Bài tổng quan
Phú Giải Vòng Trường Sinh, Tuần Triệt, Cô Quả, Hoa Cái Và Sao Lẻ
Tuần, Triệt và các sao trong vòng Trường Sinh không rõ nét như chính tinh, nhưng làm đổi hẳn lời đoán. Cung Mệnh có Đà La và Thai thì học nhiều mà không thành đạt, còn cung Tử Tức có Thai gặp Thái Âm thì phải cầu tự mới có con. Cung Mệnh có Tuần hay Triệt án ngữ thì thuở thiếu thời vất vả, lận đận, nhưng Mệnh có Tuần, Thân có Triệt mà được Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương, Khôi, Việt, Xương, Khúc hội hợp thì suốt đời giàu sang vinh hiển. Cô Thần, Quả Tú ở Điền Trạch, Tài Bạch ví như hai vị thần giữ của. Hoa Cái, Tấu Thư đồng cung tại Mệnh là người thanh cao hơn đời. Đẩu Quân, Mộc Dục, Quan Phù, Điếu Khách cũng có vài câu phú theo từng cung.
Suy, Bệnh, Tử, Thai, Mộ, Tuyệt, Dưỡng
Thai, Mộ và các sao trong vòng Trường Sinh tại cung Mệnh
Cung Mệnh có Đà La, Thai tọa thủ là người học nhiều mà không thành đạt. Cung Mệnh có Thai, Mộ hội chiếu cũng có học nhưng không đỗ đạt.
Thai, Đào Hoa, Dưỡng… tại cung Tử Tức
Đàn bà có cung Mệnh, Tật Ách hay Tử Tức với Thai, Kiếp Sát, Mộc Dục hội hợp thì sinh đẻ khó khăn. Nữ mệnh cung Tử Tức có Thai, Đào Hoa gặp Kiếp Sát thì hiếm con. Cung Tử Tức có Thai gặp Thái Âm thì phải cầu tự mới có con. Cung Tử Tức có Thai, Tướng Quân, Phục Binh hội hợp thì vợ chồng đã có con riêng từ trước, rồi mới nên duyên với nhau. Cung Tử Tức có sao Dưỡng gặp Thiên Hỷ thì sinh được con quý hiển. Cung Tử Tức có Thai tọa thủ, Tả Phụ – Hữu Bật đồng cung, thì đàn ông có con với vợ lẽ.
Nhưng cung Tử Tức có Thai gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì thật đáng buồn, con sinh ra hình dung cổ quái. Đàn bà cung Mệnh, Tử Tức hay Tật Ách có Thai gặp Kiếp Sát thì sinh đẻ khó khăn. Hạn có Thai, Đào Hoa, Thiên Hỷ hội hợp thì vợ chồng mừng vui vì sắp có tin vui, đến ngày nở hoa kết trái.
Các sao trong vòng Trường Sinh tại cung Phúc Đức, và luận theo vận hạn
Cung Phúc Đức có Tướng Quân, Phục Binh gặp Tử, Tuyệt thì trong họ có người chết vì binh đao. Hạn gặp sao Mộ tọa thủ đồng cung với Thái Dương thì cha đau nặng, khó qua khỏi.
Tuần, Triệt
Tuần, Triệt tại cung Mệnh
Tính chất chung của Tuần, Triệt
Cung Mệnh có Tuần hay Triệt án ngữ thì thuở thiếu thời phải vất vả, lận đận. Cung Mệnh có Triệt án ngữ, cung Thân có Tuần án ngữ, nếu không có chính tinh tọa thủ thì phải đợi về già mới được toại lòng. Nhưng cung Mệnh có Tuần án ngữ, cung Thân có Triệt án ngữ, mà được Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Lương, Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc hội hợp thì lại rất tốt đẹp, suốt đời giàu sang vinh hiển; nếu thêm Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc hội chiếu về Mệnh thì thật toàn mỹ.
Cung Mệnh vô chính diệu đắc Tam Không (Địa Không, Tuần Không, Thiên Không) thủ chiếu mà không gặp Tam Hóa hội hợp thì phú quý khó toàn vẹn; nhưng nếu gặp thêm Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc, hay gặp Lộc Tồn, Hóa Lộc hội hợp, thì lại được hưởng phú quý song toàn, công danh toại mãn, tài lộc dồi dào.
