên tháng giêng, tháng hai thuộc mộc; tháng tư, tháng năm thuộc hỏa; tháng bảy, tháng tám thuộc kim; tháng mười, tháng mười một thuộc thủy; các tháng ba, sáu, chín, mười hai thuộc thổ. Tháng giêng là tháng Dần vì chuôi sao Bắc Đẩu chỉ vào ngôi Dần.

Mười hai giờ trong ngày và một điều cần dặn

Mười hai chi cũng là mười hai canh giờ. Giờ Tý là giờ canh ba, từ mười một giờ đêm đến một giờ sáng; mười một giờ còn lại cứ thế mà tính tiếp, mỗi giờ hai tiếng. Khi đoán nhất định phải phân biệt giờ sinh rơi vào khoảng nào.

Xưa chia giờ Tý làm hai, trước nửa đêm và sau nửa đêm. Ngày nay qua kiểm chứng của rất nhiều người, cách chia ấy không hợp lý và cũng không có tác dụng thực tế. Sinh từ mười một đến mười hai giờ đêm hôm trước, hay từ không giờ đến một giờ sáng hôm sau, đều lấy ngày sinh là ngày hôm sau để định can chi của ngày. Người ở nước ngoài khi đoán thì dù giờ sinh ghi theo múi giờ nào cũng phải đổi sang giờ Bắc Kinh để lập Tứ trụ, nếu không sẽ không chuẩn. Những năm áp dụng giờ mùa hạ cũng phải trừ đi, đưa về giờ thường rồi mới tính.

Vì sao Tý là chuột, Ngọ là ngựa

Mười hai chi phối với mười hai con vật, và cổ nhân giải thích như sau. Tý là cực âm, tiềm tàng mờ ám, nên phối với chuột, loài chuyên giấu dấu vết. Ngọ là cực dương, rõ ràng mạnh mẽ, nên phối với ngựa, loài chạy nhanh. Sửu là âm phủ mà hiền từ, nên phối với trâu. Mùi là dương, ngửa mặt lên trời mà lễ, phối với dê, loài quỳ gối bú sữa. Dần thuộc dương, mạnh bạo, phối với hổ, loài tính dữ. Thân thuộc âm, âm thắng thì thông minh giảo hoạt, nên phối với khỉ, loài nhanh nhẹn. Mão là cửa ngõ của mặt trăng mặt trời, hai ánh sáng cùng ra từ một khiếu, thọ và thông minh, nên phối với thỏ. Thìn và Tị là lúc mặt trời mới mọc, biến hóa; rồng thịnh, rắn kém hơn, nên rồng rắn phối với Thìn, Tị, đều là loài biến hóa. Tuất, Hợi là lúc âm thu liễm và bảo thủ; chó thịnh, lợn kém hơn, nên chó lợn phối với Tuất, Hợi, đều là loài trầm tĩnh. Những phối hợp ấy là đầu mối cho mọi chuyện bàn về mười hai con giáp và khí chất con người.

Mười hai chi ứng vào thân thể và tạng phủ

Mười hai chi phối với cơ thể: Tý là tai; Sửu là bụng; Dần là tay; Mão là ngón tay; Thìn là vai và ngực; Tị là mặt, yết hầu, răng; Ngọ là mắt; Mùi là sống lưng; Thân là kinh lạc; Dậu là tinh huyết; Tuất là mệnh môn, bàn chân, đùi; Hợi là đầu.

Phối với tạng phủ thì: Dần là mật; Mão là gan; Tị là tim; Ngọ là ruột non; Thìn và Tuất là dạ dày; Sửu và Mùi là lá lách; Thân là ruột già; Dậu là phổi; Hợi là thận và tâm bào; Tý là bàng quang và tam tiêu.

Lục hợp: hợp mà khắc và hợp mà sinh

Sáu cặp lục hợp của địa chi là: Tý hợp Sửu hóa thổ; Dần hợp Hợi hóa mộc; Mão hợp Tuất hóa hỏa; Thìn hợp Dậu hóa kim; Tị hợp Thân hóa thủy; Ngọ hợp Mùi, Ngọ là thái dương, Mùi là thái âm, hợp lại thành thổ.

Cách dùng đầu tiên là nhìn vào tám chữ của năm, tháng, ngày, giờ sinh. Trong bốn chi nếu có Tý với Sửu, hay Dần với Hợi, tức là có sự tương hợp, nói chung là nghĩa tốt. Nhưng tương hợp lại chia làm hai loại: trong hợp có khắc, và trong hợp có sinh.

Người mang hợp có khắc thì đầu tốt cuối xấu, đầu nóng cuối lạnh, đầu hợp cuối tan. Có những cặp vợ chồng hay bạn bè lúc đầu rất thân, sau cãi vã, ly hôn, bạn bè chia rẽ; đó là vì trong Tứ trụ có dấu hiệu hợp mà khắc. Ví dụ Tý hợp Sửu, nhưng Tý là thủy, Sửu là thổ, thổ khắc thủy. Mão hợp Tuất, nhưng Mão là mộc, Tuất là thổ, mộc khắc thổ. Tị hợp Thân, nhưng Tị là hỏa, Thân là kim, hỏa khắc kim.

Người mang hợp có sinh thì dù là quan hệ vợ chồng hay bạn bè đều ngày càng tốt lên. Ví dụ Dần hợp Hợi: Dần là mộc, Hợi là thủy, thủy sinh mộc. Thìn hợp Dậu: Thìn là thổ, Dậu là kim, thổ sinh kim. Ngọ hợp Mùi: Ngọ là hỏa, Mùi là thổ, hỏa sinh thổ.

Tam hợp cục: hóa sinh là tốt, hóa khắc là xấu

Bốn bộ tam hợp là: Thân, Tý, Thìn hợp thành thủy cục; Hợi, Mão, Mùi hợp thành mộc cục; Dần, Ngọ, Tuất hợp thành hỏa cục; Tị, Dậu, Sửu hợp thành kim cục. Mỗi bộ gồm đúng ba giai đoạn: sinh, vượng, mộ. Thủy sinh ở Thân, vượng ở Tý, mộ ở Thìn nên ba chi ấy làm thành thủy cục. Mộc sinh ở Hợi, vượng ở Mão, mộ ở Mùi. Hỏa sinh ở Dần, vượng ở Ngọ, mộ ở Tuất. Kim sinh ở Tị, vượng ở Dậu, mộ ở Sửu. Sức của tam hợp cục kém tam hội cục.

Tam hợp chỉ có bốn hành chứ không có thổ cục, vì sao? Tam Mệnh Thông Hội nói: ngũ hành không nói đến thổ mà bốn hành đều thành thổ cục, vì vạn vật đều tàng ở trong đất. Nếu Thìn, Tuất, Sửu, Mùi đủ mặt thì tức là đã có thổ cục.

Tam hợp hóa cục có lành có dữ: hóa sinh là tốt, hóa khắc là xấu. Ví dụ hóa sinh: sinh năm Canh Thân, tháng Ất Dậu, ngày Giáp Thìn, giờ Giáp Tý. Trong Tứ trụ kim vượng, mộc ở thế yếu, chi ngày Thìn thổ lại khắc Tý thủy của giờ; can ngày Giáp mộc cùng Ất mộc ở tháng và Giáp mộc ở giờ bị khắc mà không được sinh, là tượng xấu. Nhưng Tứ trụ có Thân, Tý, Thìn hợp thành thủy cục, lại được Canh kim ở năm, Dậu kim ở tháng sinh thủy, nên thủy sinh mộc, bị khắc mà được cứu. Đó là thủy cục hóa sinh.

Ví dụ hóa khắc: sinh năm Canh Thân, tháng Mậu Tý, ngày Bính Ngọ, giờ Nhâm Thìn. Trong Tứ trụ thủy vượng, can ngày Bính hỏa ở tử địa lại bị thủy vượng khắc, tượng rất xấu; đã vậy Thân, Tý, Thìn lại hợp thành thủy cục, khắc thêm can ngày Bính hỏa. Bính hỏa chỉ bị khắc mà không được sinh, lại không có chỗ tựa, tức đã xấu càng xấu thêm. Đó là tam hợp hóa khắc gây ra tình thế xấu.

Bán hợp và tính người của lá số có hợp cục

Tam hợp cần đủ ba chữ mới thành cục; thiếu một chữ thì gọi là bán hợp. Bán hợp chia hai loại. Bán hợp ở đất sinh gồm: Hợi Mão thuộc mộc, Dần Ngọ thuộc hỏa, Tị Dậu thuộc kim, Thân Tý thuộc thủy; sức yếu hơn tam hợp. Bán hợp ở đất mộ gồm: Mão Mùi thuộc mộc, Ngọ Tuất thuộc hỏa, Dậu Sửu thuộc kim, Tý Thìn thuộc thủy; sức còn yếu hơn bán hợp ở đất sinh.

Người có tam hợp hay lục hợp trong Tứ trụ thì dáng người, tư thế đẹp, thần khí ổn định, lòng dạ ngay thẳng, thông minh, tháo vát, toàn diện, nhanh nhẹn. Nếu lại hợp với nhật nguyên thành thế tương sinh thì gặp việc gì cũng toại nguyện, nhiều tài năng, nói năng vui vẻ lưu loát, không cãi vã, có quý nhân và phúc thần, cả đời phúc hậu nhưng cũng hay gặp việc xấu. Nếu tam hợp, lục hợp khắc thân thì thường gặp hung lẫn sát, hay hành động nhiều thì tốn thất, việc xấu dồn dập, có thể gặp tai nạn lớn. Nếu hợp mà rơi vào tử tuyệt thì người ấy hay làm mà ít thành, tinh thần ủ rũ, thô lậu, ít bạn, chí thấp, lòng hẹp, thích tiểu nhân mà không ưa quân tử, cả đời thấp hèn.

Tam hợp, lục hợp mà kiến lộc thì được phúc lộc ngoài ý muốn. Hợp với quý nhân, chính ấn thì gặp người nâng đỡ; hợp với thực thần thì y lộc dồi dào; hợp với nguyên thần đại hao thì là người vô lễ, nói năng thô tục, thích tiểu nhân ghét quân tử. Nếu còn thêm hàm trì thì chủ về tư thông, gian ác, dâm loạn, tham ô, bất lương. Tam hợp, lục hợp nếu là nam thì dáng thường thanh tú, nếu là nữ thì đa dâm, nên phụ nữ kiêng tam hợp, lục hợp. Cuối cùng, tam hợp cục hóa ra tài thì tài vượng, hóa ra quan thì quan vượng, hóa ra ấn thì văn thư vượng, hóa ra sát thì sát vượng: hóa cát là cát, hóa hung là hung.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc