Bài tổng quan
Bản Mệnh, Âm Dương và cung cường: ba yếu tố căn bản
Giữa hàng chục yếu tố cung, sao, hạn dễ khiến người mới học lạc vào mê hồn trận, khoa Tử Vi gạn lại chỉ còn ba điều tối ư quan trọng để nhìn một lá số cho ra manh mối. Bên cạnh đó là bảng đối chiếu sáng mờ giữa Mệnh và hạn, cùng sáng kiến tam hợp tuổi của một vị thầy mà ít nơi nhắc tới…
Phải chú ý đến hợp cách của các sao ở Mệnh và hạn
Khoa Tử-Vi phân biệt khá rõ rệt 4 loại Cách:
Một là những cách của những chính tinh Tử - Phủ, Cự – Nhật, Cơ – Nguyệt – Đồng – Lương (viết tắt là TP, CN, CNĐL).
Hai là những cách của những chính tinh Sát – Phá – Liêm – Tham và những sát bại tinh (viết tắt là: SPLT, sbt).
Ba là bộ Vũ, Tướng.
Bốn là vô chính diệu.
Sự hay dở do 4 loại trên phối trí nhau đưa đến bản đánh giá dưới đây:
| Sao ở Mệnh | Sao ở cung Hạn | Trạng thái | Đánh giá |
|---|---|---|---|
| Tử, Phủ, Cự, Nhật, Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương (TP, CN, CNĐL) sáng | TP, CN, CNĐL | Sáng | Tốt đẹp toàn diện |
| Vũ, Tướng | Mờ | Giảm tốt chút ít | |
| SPLT, sbt | Sáng | May rủi đi liền | |
| SPLT, sbt | Mờ | Tai họa bất kỳ | |
| Sát phá Liêm Tham, Sát bại tinh (SPLT, sbt) sáng | SPLT, sbt | Sáng | Tốt đẹp toàn diện |
| Vũ, Tướng | Mờ | Giảm tốt chút ít | |
| TP, CN, CNĐL | Sáng | Khá giả, chưa như ý | |
| TP, CN, CNĐL | Mờ | Thành ít, bại nhiều | |
| Vũ, Tướng sáng | TP, CN, CNĐL | Sáng | Tốt đẹp toàn diện |
| SPLT, sbt | Mờ | Giảm tốt đôi chút | |
| Vô chính diệu | SPLT, sbt | Sáng | Tốt đẹp toàn diện |
| SPLT, sbt | Mờ | May ít, rủi nhiều | |
| TP, CN, CNĐL | Sáng | Tốt | |
| TP, CN, CNĐL | Mờ | May rất ít, rủi rất nhiều | |
| Vô chính diệu | Không Tuần, Triệt | Dở dang bế tắc | |
| Vô chính diệu | Có Tuần, Triệt | Tốt đẹp toàn diện |
Nếu cung Mệnh có sao mờ, mà Hạn đồng cung thì xấu. Càng xấu hơn nữa nếu Mệnh có Không Kiếp.
Vấn đề hành của tam hợp tuổi và tam hợp đại hạn
Ngoài cách phối hợp sáng, mờ giữa Mệnh và hạn, có một vị thầy đã đi xa hơn, cố công tìm thêm quy tắc mới cho việc xem hạn từng năm.
Việc xem hạn rất khó và dễ sai. Vì vậy, có nhiều tác giả đã ra công bới móc thêm qui tắc ngõ hầu giúp cho việc xem hạn thêm dễ dàng và chính xác. Trong số tác giả hữu công này, có cụ Thiên Lương đã chế ra một số qui tắc bổ túc: đó là những qui tắc dựa vào sự sinh khắc ngũ hành giữa 2 yếu tố mới, một là tam hợp tuổi và hai là tam hợp đại hạn. Trước khi bàn đến qui tắc của cụ, hãy định nghĩa 2 loại tam hợp này.
Định hình cho tam hợp tuổi và tam hợp đại hạn
Theo cụ Thiên Lương, tuổi con người, ngoài âm dương tính, còn có ngũ hành tính. Ông xếp 12 tuổi vào 4 hành (như thế là tứ hành, thay vì ngũ hành), mỗi hành gồm 3 tuổi, kể dưới đây:
Thân, Tý, Thìn, cả 3 thuộc hành Thủy.
Hợi, Mão, Mùi, cả 3 thuộc hành Mộc.
Dần, Ngọ, Tuất, cả 3 thuộc hành Kim.
Vì 3 tuổi vào một hành nên gọi là tam hợp. Mặt khác, gọi là tam hợp vì trong lá số, 3 cung trong bộ tam hợp tam chiếu lẫn nhau (ví dụ Thân được tam chiếu với Tý và Thìn, Thìn được tam chiếu bởi Thân và Tý, Tý được tam chiếu bởi Thìn và Thân).
Không tuổi nào thuộc hành Thổ. Điều này không thấy cụ Thiên Lương giải thích.
Còn tam hợp đại hạn cũng được tứ hành hóa giống như tam hợp tuổi tức là:
3 cung đại hạn Thân, Tý, Thìn, đều thuộc Thủy.
3 cung đại hạn Hợi, Mão, Mùi đều thuộc Mộc.
3 cung đại hạn Dần, Ngọ, Tuất đều thuộc Hỏa.
3 cung đại hạn Tỵ, Dậu, Sửu, đều thuộc Kim.
Sau khi tứ hành hóa như trên, cụ Thiên Lương mới đề ra qui tắc đánh giá tốt, xấu, dựa vào sinh khắc giữa ngũ hành của tam hợp đại hạn (viết tắt là: THĐH) và của tam hợp tuổi (THT).
Quy tắc đánh giá
Giữa 2 loại tam hợp, cụ Thiên Lương xem THT quan trọng hơn. Cứ mỗi lần THT được hình thành của THĐH sinh thì tốt, họa cũng tốt, chỉ khi nào khắc thì xấu. Cụ liệt kê 5 trường hợp dưới đây:
Hành THĐH sinh hành THT: tốt.
Hành THĐH hoà hành THT: tốt.
Hành THT sinh hành THĐH: gặp khó khăn, nhưng nếu nỗ lực thì có thể thắng được hoàn cảnh.
Hành THĐH khắc hành THT: xấu nhất, bị hoàn cảnh chế ngự.
Cụ Thiên Lương gọi 5 sự sinh khắc giữa 2 hành của 2 loại tam hợp này là yếu tố thiên thời. Ngoài ra, cụ còn kể 2 yếu tố địa lợi và nhân hoà nữa.
Địa lợi là sinh khắc song phương giữa hành củ cung Hạn và hành của Bản Mệnh.
Nhân hoà là sự hợp cách này không hợp cách giữa các cách chính tinh ở cung Mệnh và cung Hạn.
Cụ cho rằng nếu được lợi cả 3 yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa thì bộc phát nhanh và mạnh, chuyển hướng cuộc đời.
Nhận xét về sự khám phá của cụ Thiên Lương
Xét về ưu điểm, có thể nói rằng:
Cụ Thiên Lương đã có nhiều vấn đề xem hạn và quan tâm chính đáng đến các qui tắc chi phối hạn.
Cụ Thiên Lương có sáng chế thêm qui tắc thiên thời và định hình cho 2 tam hợp đại hạn và tuổi. Sự sáng chế này rất mới lạ, chưa được sách vở nào đề cập, có lẽ đó là kinh nghiệm riêng của cụ lúc hành nghề. Qui tắc thiên thời của cụ có thể đóng góp thêm yếu tố để đánh giá cung hạn trong chi tiết.
Xét về khuyết điểm, có thể nói rằng:
Cụ Thiên Lương đã bỏ hành Thổ trong 2 loại tam hợp mà không giải thích lý do. Trong lý thuyết âm dương ngũ hành, Thổ là hành hết sức quan trọng, lẽ ra phải có một chỗ đứng, nếu không hơn các hành khác thì cũng đồng đẳng với hành khác.
Cụ Thiên Lương không đặt ưu tiên quan trọng giữa 3 yếu tố thiên thời, địa lợi và nhân hoà. Thành thử, không rõ được cái nào ưu thế, cái nào kém thế. Cụ cũng không cắt nghĩa tại sao lại mệnh danh 2 loại tam hợp đó là yếu tố thiên thời. Danh hiệu địa lợi, nhân hoà cũng không được giải thích cách gọi. Điều này có thể gây ngộ nhận: người ta có thể ngờ rằng thiên thời là nhất, địa lợi là nhì, nhân hoà là ba. Tuy nhiên, cụ Thiên Lương không nói rõ như vậy. Hầu như cụ cho cái nào cũng tương đương cả.
Vì không đặt ưu tiên, nên Cụ Thiên Lương không tìm được lối thoát cho các trường hợp được cái này mà mất 2 cái kia, hoặc được 2 cái mất 1 cái.
Cụ còn cho rằng phải có thêm yếu tố khác nữa để đánh giá, từ đó vô hình chung mặc thị nhận rằng 3 yếu tố thiên thời, địa lợi và nhân hòa chưa đủ quyết định. Nhưng, cụ lại không liệt kê yếu tố khác là yếu tố nào.
Tóm lại, chúng ta chỉ nên ghi nhận qui tắc thiên thời của cụ Thiên Lương để biết thêm, để chứng nhận không nên cho đó là lý tính thành văn.
Những yếu tố căn bản phân biệt
Sự kiểm kê các yếu tố phức tạp nói trên đưa người xem số đến một đám rừng dữ kiện, nhiều khi rất tương phản nhau. Những ai mới học dễ bị lạc vào mê hồn trận đó.
Vì vậy, để thử mở một lối thoát, ta phải tìm cách phân biệt, được đến đâu hay đến đó, những yếu tố căn bản và những yếu tố phụ thuộc, để dựa vào yếu tố căn bản mà suy luận, châm chước. Vậy, trong lá số Tử-Vi, cái gì là căn bản?
Bản Mệnh là căn bản
Cái gì phù sinh cho Bản Mệnh thì có lợi căn bản. Như vậy, Cục, chính tinh, một phụ tinh, cung an Thân, Thân Quan, Tài, Di … phải cùng nhau phù sinh cho Bản Mệnh thì mới hay. Càng ít yếu tố sinh, Bản Mệnh càng kém.
Trong trường hợp xem Cục như tượng trưng cho hậu vận thì Cục phải được coi là căn bản trong hậu vận và cần các yếu tố khác phù sinh cho Cục.
Âm Dương thuận lý là căn bản
Nếu gặp âm dương thuận lý (tuổi dương, Mệnh đóng ở cung dương, tuổi âm, Mệnh đóng cung âm) thì có thể thêm 3 lợi điểm quan trọng khác: cung Mệnh được thuận lý, cung Thân được thuận lý và 5 cung cường được thuận lý theo.
Tóm lại, có 7 lãnh vực quan yếu nhất của con người được hưởng lợi điểm này. Nhờ vậy, toàn thể cuộc đời, từ Phúc tiền kiếp, Mệnh tiền vận, Thân hậu vận cho đến những môi sinh then chốt của con người cùng tốt, như môi trường nghề nghiệp (Quan), xã hội (Di), sinh kế (Tài), gia đạo (Phu Thê). Tốt ở đây là tốt về âm dương.
Những cung cường là căn bản
Đối với con người đại chúng, sống ở đời, bao giờ cũng có những mối quan tâm chính yếu cần phải hộ suốt kiếp: đó là những quan tâm về nghề nghiệp, về tiền bạc, về gia đạo về thời thế. Nếu nghề nghiệp hanh thông, tiền bạc hưng vượng, gia đạo đầm ấm thời thế thuận lợi thì hạnh phúc cá nhân được bảo đảm. Vì vậy những cung Quan, Tài, Phu Thê, Di quan trọng: đó là những cung bảo đảm cho hạnh phúc ngoại tại.
Còn hạnh phúc cơ hữu do những yếu tố nội tại của con người khác diễn tả trong 3 cung Phúc, Mệnh và Thân nói lên cá tính, chí hướng, khả năng cá nhân.
Đối với vài hạng người đặc biệt như bị bệnh kinh niên, tật què, đui, câm điếc, cùi … thì cung Tật là căn bản vì lúc bấy giờ sức khỏe chi phối toàn cuộc đời người. Đối với người tuyệt tự thì cung Tử chi phối vào một thời gian nào đó. Đối với người già hay trẻ con dưới 13, cung nào cũng là căn bản, xét về mặt thọ yểu.
Chính tinh là căn bản
Trong cung có 2 loại sao: chính và phụ. Sao chính quyết định toàn diện. Sao phụ chỉ hỗ trợ hoặc giảm thiểu. Cho nên chính tinh quan trọng hơn phụ tinh.
Gặp chính tinh hãm, cần có nhiều phụ tinh tốt với lại.
Nhiều cách phụ tinh hợp vì là căn bản
Phụ tinh chỉ đóng vai trò thứ yếu, có tính cách bổ túc cho chính tinh. Tuy nhiên, nếu gặp chính tinh xấu bấy giờ phải xem nhiều phụ tinh tốt là căn bản.
Phụ tinh đó chẳng những phải đông đảo mà còn phải hợp vị: sao nào có ý nghĩa gì phải đóng ở cung loại đó.
Hợp vị còn có nghĩa là hợp cách, tức là nhấn mạnh đến thuần cách, về văn cũng như về võ.
Có thể kể 18 cát tinh hỗ trợ. Đó là: Xương, Khúc, Tả, Hữu, Khôi, Việt, Khoa, Quyền Lộc, Đào, Hồng, Lộc Tồn, Quang, Quý, Thai, Tọa, Long, Phượng. Càng hội tụ nhiều càng hay.
Còn sát tinh phải đi liền với võ cách.
Như vậy, xét ra có đến 5 yếu tố căn bản. Nếu hội đủ thì lá số có thể xem như tối hảo. Trên thực tế, có thể có vài yếu tố bất kỳ, như được yếu tố này thì mất yếu tố kia, khiến cho vấn đề xếp loại theo thứ tự quan trọng được đặt ra. Vì vậy, cần phải lọc lại một lần nữa tầm quan trọng của các yếu tố căn bản.
Theo thiển nghĩ, có thể gạn lọc còn 3 yếu tố tối ư quan trọng là: Bản Mệnh (hay Cục), Âm Dương thuận lý, và cung cường tốt đẹp.
Không thể chế giảm hơn nữa vì 3 yếu tố này xét ra bất khả phân. Sở dĩ phải hy sinh 2 yếu tố chính tinh và phụ tinh là vì cả 2 được gói ghém trong yếu tố về cung cường tốt đẹp.
Trong trường hợp có 2 thuận lợi 1 bất lợi, hoặc 1 thuận lợi 2 bất lợi thì lá số không toàn hảo, trở ngại từ bên trong hoặc từ bên ngoài, phải đấu tranh chật vật mới tìm được hạnh phúc, mà hạnh phúc này cũng không đầy đủ, hoặc không lâu bền, được phương diện này thì kém phương diện kia, hoặc nếu đầy đủ thì mỗi phương tiện không cao lắm.
Nếu phải cân nhắc xa hơn nữa, để đánh giá sự quan trọng của Bản Mệnh, của Âm Dương, của những cung cường thì theo thiển nghĩ, phải xem những cung cường tốt đẹp là ưu tiên quan trọng. Những lý do chủ quan có thể giải thích quan điểm này là:
Cung cường tốt đẹp đủ bảo đảm hạnh phúc con người về nhiều mặt hết sức quan yếu như thời thế, nghề nghiệp, tài sản, gia đạo, cá tính dòng họ.
Cung cường tốt đẹp, vừa bảo đảm sự thành công và thành nhân là 2 cứu cách phải đạt của bất luận người nào.
Bản Mệnh bị khắc hay Âm Dương nghịch lý chỉ bao hàm những khó khăn, trở ngại mà cuộc đời gặp phải, hoặc bao hàm thời gian thụ hưởng ngắn ngủi. Hai điều xét ra không quan trọng bằng sự thành nhân và thành công. Thà rằng con người thành đạt 2 mục tiêu này mà vất vả hoặc ít hưởng còn hơn là có được một cuộc đời bình thản, trường thọ mà thiếu danh phận, thiếu nhân cách.
Tiêu chuẩn hạnh phúc của con người thế tục là danh phận và nhân cách chớ không hẳn là trường thọ, an nhàn. Đó là quan niệm của Nguyễn Công Trứ khi ông viết:
Đã mang tiếng ở trong trời đất.
Phải có danh gì với núi sông.
Quan niệm đó đề cao yếu tố nhân định để thành công, không chịu thúc thủ, ẩn nhẫn, an phận, kéo dài một cuộc sống bình thản, không tai họa nên không có cơ thành đạt lớn. Đó là quan niệm "tận nhân lực mới tri thiên mạng", tức là làm hết sức mình rồi mới biết vận mình tới đâu. Nó đối chọi với quan niệm bất động chờ thời, hay cố ý tránh cái khó, tránh va chạm, để an hưởng thái bình cho cá nhân, không góp phần lợi ích gì cho xã hội. Thuyết Tử-Vi nặng tinh thần nho học, trọng chữ Sinh, trọng đời, đề cao yếu tố thành đạt của người thế tục. Còn Tử hoặc Yểu là hai vấn đề nằm ngoài sự lựa chọn của người đời.
Vẫn biết rằng sự đối khắc về ngũ hành của Bản Mệnh, sự nghịch lý của Âm Dương là hai điểm bất lợi của luật vũ trụ đối với con người. Nhưng, luật vũ trụ không đơn độc chi phối nhân sinh, chỉ phản ảnh một triển vọng chớ không nói lên một việc phải xảy ra. Chúng ta không coi nhẹ tiền định, cũng không nên đánh giá thấp nhận định. Những nỗ lực góp phần biến cãi ít nhiều số mệnh, có thể làm cho triển vọng của lá số dễ thể hiện hơn hay thể hiện mạnh mẽ hơn, đến một chừng mực nào đó. Ngược lại, người bó tay bất động ỷ lại, phó mặc cho Con Tạo thì triển vọng sẽ thấp hơn. Lúc bấy giờ những điểm xấu về Bản Mệnh và khoa điểm nghịch lý về Âm Dương sẽ dập tắt con người.
Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc
