Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Năm yếu tố căn bản gạn lọc còn ba để thoát mê hồn trận

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn28/09/202611 phút đọc2 lượt đọc
Năm yếu tố căn bản gạn lọc còn ba để thoát mê hồn trận

Sau từng ấy yếu tố về Âm Dương Ngũ Hành, cách cục, cung, sao, hạn, người mới học rất dễ lạc vào một đám rừng dữ kiện tương phản nhau. Các bậc tiền bối đã tìm cách gạn lọc dần: từ năm yếu tố căn bản xuống còn đúng ba, không thể rút gọn hơn được nữa. Nhưng ngay cả ba yếu tố tối hậu ấy cũng chưa phải lời giải cuối cùng...


Đi hết một vòng từ Âm Dương Ngũ Hành, cách cục, cung, sao cho tới hệ thống hạn kỳ đan cài, người mới học thường có cảm giác bị nhấn chìm giữa một rừng dữ kiện, mà không ít dữ kiện lại mâu thuẫn nhau. Để bước ra khỏi mê cung ấy, việc trước tiên là phân biệt cho ra đâu là yếu tố căn bản, định đoạt phần lớn thế cuộc, và đâu chỉ là yếu tố phụ, đóng vai trò chiết trung, hiệu chỉnh thêm. Chỉ khi phân được gốc với ngọn, người xem số mới có chỗ đứng vững để lấy phần căn bản làm nền suy luận, rồi tùy nghi cân đối các phần phụ. Vậy giữa một lá số Lý số học chi chít chi tiết, cái gì mới thật là căn bản?

Căn bản thứ nhất: Bản Mệnh

Yếu tố đứng đầu, và cũng là cái nền của mọi yếu tố căn bản, là Bản Mệnh. Thứ gì nuôi dưỡng Bản Mệnh thì mang lại lợi ích gốc rễ. Cho nên Cục, Chính Tinh, phụ tinh, cung an Mệnh, Thân, Quan, Tài, Di và các cung khác phải cùng hướng về việc sinh trợ Bản Mệnh thì lá số mới đáng gọi là hay. Số yếu tố nâng đỡ Bản Mệnh càng ít, Bản Mệnh càng yếu. Với quan điểm coi Cục là biểu tượng của hậu vận, Cục lúc này cũng được xem là căn bản riêng của chặng hậu vận, và cần có những yếu tố khác quay lại sinh trợ chính Cục.

Căn bản thứ hai: Âm Dương thuận lý

Khi lá số đạt được Âm Dương thuận lý, tức người tuổi Dương an Mệnh cung Dương, hoặc người tuổi Âm an Mệnh cung Âm, thì kéo theo ba lợi thế trọng đại: cung Mệnh thuận lý, cung Thân thuận lý theo, và năm cung cường còn lại cũng thuận lý nương theo. Cộng lại, bảy lĩnh vực hệ trọng nhất của một đời người cùng thụ hưởng lợi ích từ điểm này. Nhờ vậy cả cuộc đời đều được sáng sủa lây: từ cung Phúc đại diện tiền kiếp, cung Mệnh đại diện tiền vận, cung Thân đại diện hậu vận, cho đến các môi trường then chốt như bối cảnh nghề nghiệp ở cung Quan, môi trường xã hội ở cung Di, sinh kế ở cung Tài, mái ấm ở cung Phu Thê. Xin nhắc lại rằng cái tốt đang nói ở đây chỉ xét trên bình diện Âm Dương, chưa kể tới các yếu tố khác đã hay sẽ bàn đến ở những phần còn lại.

Căn bản thứ ba: các cung cường

Người sống giữa cuộc đời bình thường, ai cũng mang theo mình vài mối lo suốt kiếp: nghề nghiệp, tiền của, mái nhà, và thời thế. Nghề nghiệp suôn sẻ, tiền của đủ đầy, gia đình êm ấm, thời thế thuận chiều thì có thể coi hạnh phúc cá nhân đã được bảo chứng. Bởi vậy các cung Quan, Tài, Phu Thê, Di mang tầm quan trọng lớn đến thế; chúng chính là những cung bảo chứng cho thứ hạnh phúc hướng ngoại, thứ hạnh phúc mà con người phải nhờ vào hoàn cảnh bên ngoài mới có được. Còn thứ hạnh phúc cơ hữu, vốn nằm sẵn trong bản thân mỗi người, thì do ba cung Phúc, Mệnh, Thân phản ánh, thể hiện tính cách, chí hướng và năng lực riêng của từng người.

Bảy lĩnh vực vừa kể gần như phủ kín mọi điều một con người bình thường phải bận tâm cả đời, từ nền tảng bên trong đến hoàn cảnh bên ngoài. Cũng vì thế Âm Dương thuận lý được đặt ngang hàng với Bản Mệnh trong hàng căn bản, chứ không phải là chi tiết nhỏ có thể bỏ qua.

Với một số hạng người đặc biệt, thứ tự căn bản này có thể thay đổi. Người mang bệnh lâu năm, tàn tật, mù, câm điếc, cùi và những dạng tương tự thì cung Tật mới là căn bản, vì lúc này sức khỏe đã chi phối toàn bộ cục diện đời họ. Người tuyệt tự thì cung Tử ảnh hưởng đến một giai đoạn nhất định nào đó trong đời. Còn với người rất già hoặc trẻ nhỏ dưới mười ba tuổi, riêng về thọ hay yểu thì cung nào cũng có thể trở thành căn bản.

Căn bản thứ tư: Chính Tinh

Mỗi cung chứa hai hạng sao, sao chính và sao phụ. Sao chính định đoạt phần lớn dáng vẻ của cung; sao phụ chỉ hỗ trợ hoặc làm giảm bớt cái đã có sẵn. Do đó, Chính Tinh luôn nặng ký hơn phụ tinh. Chính Tinh mà hãm địa thì phải có thật nhiều phụ tinh tốt mới mong gỡ gạc được phần nào. Nghe qua thì tưởng giản đơn, nhưng đây chính là kim chỉ nam cho cách đọc từng cung, giống như người đi đường phải nhận ra con lộ chính trước khi để ý đến những ngõ rẽ nhỏ hai bên. Người mới học, vì nôn nóng muốn thấy ngay kết quả, hay dồn hết sự chú ý vào các phụ tinh lặt vặt, trong khi việc đúng đắn là xác định trước Chính Tinh nào đang tọa thủ, sáng hay hãm, rồi mới xét tới phụ tinh để thêm bớt cho vừa mức.

Căn bản thứ năm: phụ tinh hợp vị, hội nhiều cách

Sau Chính Tinh còn một lớp yếu tố nữa, trong hoàn cảnh nhất định cũng trở thành căn bản. Phụ tinh vốn chỉ là vai phụ, bổ khuyết cho Chính Tinh. Nhưng gặp Chính Tinh xấu thì lượng phụ tinh tốt lại thành căn bản, gánh vai vớt vát. Các phụ tinh tốt ấy vừa phải đông vừa phải hợp vị, nghĩa là sao mang ý nghĩa nào thì phải nằm đúng loại cung tương ứng với ý nghĩa đó mới phát huy hết tác dụng. Hợp vị còn hàm một tầng ý nữa là hợp cách, tức nhấn mạnh sự thuần nhất của cách: nghiêng về văn thì thuần văn, nghiêng về võ thì thuần võ, không lẫn lộn.

Có thể liệt kê mười tám cát tinh thường giữ vai trò hỗ trợ theo hướng này: Xương, Khúc, Tả, Hữu, Khôi, Việt, Khoa, Quyền, Lộc, Đào, Hồng, Lộc Tồn, Quang, Quý, Thai, Tọa, Long, Phượng. Quy tụ được càng nhiều sao trong số ấy thì càng tốt. Riêng Sát Tinh, muốn phát huy mặt tích cực thì nhất thiết phải đi cùng võ cách, không thể đứng chung với văn cách. Một sao mang bản chất cứng rắn, quyết liệt mà lọt vào giữa lá số thiên về văn nhã, điềm đạm thì chỉ gây xáo động, khó mà bổ trợ được điều gì.

Tổng cộng, có năm yếu tố được coi là căn bản: Bản Mệnh, Âm Dương thuận lý, các cung cường, Chính Tinh và phụ tinh hợp vị. Lá số hội đủ cả năm thì kể là cực tốt. Ngoài thực tế, hầu như luôn có một vài yếu tố bất lợi chen vào, được cái này thì hụt cái kia. Do đó vấn đề xếp thứ tự quan trọng lại được đặt ra lần nữa, buộc phải sàng lọc thêm tầm quan trọng của chính các yếu tố căn bản. Suy cho cùng, năm yếu tố này nặng nhẹ không đều nhau: có yếu tố mà thiếu đi thì cả lá số sụp đổ, có yếu tố thiếu đi chỉ làm nhạt bớt cái hay vốn do các yếu tố khác mang lại. Chính sự chênh lệch ấy đòi hỏi người xem số phải gạn thêm một tầng nữa.

Gạn xuống còn ba yếu tố tối hậu

Nhiều bậc tiền bối đã cô đọng năm yếu tố trên xuống đúng ba, và coi đó là những yếu tố quan trọng đặc biệt: Bản Mệnh (hoặc Cục), Âm Dương thuận lý, cùng các cung cường tốt đẹp. Không thể thu gọn thêm, bởi ba yếu tố này gắn chặt vào nhau như ba chân của một chiếc đỉnh, bỏ bất kỳ chân nào cũng làm lệch cả hệ thống, khiến thế đứng của lá số không còn vững. Có thể lược hẳn Chính Tinh và phụ tinh là vì hai yếu tố đó đã được gói sẵn trong việc các cung cường tốt đẹp rồi, không cần tách riêng.

Nếu lá số có hai điều thuận và một điều nghịch, hoặc một thuận hai nghịch, thì bảng sao cung ấy coi như chưa toàn hảo. Trở ngại có thể phát xuất từ bên trong hay từ bên ngoài, con người phải vật lộn nhiều mới tìm được hạnh phúc, và hạnh phúc tìm được cũng thiếu trọn vẹn hoặc thiếu bền lâu: được mặt này thì hụt mặt kia, hay có đủ các mặt thì mỗi mặt cũng chỉ ở mức khiêm tốn.

Cần xét thêm để xác định thứ bậc giữa Bản Mệnh, Âm Dương và các cung cường thì phần đông tiền bối đặt cung cường tốt đẹp lên hàng đầu. Có mấy lý do chủ quan để lý giải quan điểm này. Thứ nhất, cung cường tốt đẹp bảo đảm hạnh phúc trên rất nhiều phương diện thiết yếu như thời thế, nghề nghiệp, của cải, gia đạo, cá tính dòng họ. Thứ hai, nó bảo đảm luôn cả thành công lẫn thành nhân, hai đích đến mà ai cũng cần đạt tới. Thứ ba, Bản Mệnh bị khắc hay Âm Dương nghịch lý cũng chỉ hàm ý những gian nan cuộc đời phải gặp, hoặc một quãng hưởng thụ ngắn ngủi, và hai điều này kém quan trọng hơn thành nhân, thành công. Thà đạt được hai mục tiêu lớn kia dù vất vả hay ít hưởng thụ, còn hơn sống một đời yên ả, thọ dài mà trống vắng danh phận và nhân cách.

Chuẩn mực hạnh phúc của người sống giữa đời thường là danh phận và nhân cách, chứ không nhất thiết là sống lâu hay nhàn hạ. Nguyễn Công Trứ đã gửi gắm quan niệm ấy trong hai câu:

Đã mang tiếng ở trong trời đất,
Phải có danh gì với núi sông.

Quan niệm này đề cao phần nhân định để đi đến thành đạt, không chấp nhận thái độ khoanh tay, nhẫn nhịn, an phận, kéo dài một cuộc sống yên bình song thiếu cơ hội vươn lên lớn lao. Đó là tinh thần của câu "tận nhân lực mới tri thiên mạng", nghĩa là phải dốc hết sức mình trước, rồi mới biết vận mình đi tới đâu. Tinh thần ấy đối lập trực diện với lối ngồi yên đợi thời, hoặc cố né mọi khó khăn, va chạm, chỉ cầu hưởng thái bình cho riêng mình mà không góp ích gì cho xã hội quanh đó. Xét đến cùng, Lý số học thấm đậm tinh thần Nho học: coi trọng chữ Sinh, coi trọng cuộc sống hiện tại, đề cao sự thành đạt của con người thế tục. Còn chuyện Tử hay Yểu thì nằm hẳn ngoài phạm vi con người có thể tự chọn.

Ta biết rằng sự đối khắc Ngũ Hành của Bản Mệnh, hay sự nghịch lý của Âm Dương, là những bất lợi mà luật vũ trụ đặt lên con người. Nhưng luật vũ trụ không một mình chi phối trọn vẹn nhân sinh; nó chỉ cho thấy một triển vọng, không phải một thực trạng đã đóng khung, cũng không phải điều nhất định sẽ xảy ra.

Những nhà Lý số học đích thực không xem nhẹ tiền định, nhưng cũng chẳng hạ thấp nhân định. Sự nỗ lực của mỗi cá nhân hoàn toàn có thể góp phần sửa đổi ít nhiều số mệnh, khiến triển vọng sẵn có của lá số được thể hiện dễ dàng hơn, hoặc rực rỡ hơn mức thường. Ngược lại, người khoanh tay bất động, phó mặc hết cho Con Tạo, thì triển vọng ấy chắc chắn tụt xuống nhiều; và khi đó chính những điểm xấu sẵn có về Bản Mệnh, những điểm nghịch lý sẵn có về Âm Dương, mới có dịp nhấn chìm hẳn con người. Dẫu vậy, đây chỉ là một quan niệm giữa nhiều quan niệm có thể có. Nêu ra ở đây không nhằm thuyết phục tuyệt đối, chỉ để mở lối cho ai muốn tìm hiểu sâu hơn về sau, bởi việc dám lập nên một quan niệm làm chuẩn, giữa muôn vàn dữ kiện phức tạp và trái ngược, mới thật sự thể hiện được cái thuật của người đoán số.

Cả chặng đường dài từ năm yếu tố căn bản thu về ba, rồi từ ba yếu tố ấy lại phải cân nhắc thêm phần nhân định bên cạnh phần thiên định, cho thấy rõ Lý số học không phải cỗ máy cứ tra bảng là ra đáp số. Nó buộc người vận dụng phải biết đâu là cái gốc bất di bất dịch của lá số, đâu là khoảng trống mà chính con người có thể tự tay lấp đầy hoặc để trống. Vì lẽ đó, dù mang dáng vẻ một môn tính toán đầy quy tắc, khoa này vẫn luôn cần đến bản lĩnh và vốn từng trải của người cầm bút đoán số, không thể phó thác hoàn toàn cho một công thức cố định nào.

Nguồn: Hi Di Trần Đoàn với nền văn hóa Trung Hoa đời Tống (Dương Thành biên soạn).

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn