Bài tổng quan
Phú Giải Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật
Khôi Việt, Xương Khúc và Tả Hữu là sáu cát tinh quyết định khoa danh, tài hoa và sự phò trợ trong một lá số. Mệnh, Thân có Thiên Khôi, Thiên Việt tất là con trưởng, nếu không về sau cũng đoạt vai trưởng, và cách Khôi tọa Việt chiếu cho người như Giả Nghị đời Hán, tuổi nhỏ đã đỗ cao. Văn Xương, Văn Khúc tọa Mệnh là người thanh nhã, nữ mệnh có Xương, Khúc hội chiếu thì nhan sắc khuynh thành như Dương Quý Phi, song cũng thường mắc tiếng đa dâm. Tả Phụ, Hữu Bật tọa Mệnh là người sung sướng, ít lo nghĩ, đồng cung gặp Khoa, Quyền, Lộc thì ví như mặc áo gấm tía. Hữu Bật đơn thủ một mình thì phải xa quê hương bản quán. Mệnh giáp Tả, giáp Hữu thì sớm có duyên vui vầy cùng khách giai nhân.
Mục lục · 3 phần
Thiên Khôi, Thiên Việt
Thiên Khôi, Thiên Việt tại cung Mệnh
Thiên Khôi, Thiên Việt và ngôi vị con trưởng, bậc đàn anh
Mệnh, Thân có Thiên Khôi, Thiên Việt tọa thủ tất là con trưởng; nếu không, về sau cũng đoạt lấy vai trưởng, hoặc phải cáng đáng gia đình như con trưởng vậy. Người có Khôi, Việt tọa Mệnh, Thân là kẻ tài giỏi, ở trong nhà hay ra ngoài đều đứng vào hàng đàn anh.
Thiên Khôi, Thiên Việt và đường khoa bảng
Mệnh có Khôi tọa thủ, Việt chiếu – hay ngược lại – như Giả Nghị đời Hán, tuổi nhỏ đã đỗ đạt cao. Cùng cách ấy mà gặp thêm Hóa Khoa, cùng Tuần, Triệt, Thiên Không, Địa Không, thì chỉ một lần đi thi cũng công thành, danh toại. Mệnh, Thân có Khôi, Việt là người khoa bảng, đi thi tất đỗ cao, ví như bẻ được cành quế trên cung trăng. Khôi tọa thủ, Việt chiếu – hay ngược lại – là người học rộng, tài cao; nếu được thêm Văn Xương, Văn Khúc, Hóa Khoa, Thái Tuế, Tấu Thư hội hợp thì thật hoàn mỹ, đứng vào hàng văn tài lỗi lạc, uyên bác.
Thiên Khôi tọa Mệnh gặp nhiều sao sáng sủa hội hợp thì uy danh lừng lẫy, hưởng giàu sang trọn đời – Mệnh an tại Ngọ có Khôi, Việt, Văn Xương, Văn Khúc gặp Tử Vi, Thiên Đồng, người tuổi Tân là thượng cách. Mệnh an tại Sửu, Mùi có Khôi, Việt đồng cung, được Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc, Văn Xương, Văn Khúc hội hợp thì giàu sang, vinh hiển hơn người. Văn Xương, Văn Khúc, Lộc Tồn hội đủ mà không bị Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp xâm phạm là người học rộng, tài cao, giàu sang, làm nên vinh hiển.
Mệnh, Thân có Khôi, Việt gặp Thiên Quan, Thiên Phúc, Quý Nhân hội hợp là người có bằng cấp cao, chỉ một lần đi thi đã thành công, toại chí. Mệnh có Khôi, Việt, Long Trì, Phượng Các, Văn Khúc, Văn Xương cùng Hóa Khoa hội hợp thì đi thi ắt đỗ cao, dễ dàng như bẻ cành quế hoa. Cung Huynh Đệ có Khôi, Việt thì có anh em làm nên danh giá; cùng Mệnh Thân đã có Khôi Việt thì càng chắc là người khoa bảng.
Thiên Khôi, Thiên Việt và các cách phối hợp khác
Mệnh Thân có Thiên Khôi, Thiên Việt, Thiên Lương, Thiên Tướng hội hợp là con nhà danh giá, vọng tộc. Mệnh có Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Hóa Quyền, Lộc Tồn hội hợp mà không bị Thiên Hình, sát tinh xâm phạm là người học rộng, tài cao, ắt làm nên hiển đạt, giàu có. Mệnh, Thân có Thiên Khôi, Thiên Việt, Hóa Quyền hay Hóa Lộc: trai tất là trưởng nam, gái là trưởng nữ.
Nhưng Khôi, Việt gặp Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp hội hợp thì lại là người có tật, hoặc mắc bệnh kinh niên khó chữa. Ngược lại, Khôi, Việt gặp trung tinh tốt đẹp quần tụ thì hưởng phúc, sống lâu. Khôi, Việt, văn khoa mà gặp Đà La, Hóa Kỵ thì là người tài giỏi nhưng không gặp thời, thường phải sống ẩn dật như kẻ sĩ lánh đời. Mệnh an tại Tý có Thiên Khôi tọa thủ thì ngọc hành có nốt ruồi.
Thiên Khôi, Thiên Việt tại cung Quan Lộc, cung Tật Ách
Cung Quan Lộc có Khôi, Việt tọa thủ thì đường công danh thịnh đạt, lâu bền. Cung Tật Ách có Khôi, Việt tọa thủ mà gặp sao xấu thì như quan tướng đã suy tàn, hư hỏng. Cung Tật Ách có Thiên Khôi gặp Hóa Kỵ thì có tật ở đầu; gặp Đế Vượng thì trong mình có nhiều nốt ruồi; gặp Hóa Kỵ đồng thời với sao xấu khác thì có tật ở đâu cũng dễ nhận ra ngay.
Thiên Khôi, Thiên Việt tại cung Tử Tức, và các cách giáp Mệnh
Cung Tử Tức có Thiên Khôi, Thiên Việt tọa thủ tất sinh con quý, thông minh, đỗ đạt, hào kiệt. Cung Tử Tức an tại Mão, Dậu có Tử Vi gặp Thiên Khôi, Thiên Việt hội hợp thì có con cầu tự.
Cung Mệnh sáng sủa, tốt đẹp mà giáp Khôi, giáp Việt là người thông minh, được nhiều người quý mến, sớm hiển đạt. Cung Mệnh giáp Khôi, Việt lại giáp thêm Lộc Tồn thì rất giàu có, làm nên vinh hiển hơn người – tuổi Giáp, tuổi Canh, Mệnh an tại Mão hoặc Sửu mà được cách giáp này là thượng cách.
Văn Xương, Văn Khúc
Văn Xương, Văn Khúc tại cung Mệnh
Văn Xương, Văn Khúc đơn thủ và các vị trí đứng
Cung Mệnh có Văn Khúc, Văn Xương tọa thủ là người thanh nhã. Nữ mệnh có Văn Xương tọa thủ tính tình thanh tao, rất vượng phu ích tử. Có giai thoại Dương Quý Phi làm ví dụ: cung Mệnh của bà có Xương, Khúc hội chiếu nên nhan sắc khuynh thành, khiến vua Đường Huyền Tông và An Lộc Sơn đều say mê, điêu đứng. Nhưng đàn bà có Xương, Khúc tọa Mệnh tuy thông minh, lanh lợi, hưởng giàu sang, lại thường mắc tiếng đa dâm.
Mệnh, Thân an tại Sửu, Mùi có Xương, Khúc tọa thủ là người văn tài nổi tiếng, có danh ngay trong đời mình. Mệnh an tại Thìn, Tuất, Sửu, Mùi có Xương, Khúc là người học rộng, tài cao; nếu được thêm Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc hội chiếu thì mới hoàn toàn tốt đẹp, làm nên vinh hiển. Có giai thoại Giả Nghị làm ví dụ: Mệnh an tại Sửu có Xương, Khúc tọa thủ, Mùi xung chiếu, gặp Thiên Khôi, Thiên Việt hội hợp, nên tuổi trẻ đã đỗ đạt cao, sớm hiển đạt, khi ra làm quan được ở kế cận bên vua.
Mệnh an tại Sửu, Mùi có Thái Âm, Thái Dương tọa thủ đồng cung mà giáp Xương, giáp Khúc thì rất quý hiển, ví như ngọc cành vàng – Thái Dương là "đơn trì", Thái Âm là "quế trì". Xương, Khúc đồng cung tại Sửu, Mùi là cách rất tốt đẹp, làm nên vinh hiển, phú quý song toàn; nếu gặp thêm Hồng Loan, Hóa Lộc thì đàn bà tuổi Giáp là người vượng phu ích tử, làm lợi cho chồng con, hưởng giàu sang trọn đời. Mệnh an tại Tý, Hợi sáng sủa có Xương, Khúc tọa thủ hay hội chiếu, nếu không quý hiển thì cũng giàu có vào hàng đại phú, phú gia địch quốc.
Nhưng Mệnh an tại Tỵ, Hợi có Xương, Khúc gặp Liêm Trinh đồng cung lại là người không lương thiện, có tính xảo trá, khoe khoang, thường vướng vòng tù tội. Xương, Khúc gặp Thái Tuế, Kình Dương hội hợp là người có tài lý luận, ngụy biện, thường làm nghề luật sư. Mệnh an tại Ngọ có Văn Xương – vốn thuộc Dương Kim – tọa vào cung Ngọ thuộc Dương Hỏa, bị khắc chế, sách xưa cho là nguy; nhưng nếu được thêm sao hành Thủy tọa thủ thì lại thành đại khí, có sự nghiệp lớn lao, danh tiếng. Văn Xương gặp Quả Tú đồng cung là người cô độc, xa lánh việc trần tục, ví như Trương Đế sư đi tìm tiên.
Mệnh an tại Ngọ có Thái Dương tọa thủ, Văn Xương đồng cung là người lịch duyệt, trên đời khó ai bì kịp. Xương, Khúc ở thế Miếu, Vượng đồng cung như Phong Đỗ ngày trước – văn võ toàn tài, kẻ dưới trướng rất đông. Mệnh có Thái Dương, Thái Âm Đắc Địa lại thêm Xương, Khúc hội hợp thì thật đắc lực. Nhưng Văn Khúc rất sợ gặp Hóa Kỵ; hạn có cách này tất gặp nguy đến tính mạng.
Nữ mệnh có Văn Xương, Thiên Riêu tọa thủ đồng cung thì mới lớn đã dâm đãng. Mệnh, Thân có Văn Xương, Văn Khúc, dù kém cũng làm được chức trưởng ấp hay lý trưởng. Nhưng nữ mệnh có Văn Xương, Văn Khúc hãm địa thì tuy được nhiều người ve vãn, lại mang tiếng xấu.
Mệnh an tại Dần, Mão có Xương, Khúc gặp Phá Quân, Phá Toái hay Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp hội hợp thì phải bỏ gia đình, lang thang phiêu bạt, suốt đời nghèo khổ, hay mắc tai họa tù tội, thường yểu mệnh. Xương, Khúc gặp Tả Phù, Hữu Bật đồng cung, thêm Kình Dương, Đà La hội hợp là người dị tướng, trong mình có nhiều nốt ruồi kín. Nhưng Văn Xương gặp Tả Phù đồng cung thì lại rất thông minh, giàu sang vinh hiển.
Có giai thoại Dương Quý Phi lần nữa: Khúc, Xương gặp Thái Dương, Thái Âm, Thanh Long, Long Đức hội hợp, tài sắc khuynh thành, khiến bao khách si tình mê mệt. Văn Khúc, Thiên Lương đồng cung là người chí khí hiên ngang – Mệnh an tại Ngọ gặp Lương, Khúc là thượng cách, hoặc Lương tại Ngọ, Khúc tại Tỵ là quý cách. Mệnh sáng sủa được Văn Khúc xung chiếu thì tốt đẹp như Mãi Nghị – nhân vật đỗ đạt cao, làm nên vinh hiển.
Mệnh an tại Thìn, Tuất, Mão, Dậu có Xương, Khúc, Phá Quân gặp Thiên Hình, Hóa Kỵ thì lao tâm khổ trí suốt đời, không được toại lòng. Liêm Trinh gặp Văn Xương đồng cung, hay Xương Khúc tọa cung Nô Bộc, thì công danh lận đận, phải bôn ba lao khổ, nếu không thì yểu mệnh. Xương, Khúc Đắc Địa gặp Thiên Cơ, Hóa Lộc hội hợp là người xinh đẹp, lại khéo tay nghề thêu thùa, canh cửi.
Văn Xương, Văn Khúc – Vũ Khúc
Văn Khúc, Vũ Khúc đồng cung ở thế Miếu, Vượng là người tài kiêm văn võ, như Lý Lăng làm đến tể tướng. Mệnh, Thân có Văn Xương, Vũ Khúc hội hợp là người văn võ toàn tài – có giai thoại Tôn Tẫn ứng với cách Vũ Khúc tọa Thân, Văn Xương xung chiếu, nên tài kiêm văn võ. Văn Khúc, Vũ Khúc, Tả Phù, Hữu Bật hội chiếu về Mệnh sáng sủa là người văn võ song toàn, thường hiển đạt về nghiệp võ hơn văn. Vũ Khúc ở thế Miếu, Vượng gặp Văn Khúc đồng cung là người tài kiêm văn võ, uy quyền hiển hách, danh tiếng lừng lẫy. Nhưng hạn đến cung Ngọ hay Sửu gặp Tham Lang, Vũ Khúc, Văn Khúc hội hợp thì phải đề phòng tai nạn sông nước.
Văn Xương, Văn Khúc giáp Mệnh
Mệnh giáp Văn Xương, giáp Văn Khúc – hay được hai sao ấy chiếu về – mà gặp cát tinh là người có duyên. Mệnh, Thân giáp Xương, giáp Khúc thì rất quý hiển. Mệnh sáng sủa giáp Xương, giáp Khúc là người thông minh, tất quý hiển; cách Mệnh an tại Sửu, cung Tý có Văn Khúc, cung Dần có Văn Xương tọa thủ, được xem là đệ nhất cách. Mệnh giáp Xương, giáp Khúc thì ra ngoài thường gần gũi những người quyền quý. Cung Quan Lộc giáp Xương, giáp Khúc, người tuổi Đinh thì đỗ đạt cao.
Văn Xương, Văn Khúc tại cung Thân, cung Phu Thê, cung Phúc Đức, cung Nô Bộc – Tật Ách
Cung Thân có Văn Xương, Văn Khúc gặp Thiên Cơ là người dâm loạn, tới già còn mơ tưởng chuyện trai gái. Cung Phu Thê an tại Tý, Hợi có Thái Âm, Văn Khúc đồng cung là số lấy công chúa hay phò mã, hoặc người thường thì lấy được vợ đẹp, con nhà khuê các, trâm anh thế phiệt. Cung Phu Thê an tại Sửu, Mùi có Xương, Khúc đồng cung, hay một tọa thủ một xung chiếu, thì sống lâu như Bành Tổ.
Cung Phúc Đức có Xương, Khúc hãm địa gặp Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp hoặc Phá Quân, Thiên Lương hội hợp thì phúc bạc, suốt đời không toại lòng, lại phải ly hương, bôn ba mới đủ ăn. Nhưng cung Phúc Đức an tại Ngọ có Tử Vi tọa thủ, Khúc Xương ngoại chiếu, thì ví như cây cột chống trời, cứu giải được nhiều tai họa, hưởng phúc dồi dào.
Có một câu phú lấy tích Nhan Hồi làm ví dụ: Mệnh an tại Dần có Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp hội hợp Mệnh Thân, hạn gặp Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Thương, Thiên Sứ, Thất Sát, Kình Dương, Đà La lưu niên, nên phải chết non – vì Xương, Khúc vốn tối kỵ Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp hay Thiên Thương, Thiên Sứ: gặp phải thì dù có học cũng chẳng thành đạt. Người tuổi Kỷ, Tân, Nhâm có Xương, Khúc tọa Mệnh, hạn đến cung Thìn, Tuất phải đề phòng tai nạn sông nước, có khi đâm đầu xuống sông tự vẫn. Nhưng Xương, Khúc Đắc Địa gặp Lộc Tồn đồng cung là người đa tài, tất nhiên hiển đạt hơn người.
Cung Nô Bộc hay Tật Ách có Xương, Khúc gặp Thiên Thương, Thiên Sứ – nếu Thân cư Thiên Di mà hạn đến đúng cung ấy – thì phải đề phòng tai nạn có thể nguy đến tính mạng (cổ nhân gọi tên riêng: "Văn Quế" là tên riêng của Văn Xương đi cùng Thiên Sứ tức Truyền Sứ thần; "Văn Hoa" là tên riêng của Văn Khúc đi cùng Thiên Thương tức Hư Hao thần – hai vị này thường đem tai ương, họa hại). Mệnh an tại Tỵ, Hợi có Liêm Trinh tọa thủ gặp Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Hình hội chiếu thì khó đỗ đạt; nếu gặp nhiều cát tinh cứu giải thì cũng có bằng cấp, nhưng đường đời vẫn gặp nhiều rắc rối.
Tả Phụ, Hữu Bật
Tả Phụ, Hữu Bật tại cung Mệnh
Tả Phụ, Hữu Bật đơn thủ và các vị trí đứng
Mệnh, Thân có Tả Phụ, Hữu Bật tọa thủ là người sung sướng, không phải lo lắng nhiều; gặp thêm nhiều sao sáng sủa tốt đẹp thì suốt đời hưởng lộc, gặp may mắn, sống lâu. Tả, Hữu đồng cung gặp Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc hội hợp ví như người mặc áo gấm tía, rất quý, hưởng giàu sang, phúc thọ.
Mệnh, Thân có Tả Phụ gặp cát tinh thì không phải người chết non; có Hữu Bật gặp Quả Tú là người rất thọ. Có Phụ, Bật gặp Thiên Tướng như họ Địch – bậc thầy thuốc giỏi ngày trước. Nhưng Mệnh có Hữu Bật đơn thủ một mình thì phải xa quê hương, bản quán. Mệnh vô chính diệu có Tả, Hữu tọa thủ, xung chiếu hay hợp chiếu, cũng phải sớm rời gia đình, lập nghiệp nơi đất khách: nếu gặp nhiều sao xấu thì suốt đời khổ sở, cô đơn, khó quý hiển, thường yểu mệnh; nhưng nếu được nhiều sao sáng sủa như Tử Vi, Thiên Phủ hội chiếu thì lại rất tốt đẹp, giàu sang, sống lâu.
Mệnh, Thân hay Quan Lộc có Phụ, Bật gặp Thiên Phúc đồng cung thì được quyền cao trong chính phủ, danh tiếng truyền khắp nơi. Nữ mệnh có Phụ, Bật gặp Thái Âm hãm địa thường làm nghề bà đỡ, hộ sinh. Cung Mệnh có Đào Hoa gặp Tả Phụ, Hữu Bật thì trước xấu sau tốt.
Tả Phụ, Hữu Bật phối hợp cùng các sao khác
Tả, Hữu, Văn Xương đồng cung thì làm nên sự nghiệp vinh hiển, hưởng giàu sang, phúc thọ. Nhưng Tả, Hữu gặp Liêm Trinh, Kình Dương hội hợp thì suốt đời vướng vòng tù tội, gông cùm; gặp thêm Văn Xương, Văn Khúc mà bị Kình Dương, Đà La xâm phạm thì là người loạn trí, ngớ ngẩn. Ngược lại, Tả, Hữu hội Thiên Khôi, Thiên Việt thì hưởng phúc thọ, sống lâu.
Thiên Tướng, Hữu Bật đồng cung thì hưởng phúc, sống lâu – nhưng an tại Tỵ, Hợi thì giàu sang mà không bền, an tại Mão, Dậu thì đường đời lắm bước thăng trầm, khó toại ý. Mệnh an tại tứ mộ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) có Tả, Hữu gặp Tử Vi – Thiên Phủ (Đế Tượng), hay Thiên Cơ – Thái Âm – Thiên Đồng – Thiên Lương (Văn Đoàn), hoặc Thất Sát – Phá Quân – Liêm Trinh – Tham Lang (Võ Cách) hội hợp, là người tài giỏi, làm nên vinh hiển, danh tiếng lừng lẫy, hưởng giàu sang trọn đời. Tả Phụ gặp Văn Xương đồng cung, thêm nhiều cát tinh hội hợp, là bậc văn quan cao cấp. Mệnh an tại tứ mộ có Tả, Hữu gặp nhiều sao sáng sủa thì hưởng phú quý, sống lâu, tài lộc dồi dào, công danh hoạch đạt. Mệnh an tại Thìn, Tuất có Tả Phụ, Thiên Phủ đồng cung thì phú quý tột bậc. Mệnh có Tử Vi tọa thủ, giáp Tả Phụ – Hữu Bật, thì hưởng phúc, sống lâu, giàu sang, làm nên vinh hiển.
Mệnh có Tả Phụ tọa thủ thì cha ông cũng được tiếng thơm. Cung Tài Bạch có Tả Phụ, Hữu Bật, Đắc Địa tọa thủ là số tể tướng, nếu cung Mệnh cũng sáng sủa, tốt đẹp.
Tả Phụ, Hữu Bật tại cung Tài Bạch, cung Phu Thê, cung Tử Tức
Cung Tài Bạch có Tả, Hữu tọa thủ, hoặc giáp Tả giáp Hữu, thì kiếm tiền rất dễ dàng, suốt đời phong lưu, no cơm ấm áo. Phụ, Bật tọa Tài Bạch ví như người mặc áo gấm thêu hoa, chủ về phú quý, vinh hiển, hưởng giàu sang trọn đời.
Nữ mệnh có cung Phu với Hữu Bật tọa thủ chỉ là phận vợ lẽ. Nhưng cung Thê có Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật hội đủ thì có nhiều vợ đẹp, hiền lành, học thức; đàn bà có cách này ở cung Phu thì lấy được chồng phong lưu, danh giá. Cung Phu Thê có Tả, Hữu hội hợp thì việc cưới hỏi khỏi cần người mối lái, hoặc không tốn kém bao nhiêu.
Cung Tử Tức có Tả, Hữu, Thái Dương, Thái Âm hội hợp thì có niềm vui về con cái liên tiếp, nhưng trong lòng vẫn còn phải lo nghĩ.
Tả Phụ, Hữu Bật tại cung Quan Lộc, và các cách giáp Mệnh
Cung Mệnh hay Quan Lộc an tại tứ mộ có Tả Phụ, Hữu Bật cùng chiếu hay tọa thủ thì làm đến bậc hầu, bậc bá – nhất là khi Mộ cung gặp Tả, Hữu cùng hội thì càng dễ thăng quan, tiến chức, nổi danh miếu đài.
Cung Mệnh giáp Tả, giáp Hữu thì sớm có duyên vui vầy cùng khách giai nhân. Cung Mệnh sáng sủa, tốt đẹp mà giáp Tả, giáp Hữu thì rất quý hiển, có danh tiếng, hưởng giàu sang hơn người.
Nguồn: Tử Vi Đẩu Số Phú Giải – Thái Vân Thình
