Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Giải phú

Bài tổng quan

Phú Giải Thiên Cơ, Cự Môn, Thiên Đồng, Thiên Lương Và Thái Âm

Tử Vi Nam Phái - Giải phú16/09/202625 phút đọc7 lượt đọc
Phú Giải Thiên Cơ, Cự Môn, Thiên Đồng, Thiên Lương Và Thái Âm

Thiên Cơ, Cự Môn, Thiên Đồng, Thiên Lương và Thái Âm thiên về tâm tính, phúc đức và sự khéo léo hơn quyền lực. Thiên Cơ ở Miếu, Vượng cho người có nghề nghiệp tinh xảo, nhưng đàn bà có Thiên Cơ hãm địa lại vất vả cả đời. Cự Môn tọa Mệnh hay vướng thị phi, song ở Tý, Ngọ gặp Khoa, Quyền, Lộc thì thành cách thạch trung ẩn ngọc, rất cần Tuần, Triệt như sấm sét làm nứt đá. Thiên Đồng nhập Mệnh là người hay đổi chí hướng, nhưng ở Miếu, Vượng thì làm giàu từ hai bàn tay trắng. Thiên Lương cho người thích đem tiền của mình làm việc phúc thiện, và dù hãm địa vẫn là thọ cách. Thái Âm sáng sủa hợp với nữ mệnh, còn hạn gặp Thái Âm hãm địa với Hóa Kỵ thì chủ tin buồn về mẹ.


Thiên Cơ

Thiên Cơ tại cung Mệnh

Thiên Cơ đơn thủ và các vị trí đứng

Cung Mệnh an tại Thìn, Tuất, Mão, Dậu, Tỵ, Thân, Tý, Ngọ, Sửu, Mùi có Thiên Cơ là người phúc hậu, có lòng từ thiện. Ở thế Miếu, Vượng Địa, Thiên Cơ cho người có nghề nghiệp tinh xảo hơn người, nhiều tài năng. Nhưng đàn bà có Mệnh an tại Dần, Hợi – tức Thiên Cơ hãm địa – thì lại vất vả cả đời.

Cung Mệnh hay Tài Bạch an tại Sửu có Thiên Cơ – vốn hành Mộc – tọa thủ tại cung thuộc Âm Thổ: sách nói đây vẫn là cách tốt, nếu thêm được sao hành Thủy thì tài năng, tiền bạc càng bồi thêm. Mệnh an tại Dần có Thiên Cơ, Tấu Thư, Hồng Loan đồng cung, gặp Hóa Lộc, quốc Ấn hội hợp là người kề cận bậc nguyên thủ hay vua chúa – đàn ông cần có Lộc Tồn, đàn bà cần có Tấu Thư mới trọn cách. Thiên Cơ gặp Kình Dương đồng cung thì như tích Yến Anh gặp Ngọc Nữ. Mệnh an tại Ngọ có Thiên Cơ, Phục Binh tọa thủ tất có quan chức về quân đội, rất hiển hách.

Có một câu phú lấy tích Đặng Thông làm ví dụ: cung Mệnh an tại Tý có Thiên Cơ, Tử Vi đồng cung, nhưng đến hạn gặp Đại Hao và ác sát tinh hội hợp thì lại phải chết đói – cho thấy dù cách tốt vẫn có thể gặp hạn xấu. Mệnh an tại Dần, Thân, Tý, Ngọ (Miếu Địa), Thìn, Tuất (Vượng Địa), hay Tỵ, Hợi, Mùi (Đắc Địa) có Thiên Cơ gặp sát tinh đồng cung thì là người gian xảo, quỷ quyệt; nhưng nếu Mệnh an tại Dần, Hợi – tức Hãm Địa – mà cũng gặp sát tinh thì chỉ là hạng trộm cắp vặt, mức độ nhẹ hơn hẳn. Mệnh an tại Tỵ có Thiên Cơ, người tuổi Dậu thường gian xảo, ham chơi, thích ăn ngon mặc đẹp, nên hay phải ly tổ, bôn ba.

Thiên Cơ – Thiên Lương

Cơ, Lương ở thế Miếu, Vượng đồng cung là người cơ mưu, quyền biến; nếu gặp thêm Văn Xương, Văn Khúc thì càng đa tài, cần mẫn. Mệnh an tại Tuất có Cơ, Lương đồng cung là bậc mưu sĩ giỏi bàn việc chiến thuật, chiến lược, lại có tài văn chương quán thế – như thầy Mạnh Tử ngày trước. Cơ, Lương đồng cung tại Mệnh, Thân hay Điền Trạch, Tài Bạch mà gặp Hóa Lộc, Thiên Mã thì giàu có lớn, đủ sức địch quốc; nhưng nếu gặp Thái Tuế, Tang Môn hội hợp thì lại dễ bị vợ con ruồng rẫy trong vận hạn ấy.

Mệnh an tại Thìn, Tuất có Cơ, Lương gặp Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc thì giàu sang mà vẫn giữ lòng từ thiện; nếu gặp Thiên Hình, Hóa Kỵ thì nên đi tu mới hợp. Cùng cách Cơ Lương ấy, nếu Mệnh, Thân bị Tuần, Triệt án ngữ thì thường là người sùng đạo, có duyên tu hành. Mệnh an tại Thìn có Cơ, Lương đồng cung: đàn bà tuổi Giáp, Nhâm tuy đông con nhưng phải góa chồng; đàn ông tuổi Ất, Quý thì giàu có, vinh hiển nhưng lại góa vợ.

Có một câu phú lấy tích Lưu Bang làm ví dụ: hạn gặp đủ Cơ, Lương, Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc, Tả Phù, Hữu Bật, Đại Hao, Tiểu Hao, Văn Xương, Văn Khúc thì như Lưu Bang tiến vào đất Tần, diệt Hạng Vũ, thống nhất thiên hạ. Cơ, Lương đồng cung ở Thìn, Tuất còn được gọi là cách "Thiên Ấm", cho người rất phúc hậu, nhân từ; nếu gặp Tuần, Triệt án ngữ thì nên tu hành, sẽ được hưởng phúc thọ.

Cơ – Nguyệt – Đồng – Lương

Cung Mệnh hội đủ bốn sao Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Lương là đắc cách; nhưng tối kỵ Hỏa Tinh, Linh Tinh xâm phạm, gặp phải thì ảnh hưởng tốt giảm đi nhiều. Bộ bốn sao này thường ứng với người làm công chức; nếu Mệnh an tại Dần có cách này lại thêm cát tinh thì là thượng cách. Người tuổi Kỷ, Tân có bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương, đến hạn gặp Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang (gọi là Trúc La) mà thêm Tả Phù, Hữu Bật thì lại hoạnh phát công danh, tài lộc, một bước nên giàu sang.

Có một câu phú về Cơ Thục Ai, một gái giang hồ: hạn gặp Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng, Hồng Loan, Thiên Khôi, Văn Xương, Văn Khúc, Tấu Thư, Thiên Phúc, Thiên Hỷ hội hợp nên được vua Thục Đế vời vào cung. Người tuổi Ất, Tân có bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương – còn gọi là Văn Đoàn – đến hạn gặp Thiên Hư, Kình Dương, Thái Tuế, Điếu Khách thì lại hoạnh đạt, lập được công trận hiển hách.

Mệnh an tại Thân có Cơ, Nguyệt đồng cung gặp Liêm Trinh, Bạch Hổ, Linh Tinh, Thiên Riêu thì dễ sảy thai hoặc sinh con thiếu tháng; gặp thêm Địa Kiếp, Thiên Hình thì khó thoát vòng tù tội; nhưng nếu được Hóa Khoa, Phượng Các hội hợp thì tai nạn cũng qua khỏi. Mệnh an tại Dần, Thân có Cơ, Nguyệt đồng cung gặp Thiên Riêu, Văn Xương hội hợp là người văn thơ, đa tình, như trường hợp nữ sĩ Hồ Xuân Hương.

Có một câu phú lấy tích vua Hiến Đế làm ví dụ: hạn gặp Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương bị sát tinh xâm phạm thì như vị vua ấy, lúc nào cũng lo buồn vì bị quyền thần lấn át. Bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương tối kỵ hạn gặp Thất Sát, Phá Quân, Liêm Trinh, Tham Lang; rất xấu, nhưng nếu được Hóa Khoa thì có thể cứu giải, vì chính bộ Sát Phá Liêm Tham cũng rất cần Hóa Khoa mới hiển đạt được.

Thiên Cơ tại cung Thiên Di, cung Điền Trạch

Cung Thiên Di có Thiên Cơ, Thiên Mã đồng cung là người chỉ làm công vụ ở nước ngoài. Cung Điền Trạch có Thiên Cơ chiếu tất mộ phần cha ông bị rễ cây đâm xuyên vào, sinh ra tai biến cho con cháu.

Thiên Cơ tại cung Phúc Đức, cung Tài Bạch

Cung Phúc Đức an tại Mão có đủ Thiên Cơ, Cự Môn, Thiên Đồng, Thiên Lương hội hợp, gặp Phượng Các, Long Trì, Hóa Lộc, Đại Hao thì họ hàng hoanh phát, trở nên giàu có; nếu thêm Thiên Hình, quốc Ấn, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hồng Loan hội chiếu thì trong họ có người làm về tư pháp, coi việc hình án, và có phần mộ của một người đàn bà kết phát cho dòng họ. Cung Tài Bạch an tại Mão, Dậu có Thiên Cơ, Thiên Lương đồng cung thì nên theo nghề buôn bán, ắt thuận lợi.

Cự Môn

Cự Môn tại cung Mệnh

Cự Môn đơn thủ

Cung Mệnh có Cự Môn tất hay vướng miệng tiếng thị phi. Nhưng an tại Dần, Thân, người tuổi Giáp, Canh lại phát phúc, làm nên quan to. Cự Môn tọa Tý, Ngọ gặp Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc hội hợp ví như trong đá có ngọc: người tài cao học rộng, hưởng giàu sang phúc thọ – tuổi Tân, Quý là thượng cách, tuổi Đinh, Kỷ là thứ cách, tuổi Bính, Mậu và các tuổi khác chỉ bình thường. Cách "thạch trung ẩn ngọc" này rất cần gặp Tuần, Triệt, ví như sấm sét làm nứt đá cho ngọc lộ ra; gặp Kình Dương, Thiên Hình thì là kỹ sư máy móc khai phá, gặp Đại Hao, Tiểu Hao thì như nước chảy đá mòn, cũng đều giúp ngọc lộ ra mới đắc dụng.

Cự Môn gặp Đà La đồng cung thì trong mình có nốt ruồi kín. Cự Môn, Hãm Địa tại Mệnh, Thân gặp Kình Dương hay Đà La là người bạc nhược, hèn yếu, bệnh tật suốt đời; nếu không thì thành kẻ trộm cắp, bất lương. Cự Môn gặp Đà La, Hóa Kỵ hội hợp thì rất xấu xa, mờ ám. Cự Môn gặp Hóa Kỵ, Đại Hao hội hợp thì phá hoại cả sự nghiệp tổ tông. Cự Môn gặp đủ Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh thì suốt đời vất vả, mắc ác tật, khó tránh tai nạn về máy móc. Cự Môn gặp Hỏa Tinh, Kình Dương, Đà La hay ác sát tinh thì phải chết vì sông nước hay thắt cổ; gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh mà hạn lại gặp ác sát thì phải chết nơi đất khách. Cự Môn gặp Lộc Tồn đồng cung vốn là cách xấu; nếu rơi vào cung Tử Tức thì không có con nối dõi. Cự Môn, Thân gặp Hóa Kỵ, hoặc hạn gặp cách này, đều xấu.

Cự Môn – Thái Dương

Mệnh an tại Thân có Cự, Nhật đồng cung, Dần xung chiếu thì có tiếng tăm, danh vị trước rồi mới giàu có sau; ngược lại Mệnh an tại Dần, Thân xung chiếu thì cũng được giàu sang nhưng không bằng an tại Dần. Cách Cự Nhật an tại Dần, Thái Dương tọa Ngọ, Cự Môn tại Tuất hội chiếu, được xem là thượng cách, suốt đời giàu sang vinh hiển. Cự, Nhật đồng cung ví như mặt trời lơ lửng trên cao chiếu xuống, rất sáng sủa tốt đẹp; nhưng rất kỵ gặp Lộc Tồn đồng cung, còn gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền, Phượng Các thì lại tốt, suốt đời toại nguyện, giàu sang vinh hiển. Cự, Nhật đồng cung mà hạn gặp Kiếp Sát, Thiên Hình, Hóa Kỵ thì phải đề phòng bệnh tim, bệnh phổi – vì Thái Dương thuộc Hỏa ứng với tim, Cự Môn thuộc Thủy ứng với phổi; nếu thêm Thiên Mã thì coi chừng chân tay què quặt, tê liệt; may còn gặp được Song Hao thì có thể giải được. Mệnh an tại Dần, Thân Vô Chính Diệu mà có Cự, Nhật hội hợp thì ba đời được vinh hiển, danh giá; nếu tam hợp còn có Thiên Cơ, Thiên Lương, Thái Âm, Thiên Đồng, thêm Tả Phù, Hữu Bật, Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc thì càng vinh hiển, uy danh lừng lẫy.

Cự Môn – Thiên Cơ

Mệnh an tại Mão có Cự, Thiên Cơ đồng cung, người tuổi Ất, Tân, Kỷ, Bính được giàu sang vinh hiển, quyền cao chức trọng; các tuổi khác cũng hiển đạt nhưng kém hơn. Cùng cách ấy an tại Dậu thì phú quý không bền, càng giàu sang càng giảm thọ; nếu được Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc, Song Hao, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phù, Hữu Bật hội hợp thì cũng được hưởng phúc thọ song toàn như cách an tại Mão. Cự, Thiên Cơ đồng cung tại Mão, Dậu còn là người chơi bời, tiêu xài rộng rãi; nữ mệnh gặp cát tinh thì phú quý, gặp ác sát tinh xâm phạm thì hoàn toàn dâm tiện. Có giai thoại Tây Thi khuynh đảo triều đình nước Ngô khiến Ngô Phù Sai mất nước về tay Câu Tiễn: cung Phu của nàng có Cự, Cơ, Song Hao, Hóa Quyền, quốc Ấn, Đào Hoa, Hồng Loan hội đủ.

Cự, Cơ đồng cung tại Mão, Dậu rất cần có Song Hao hội hợp, nhưng lại kỵ gặp Hóa Lộc: vì bộ Cự Cơ thuộc hành Thủy và Mộc, gặp Song Hao thuộc Thủy thì như trăm sông đổ về biển, rất đẹp; nhưng Hóa Lộc thuộc Thổ lại khắc Thủy, hút cạn nước, hóa xấu. Đàn bà tuổi Ất, Tân có Cự, Cơ tại Mão, Dậu là người vượng phu ích tử, làm lợi cho chồng con, nếu không gặp Tuần, Triệt xung chiếu thì càng đảm đang, tài giỏi. Cách Cự Cơ đồng cung còn ứng với quan chức trong triều đình – tuổi Tân, Kỷ Mệnh an tại Mão gặp Tả Hữu Xương Khúc là thượng cách, tuổi Bính là thứ cách, tuổi Đinh chỉ bình thường; nhưng nếu gặp Lộc Tồn đồng cung thì lại là người ăn nói hồ đồ, thiếu thận trọng. Cự Cơ chính hướng gặp Song Hao hội hợp, hay Cự tọa Tý Ngọ Cơ xung chiếu gặp Song Hao, đều ứng với công danh thành đạt, uy quyền hiển hách, tiếng tăm lừng lẫy. Riêng cách Cự, Cơ đồng cung tại Sửu, Mùi lại là hạ cách, xấu xa mờ ám, khó hiển đạt.

Cự Môn – Thiên Đồng

Mệnh an tại Thìn có Cự Môn, Hóa Kỵ đồng cung, người tuổi Tân được cách thượng vì có sự ứng hợp, hưởng giàu sang vinh hiển; các tuổi khác gặp cách này lại rất xấu, mờ ám, khó quý hiển. Có giai thoại Tào Tháo xuất thế, gánh vác việc đời, tranh thiên hạ nhờ hạn gặp Cự Môn, Hóa Kỵ, Thiên Hình hội hợp ở cung Thìn, Tuất. Nói chung Mệnh an tại Thìn, Tuất có Cự Môn tọa thủ là rất xấu; riêng người tuổi Tân, Quý lại tốt đẹp, tuổi Đinh thì không sao – nhưng cái giàu sang vinh hiển ấy phải trải qua nhiều phen thăng trầm mới có được.

Mệnh an tại Thìn, Tuất có Cự tọa thủ, Thiên Đồng xung chiếu, hay an tại Sửu, Mùi có Cự, Đồng đồng cung, tuy hãm địa nhưng với người tuổi Tân vẫn quý hiển vì có sự ứng hợp; nếu thêm Tả Phù, Hữu Bật hội hợp thì suốt đời chẳng lo tai họa bệnh tật, vì hai sao ấy như cứu tinh phò trợ mệnh chủ. Cự Môn, Thiên Đồng gặp Hóa Khoa cũng cho người có tài ăn nói, nhưng phải được nhiều cát tinh hội hợp, nếu không dễ yểu mệnh giữa đường như biện sĩ Lịch Sinh thuở đi du thuyết nước Tề. Cự, Đồng nhập miếu là người tài giỏi, đảm đang, mẫn tiệp, đa năng; nhưng Cự, Đồng nhập mộ mà gặp Hóa Kỵ, Kình Dương thì khó tránh tai nạn sông nước – riêng các tuổi Tân, Bính, Đinh thì không đáng ngại.

Cự Môn tại cung Thê – Phu, cung Điền Trạch, cung Tật Ách

Cung Thê có Cự Môn tọa thủ thì vợ chồng lúc nào cũng bất mãn, hay cãi cọ vì tính cách khác nhau. Cung Phu, Thê có Cự Môn hãm địa thì thường phải ba bốn lần kết hôn mới thành gia thất. Nhưng hạn tới cung Dần có Thái Dương gặp Cự Môn, hay Cự cư Tý – Dương cư Thìn hợp chiếu, thì lại ứng với việc thăng quan, tiến chức, vận trình hanh thông.

Cung Điền Trạch có Cự, Thiên Cơ tọa thủ thì giàu có, nhà cửa nguy nga, phú hữu lâu dài. Cung Tật Ách có Cự, Thiên Đồng đồng cung – hay Cự tọa thủ Đồng xung chiếu, Đồng tọa thủ Cự xung chiếu – mà gặp Tang Môn, Bạch Hổ, Đà La, Thiên Riêu hội hợp thì sinh nhiều nuôi ít, hiếm con.

Thiên Đồng

Thiên Đồng tại cung Mệnh

Thiên Đồng đơn thủ

Đàn bà cung Mệnh có Thiên Đồng tọa thủ là người hiền hòa, không có định kiến, ai nói sao cũng nghe theo được; tuổi Bính, Tân, Mậu mà Mệnh an tại Tuất thì có sự ứng hợp, nên được cách phú quý. Nói chung, Thiên Đồng nhập Mệnh là người không có chủ kiến nhất định, hay đổi thay chí hướng, kể cả trong công việc lẫn nơi ở. Thiên Đồng gặp cát tinh hội hợp thì sống lâu; nhưng gặp Địa Không, Địa Kiếp thì rất xấu. Thiên Đồng ở thế Miếu, Vượng là người làm nên giàu có từ hai bàn tay trắng.

Mệnh an tại Tuất có Thiên Đồng vốn bị khắc hãm, rất xấu; nhưng riêng người tuổi Đinh lại là hợp cách, tất được quý hiển – nếu gặp thêm Hóa Kỵ đồng cung, người tuổi Đinh vẫn tốt đẹp, hưởng giàu sang vinh hiển, còn tuổi khác thì xấu vì đang ở hãm địa. Thiên Đồng hay Thiên Cơ ở thế Miếu, Vượng đều cho dáng vẻ hiền từ, cung kính.

Thiên Đồng tại Ngọ – cách "Mã Đầu Đới Kiếm"

Mệnh an tại Ngọ có Thiên Đồng gặp Kình Dương đồng cung là số làm đại tướng trấn giữ nơi biên cương. Có giai thoại Quan Vân Trường minh họa cho cách này: cung Mệnh an tại Ngọ có Thiên Đồng, Thái Âm đồng cung, gặp Giải Thần, Kình Dương hội hợp – gọi là cách "Mã Đầu Đới Kiếm" – nên vũ dũng hơn người, uy danh lừng lẫy, đứng vào hàng Ngũ Hổ Tướng của Tây Thục. Cùng vị trí ấy, người tuổi Bính, Mậu là tay võ tướng trấn giữ biên cương; nếu là Thiên Đồng hay Tham Lang gặp Kình Dương – vẫn thuộc cách Mã Đầu Đới Kiếm – thì người tuổi Bính Thìn hay Mậu Thìn cũng làm nên võ nghiệp nơi biên khu.

Đồng, Thái Âm đồng cung tại Ngọ mà gặp sát tinh thì nên chuyên về kỹ nghệ hay làm thợ thuyền, tuy không giàu sang lớn nhưng phong lưu, đầm ấm. Người tuổi Bính, Ất có cách Đồng Âm tại Ngọ được hưởng phúc đức, giàu sang; nếu gặp Long Trì thì phải đề phòng đau mắt, mù lòa; còn tuổi Mậu, Quý gặp cách này lại suốt đời nghèo hèn, cô quả. Thiên Đồng hay Tham Lang ở thế Miếu Vượng tại Ngọ, nếu là cung Mệnh hay Điền Trạch, thì nhà cửa có khắp thiên hạ.

Thiên Đồng – Thái Âm tại Tý

Mệnh an tại Tý có Đồng, Thái Âm đồng cung là cách rất tốt đẹp, ví như mặt trăng lơ lửng trên cao. Đàn bà có cách này nét mặt ưa nhìn, đáng yêu; nhưng nếu gặp Bạch Hổ, Thiên Khốc, Thiên Riêu, Tang Môn hội hợp thì suốt đời lận đận vì tình, hoặc phải ở góa. Cùng vị trí ấy, nếu Thiên Đồng (Phúc Diệu) gặp Thiên Việt đồng cung thì là người có dáng điệu đoan trang, uy nghi như sông như bể, liệt vào hàng quý cách. Nhưng Thiên Đồng gặp Cự Môn xung chiếu, hay cả hai sao đồng cung, thì lại muộn vợ con; ảnh hưởng này nhẹ hơn nếu Thiên Đồng đứng ở chính cung Mệnh.

Thiên Đồng – Thiên Lương

Mệnh an tại Dần, Thân có Đồng, Lương đồng cung, gặp Thiên Khôi, Hóa Quyền, Linh Tinh, Hóa Kỵ, Song Lộc hội hợp thì là người buôn bán, kinh doanh giỏi, làm giàu dễ dàng. Nói chung Đồng, Lương hội tụ tại Dần, Thân là cách rất tốt đẹp, được hưởng giàu sang vinh hiển – tuổi Giáp, tuổi Canh là thượng cách.

Thiên Đồng tại cung Thê, cung Phúc Đức

Cung Thê có Đồng, Lương đồng cung thì vợ chồng vốn có họ hàng với nhau. Cung Phúc Đức an tại Tý có Thiên Đồng, Thái Âm gặp Địa Kiếp, cùng bị Triệt, Tuần án ngữ thì là người có học nhưng bất chính; nếu không nghèo hèn thì cũng yểu mệnh.

Thiên Lương

Thiên Lương tại cung Mệnh

Thiên Lương đơn thủ

Cung Mệnh có Thiên Lương tọa thủ là người thích lấy tiền của mình ra làm việc phúc thiện. Ở thế Miếu, Vượng, Đắc Địa – dù tọa thủ hay xung chiếu – mà gặp cát tinh hội hợp thì được hưởng phúc, an nhàn, sung sướng và sống lâu. Nhưng Mệnh an tại Tỵ có Thiên Lương lại là người ham chơi bời; còn Thiên Lương hãm địa, dù tọa thủ hay được cung chiếu, vẫn là thọ cách, sống lâu.

Mệnh an tại Dậu có Thiên Lương hãm địa, Thái Dương đồng cung, gặp Thái Âm hợp chiếu là người lưu lạc giang hồ, ví như cánh bèo trôi nổi trên mặt nước. Mệnh an tại Tỵ, Hợi có Thiên Lương – hay an tại Dần, Thân có Thái Âm – đàn bà mang cách này rất dâm đãng; nếu thêm ác sát tinh hội hợp thì lại hóa ra hà tiện, nghèo hèn. Mệnh an tại Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ có Thiên Lương gặp Thái Âm, Linh Tinh hội hợp là người tài giỏi, làm nên vinh hiển, vào hàng quý cách.

Mệnh an tại Tỵ, Hợi có Thiên Lương gặp Thiên Mã đồng cung hay xung chiếu là người chơi bời, thích ngao du đây đó; nếu gặp nhiều quý tinh hội hợp thì lại thành người phong lưu, mã thượng. Cùng cách ấy, với đàn bà thì là người dâm đãng, trăng hoa bừa bãi; chỉ khi gặp nhiều quý tinh mới tránh khỏi cảnh nghèo hèn, ty tiện.

Mệnh an tại Mão có Lương, Thái Dương đồng cung ví như mặt trời vừa ra khỏi đám mây, dĩ nhiên rất quý hiển, suốt đời an nhàn, sung sướng. Mệnh an tại Hợi có Thiên Lương, Thiên Khôi đồng cung là người có dáng điệu oai phong, lẫm liệt như thần linh giáng thế. Mệnh an tại Tý có Thiên Lương gặp Đại Hao, Tiểu Hao, Kiếp Sát hội hợp thì phải đề phòng tai nạn đao kiếm, súng đạn; nếu gặp Tuần, Triệt thì hóa giải được. Mệnh, Thân có Thiên Lương (Ấm) hay Thiên Đồng (Phúc) tọa thủ, hoặc cả hai đồng cung, thì suốt đời chẳng sợ tai ương, họa hại.

Mệnh an tại Ngọ có Thiên Lương tọa thủ, người tuổi Đinh, Kỷ, Quý làm nên vinh hiển, tiếng tăm lừng lẫy; các tuổi khác cũng có quan chức nhưng không bằng ba tuổi trên. Mệnh an tại Dần, Thân có Lương, Thiên Đồng đồng cung, được Thiên Cơ, Thái Âm ở cung Tài, cung Quan hội chiếu – tức đủ bộ văn đoàn chầu Mệnh – thì rất thông minh, quyền biến, lanh lợi, làm nên sự nghiệp và hưởng giàu sang trọn đời. Nhưng Mệnh an tại Tỵ, Hợi có Thiên Lương hoặc Thiên Đồng tọa thủ: đàn ông là người chơi bời, phóng đãng, nay đây mai đó; đàn bà thì hoàn toàn dâm dật.

Mệnh an tại Tỵ có Lương tọa thủ, Thái Dương xung chiếu, gặp Văn Xương, Hóa Lộc hội hợp – hay ngược lại an tại Ngọ có Nhật tọa thủ, Lương xung chiếu gặp Xương, Lộc – đều là người rất thông minh, đi thi ắt đỗ đầu, làm nên vinh hiển, giàu sang hơn người. Thiên Lương ở thế Miếu, Vượng gặp Văn Xương đồng cung là người có quan chức, làm nên vinh hiển, phú quý. Mệnh hay Tài Bạch an tại Sửu có Thiên Lương hay Vũ Khúc tọa thủ là người giàu có, vàng bạc đầy nhà. Riêng Thiên Lương ở thế Miếu, Vượng mà gặp Thái Tuế, Bệnh Phù hội hợp thì lại rất xấu, không nên.

Thiên Lương tại cung Thiên Di, cung Phúc Đức, cung Phụ Mẫu

Cung Thiên Di có Thiên Lương gặp cát tinh hội hợp là người buôn bán lớn, giàu có; nếu gặp Thiên Hình, Hóa Kỵ thì chỉ bình thường. Cung Phúc Đức có Thiên Lương gặp Trường Sinh đồng cung thì trong họ nhiều người có biệt tài. Cung Phụ Mẫu có Thiên Lương tọa thủ thì cha mẹ sống lâu, trường thọ. Riêng khi luận theo hạn: hạn có Thiên Lương gặp Hỏa Tinh chiếu tất sinh tai ương, hại người hại của.

Thái Âm

Thái Âm tại cung Mệnh

Thái Âm đơn thủ và các vị trí đứng

Cung Mệnh có Thái Âm ở thế Miếu, Vượng, Đắc Địa gặp nhiều cát tinh hội hợp là người suốt đời sung sướng, đủ đầy cả tiền tài lẫn vật chất – với nữ mệnh càng ứng hợp, càng tốt đẹp. Đàn bà có Thái Âm sáng sủa tọa Mệnh, gặp Thiên Lương chiếu, là người nhan sắc, nét mặt ưa nhìn. Nhưng Thái Âm hãm địa gặp Thiên Lương hội chiếu thì đàn bà lại dâm đãng, nghèo hèn; nếu Mệnh an tại Dần, Thân còn gặp sát tinh thì chỉ làm phận vợ lẽ, nàng hầu – trừ khi cung Phu gặp Tham Lang hội Văn Xương, Văn Khúc thì mới lấy được chồng sang, danh giá. Nữ mệnh không nên có Thái Âm, Đà La đồng cung, gặp cách này dễ thành người trắc nết.

Mệnh an tại Hợi có Thái Âm tọa thủ ví như mặt trăng lơ lửng soi sáng giữa trời: người tuổi Tý sinh về đêm là thượng cách, các tuổi khác cũng hưởng giàu sang, có quyền hành khiến người khác phục tùng. Cùng vị trí ấy, Thái Âm còn ví như viên ngọc sáng ngoài biển, làm nên vinh hiển, phú quý song toàn; nếu hạn gặp Hóa Quyền, Hóa Kỵ, Văn Khúc, Văn Xương thì công danh như rồng gặp mây, có uy quyền sai khiến muôn người. Gặp thêm nhiều quý tinh, người tuổi Bính, Đinh là quý cách, tuổi Nhâm, Quý là phú cách; các tuổi khác cũng làm nên vinh hiển, có quan chức.

Thái Âm hay Thái Dương sáng sủa gặp Văn Xương, Văn Khúc hội chiếu là người đỗ đạt cao, hưởng giàu sang vinh hiển, tiếng tăm lừng lẫy. Nhưng Thái Âm hay Thái Dương hãm địa thì rất cần Tuần, Triệt án ngữ hay Thiên Không, Địa Không hội hợp mới sáng sủa tốt đẹp trở lại; nếu bị sát tinh xâm phạm thì càng xấu hơn. Mệnh an tại Tý có Thái Âm ví như giọt nước đọng trên cành quế, rất quý – người có cách này giữ chức vụ cao trong quân sự, lại có tài can gián bề trên, dĩ nhiên rất hiển đạt. Thái Âm hay Vũ Khúc ở thế Miếu, Vượng, Đắc Địa gặp Lộc Tồn đồng cung, Tả Phù – Hữu Bật hội hợp thì giàu có, dư ăn dư để, vào hàng phú ông.

Thái Âm gặp Kình Dương, Đà La hội hợp thì sớm phải ly hương, bôn ba, tiền tài hao hụt, phiêu bạt khổ sở suốt đời; đến hạn gặp cách này cũng phải đi xa, lại thêm hao tài tốn của. Thái Âm hay Thái Dương rất cần Tả Phù, Hữu Bật hội hợp mới sáng sủa, tốt đẹp – có vậy suốt đời mới toại nguyện, công danh bền vững, tài lộc dồi dào. Thái Âm ở thế Miếu, Vượng, Đắc Địa gặp Hồng Loan, Kình Dương, Hóa Kỵ, Thiên Riêu ví như đóa sen vừa hé nở: đàn bà có cách này vẻ mặt đẹp đẽ, quyến rũ; đến hạn gặp Văn Xương, Vũ Khúc thì động lòng xuân, dễ sa ngã vì chuyện trai gái.

Thái Âm tại cung Tử Tức, cung Tài Bạch, cung Phụ Mẫu

Nữ mệnh có cung Tử Tức với Thái Âm hãm địa thì không có con nối dõi; nếu gặp Tham Lang thì có con mà nuôi không được; nhưng nếu gặp Thiên Đồng thì lại là người đông con. Cung Tài Bạch có Thái Âm hãm địa vẫn được phong lưu, không đến nỗi nghèo. Cung Phụ Mẫu có Thái Âm, Thái Dương gặp Tuần, Triệt án ngữ thì cha mẹ thường mất sớm.

Thái Âm tại cung Phu Thê

Cung Phu Thê có Thái Âm Đắc Địa, thêm Văn Khúc, Hóa Lộc, quốc Ấn, Thiên Mã hội hợp thì lấy được vợ giàu. Nhưng Thái Âm, Thái Dương hãm địa mà gặp Kình Dương, Hóa Kỵ thì vợ chồng phải chia lìa. Cung Thê có Thái Âm Đắc Địa thì sẽ nên duyên phò mã, nếu không cũng lấy được con nhà danh giá. Cung Phu Thê có Thái Âm sáng sủa gặp Văn Khúc đồng cung thì lấy được vợ đẹp, danh giá, ví như bẻ được cành quế trên cung trăng.

Thái Âm tại cung Quan Lộc, cung Phúc Đức

Cung Mệnh hay Quan Lộc có Thái Âm, Thái Dương ở thế Miếu, Vượng hội chiếu là người xuất chinh làm nên danh giá, tiếng tăm lừng lẫy. Cung Phúc Đức an tại các cung Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi có Thái Âm, Thái Dương gặp Thiên Hỷ thì trong nhà có anh em cùng cha khác mẹ, hoặc cùng mẹ khác cha.

Cung Phúc Đức an tại Hợi có Thái Âm tọa thủ, Thái Dương chiếu, hay một trong các sao Tử Vi, Phá Quân, Thiên Đồng, Thiên Lương, Thiên Cơ, Cự Môn tọa thủ gặp Phượng Các, Hữu Bật, Hóa Quyền hội hợp thì họ hàng bốn đời vinh hiển, có người đỗ đạt cao; nếu gặp Thất Sát, Phá Quân, Liêm Trinh, Tham Lang hội hợp thêm Hóa Khoa, Thiên Hình, Địa Không, Địa Kiếp, Trường Sinh, Lộc Tồn thì phát về đường võ, dù thế nào cũng làm nên sự nghiệp – nhưng hoanh phát rồi lại hoanh phá, không bền lâu. Cung Phúc Đức an tại Mùi có Thái Âm, Thái Dương đồng cung gặp Tuần, Triệt hay Thiên Không, Địa Không hội hợp: người sinh ban ngày mà gặp Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc thì đỗ đạt cao; gặp Kình Dương, Đà La, Thiên Hình, quốc Ấn thì có võ chức; nhưng nếu bị Hồng Loan, Địa Kiếp xâm phạm thì không thọ, phải bỏ mạng nơi sa trường.

Thái Âm luận theo vận hạn

Hạn có Thái Âm hãm địa gặp Hóa Khoa, Hóa Kỵ thì mẹ mất, hoặc mẹ bị đau mắt nặng. Hạn có Thái Âm gặp Đà La, Hóa Kỵ, Bạch Hổ, Tang Môn thì mẹ qua đời. Có một câu phú lấy tích Hán Cao Tổ Lưu Bang làm ví dụ: ông bị ép phải vào đất Bao Trung, ứng với hạn đến cung Thìn, Tuất gặp Thái Âm, Thái Dương, Địa Kiếp, Địa Không, Kình Dương hội hợp.


Nguồn: Tử Vi Đẩu Số Phú Giải – Thái Vân Thình

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Giải phú