Cung Mệnh, Thân có Thiên Hình tọa thủ gặp Tuần, Triệt án ngữ thì phải lìa xa quê hương, bản quán. Nếu hạn gặp nhiều sao xấu ngoại chiếu, nhưng bản cung cũng bị Triệt án ngữ, thì vô hại; ngược lại, nếu bản cung có nhiều sao tốt hội chiếu mà lại gặp Tuần án ngữ ngay tại đó, thì coi như bị cản hết sự tốt đẹp. Hạn có Tuần, Triệt án ngữ mà gặp Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp hay Thiên Khốc, Thiên Hư, Tang Môn, Bạch Hổ, Song Hao hội hợp thì những sát tinh, bại tinh ấy không còn tác hại được nữa – nên chẳng phải lo tai họa. Triệt án ngữ tại Thân, Dậu hay Tuần án ngữ tại Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi cũng vậy: dù gặp nhiều sao xấu vẫn vô ngại, vì Tuần, Triệt ở những vị trí ấy có đủ sức áp đảo các sao hung kể trên.
Tuần, Triệt tại cung Phụ Mẫu, cung Điền Trạch, cung Huynh Đệ
Cung Phụ Mẫu có Tuần, Triệt án ngữ thì sớm phải xa gia đình, xuất ngoại mới thành danh. Cung Mệnh hay Điền Trạch, Tài Bạch có Lộc Tồn tọa thủ mà gặp Tuần, Triệt án ngữ thì cơ nghiệp có ngày cũng thành tro bụi; cung Mệnh hay Điền Trạch có Triệt, Tuần thì không được hưởng cơ nghiệp cha mẹ để lại. Cung Huynh Đệ có Tuần, Triệt án ngữ thì anh chị cả thường yểu mệnh.
Tuần, Triệt tại cung Tử Tức, cung Phu Thê
Cung Tử Tức vô chính diệu đắc Tam Không, thêm cát tinh, gặp sao Dưỡng thì có con nuôi. Cung Phu Thê vô chính diệu có Văn Xương tọa thủ gặp Tam Không hội hợp thì lấy được vợ, chồng con nhà danh giá. Cung Phu có Phá Quân gặp Địa Không thì phải qua ba đời chồng mới thành. Cung Thê có Thiên Mã gặp Tuần, Triệt thì vợ chồng bỏ nhau, hoặc phải sống xa cách nhau lâu dài. Cung Phu Thê có Tuần, Triệt án ngữ thì vợ chồng hay xung khắc; nếu gặp thêm Thiên Hư thì cả hai đều bất chính.
Hạn gặp Triệt án ngữ tại Mão, Thìn thì có chuyện lôi thôi về bếp núc; cung Tỵ, Ngọ gặp Tuyệt thì bị điều tiếng, quấy phá.
Tuần, Triệt tại cung Phúc Đức
Cung Phúc Đức vô chính diệu rất kỵ gặp Triệt, nhưng lại cần được Tuần hoặc Thiên Không, Địa Không tọa thủ: nếu gặp Trường Sinh, Thiên Việt, Hóa Kỵ, Thiên Hình hội hợp thì nên làm nghề đốn củi hay buôn gỗ; gặp Hỏa Tinh, Thiên Khốc thì làm thợ đúc đồng hay buôn kim khí lại rất phát đạt.
Cung Phúc Đức có chính tinh tọa thủ mà gặp Tuần, Triệt án ngữ hay sát tinh xâm phạm: nếu thêm Lưu Hà, Kiếp Sát, Cự Môn, Thiên Đồng hội hợp thì dễ chết đuối oan uổng; nếu gặp Thiên Lương, Phượng Các đồng cung thì suốt đời lang thang, rày đây mai đó – có tài mà không gặp thời, chỉ biết làm điều tốt cho người khác còn bản thân vẫn cam chịu nghèo khổ.
Cung Phúc Đức an tại Tý có Thiên Đồng, Thái Âm gặp Tuần hay Triệt án ngữ, thêm Kiếp Sát và sao Tử đồng cung, là người có học nhưng bất lương, nên phải nghèo hàn và yểu mệnh. Cung Phúc Đức an tại Dậu có Tuần, Triệt, Thiên Không, Địa Không, Địa Kiếp, Kình Dương, Lưu Hà, Đào Hoa hội hợp thì gia tài phải bán sạch, phải ly tổ bôn ba nơi đất khách; nếu gặp thêm Lộc Tồn, Cự Môn, Thiên Hình, Linh Tinh thì nghèo khổ đến mức phải đi ăn xin.
Cung Phúc Đức an tại Tỵ có Tham Lang, Liêm Trinh đồng cung, hoặc Thái Âm tọa thủ Cự Môn chiếu, gặp Triệt án ngữ, Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Cơ, Hóa Kỵ, Địa Kiếp, Thiên Riêu hội hợp, thì trong họ đàn ông có người gian ác bất nhân, đàn bà thì nham hiểm, tham độc; nhưng nếu được Tử Vi hoặc Thái Dương hay Thiên Cơ tọa thủ, cùng Thiên Tướng, Thiên Mã, Vũ Khúc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Tuyệt hội hợp, thì ngược lại: đàn bà trong họ làm lợi cho chồng con, đàn ông văn võ song toàn, làm nên hiển hách, danh tiếng lừng lẫy.
Tuần, Triệt tại cung Thân (Thiên Di, Phu Thê, Quan Lộc, Phúc Đức)
Cung Thân cư Thiên Di gặp Tuần, Triệt án ngữ: về già nên quay lại quê hương mà an dưỡng thì gặp nhiều may mắn; nếu có nhiều sát tinh hội hợp thì ngược lại, lại lập được sự nghiệp nơi đất khách. Cung Thân cư Phu Thê gặp Tuần, Triệt án ngữ thì tuổi trẻ đã phải đau đớn vì tình, hoặc khắc vợ khắc chồng; nếu được nhiều cát tinh hội hợp thì về già nên tìm người cùng cảnh ngộ ngang trái như mình mà kết duyên mới hợp.
Cung Thân cư Quan Lộc gặp Tuần, Triệt án ngữ, Địa Kiếp, Hóa Kỵ hội hợp thì suốt đời lận đận, không gặp thời; nếu được nhiều cát tinh hội hợp thì ngoài 40 tuổi mới gặp may, hưởng ơn mưa móc. Cùng cách ấy mà là đàn bà, tuổi trẻ phải lận đận, nghèo túng, không giữ trọn danh tiết, nên lấy chồng sớm rồi lại phải góa bụa, cô đơn – về già mới được yên ổn.
Cung Thân cư Phúc Đức vô chính diệu mà gặp Địa Kiếp, Kình Dương, Triệt, Kiếp Sát thì rất xấu xa, mờ ám; nhưng nếu gặp Đà La tọa thủ độc lập, hoặc gặp Tuần án ngữ, thì lại hóa hay – vì Tuần có tác dụng bao vây, ngăn chặn sao xấu từ ngoài chiếu vào. Ngược lại, Triệt lại cắt đứt, gây gián đoạn cả trong lẫn ngoài, nên dù bản cung có sao tốt cũng bị Triệt làm giảm mất uy lực.
Cô Thần, Quả Tú, Hoa Cái và các sao lẻ
Với những sao lẻ, mỗi sao chỉ có vài câu phú, nhưng cổ nhân vẫn ghi chép đầy đủ theo từng cung.
Cô Thần, Quả Tú, Hoa Cái
Cung Điền Trạch, Tài Bạch rất cần có Cô Thần, Quả Tú tọa thủ, vì hai sao này ví như hai vị thần giữ của, giúp giữ gìn tài sản bền vững mà không lo hao hụt.
Cung Thiên Di có sao Hoa Cái thì ra ngoài thường gần gũi người quyền quý. Đàn ông có Hoa Cái tọa Thân thì ra ngoài được nhiều người thương yêu. Hoa Cái, Tấu Thư đồng cung tại Mệnh là người thanh cao hơn đời. Nhưng cung Thê có Hoa Cái, Phượng Các, Đào Hoa, Hồng Loan thì người đàn ông dù đã có vợ, trong lòng vẫn luôn tính chuyện bỏ vợ.
Đẩu Quân
Cung Phu Thê có Đẩu Quân tọa thủ thì lấy được người giàu có, nhưng tính tình cương ngạnh. Cung Tử Tức có Đẩu Quân tọa thủ thì hiếm con; cung Tật Ách có Địa Không thì hay mắc bệnh huyết hư.
Mộc Dục
Cung Mệnh có Mộc Dục thì có khiếu về nghề thợ rèn. Mộc Dục, Hoa Cái đồng cung thì hoang dâm. Cung Tật Ách có Mộc Dục tọa thủ thì không nên lui tới gần giếng, ao, sông. Mộc Dục tọa thủ một mình là người thích làm dáng, chưng diện.
Quan Phù, Điếu Khách, Tấu Thư, Quý Nhân
Hạn đến cung Thìn, Tuất gặp Vũ Khúc, Tham Lang, hoặc Thái Tuế, Tang Môn, Bạch Hổ, Thiên Không, Địa Kiếp, thì như Khuất Nguyên ngày trước, phải gieo mình xuống nước mà chết. Cung Mệnh an tại Tuất có Quan Phù tọa thủ thì có nỗi buồn về gông cùm. Cung Mệnh có Quan Phù tọa thủ thì phải đề phòng người phản mình. Hạn gặp Điếu Khách tọa thủ thì nên phòng hình phạt nhỏ. Cung Mệnh có Tấu Thư tọa thủ là người hay vướng chuyện khẩu thiệt.
Cung Mệnh, Thân có hung tinh xung thủ, quấy nhiễu, nếu không có Thiên Quan, Thiên Phúc, Quý Nhân hội hợp thì không giải trừ được tai ương, họa hại. Có giai thoại Đức Khổng Tử làm ví dụ: hạn đến cung Nô Bộc gặp Thiên Thương, Đại Hao, Tiểu Hao hội hợp nên phải chịu đói ở đất Trần, Sái. Ngược lại, Thiên Đức, Nguyệt Đức, Giải Thần, Thiên Quan, Thiên Phúc đều là những sao tốt, có khả năng giải trừ tai họa.
Vài phối hợp khác về Đại Hao – Tiểu Hao, Tướng Quân, Bệnh Phù, Thái Tuế
Đại Hao, Tiểu Hao trùng phùng: nếu có nhiều cát tinh hội hợp thì thịnh vượng, gặp hung tinh thì lận đận, truân chuyên. Cung Mệnh có Thiên Tướng tọa thủ gặp Thiên Quan, Tấu Thư hội hợp thì làm thầy tu hay theo nghề phù thủy. Lưu Lộc Tồn, Thiên Mã gặp Kình Dương, Đà La, Hóa Kỵ, Thái Dương thì phải đề phòng bệnh đau mắt. Cung Mệnh, Thân an tại Sửu, Mùi, Thìn, Tuất có Bệnh Phù, Thái Tuế hội hợp là người dở dở ương ương, tính khí thất thường.
Cung Thiên Di gặp Tử Vi, Thiên Phủ, Long Trì, Phượng Các, Thái Tuế, Bát Tọa, Hóa Khoa, Hóa Quyền, Song Lộc, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Việt là người sùng đạo, tin vào điều huyền bí, thích đi lễ chùa, lễ Phật.
Đế Vượng, Thai, Tướng Quân và một vài cách hung khác
Cung Huynh Đệ có Đế Vượng gặp Thai và Tướng Quân hội hợp thì có anh em khác cha hoặc khác mẹ. Nhưng cung Mệnh có Phá Quân, Tướng Quân, Thai tọa thủ, cung Thiên Di có Phục Binh và Đào Hoa, Hồng Loan chiếu, thì đàn ông là người dâm loạn, bị người chê cười; đàn bà là gái ăn chơi, trắc nết.
Cung Mệnh có Suy, Bệnh, Tử hay Tuyệt, hoặc an tại cung khắc Mệnh, lại gặp Hóa Kỵ và Lục Sát, thì nếu không chết non cũng là người bần tiện, hạng đê hèn.
Thiên Cơ – Thái Âm – Thiên Đồng – Thiên Lương, và Thai Phụ – Phong Cáo
Cung Mệnh có Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Lương Đắc Địa hội hợp thì phát chậm; nhưng gặp nhiều văn tinh đắc cách thì lại đỗ đạt liên tiếp. Cung Mệnh có Thai Phụ, Phong Cáo tọa thủ rất cần gặp quốc Ấn, Tướng Quân; rất kỵ gặp Cự Môn, Thiên Đồng; nếu được Thiên Khôi hội hợp thì đi thi tất đỗ đầu.
Nguồn: Tử Vi Đẩu Số Phú Giải – Thái Vân Thình
