Bài tổng quan
Ba việc tự xem lá số Hà Lạc và vì sao người cùng Bát Tự khác đường
Mười hai nghìn người cùng một Bát Tự, mỗi năm đứng trước một ngã ba, chọn theo quẻ hay chọn ngược lại. Chỉ cần vài năm là đường của họ tách nhau ra hẳn... Còn ba việc nào đáng xem trước nhất trên lá số của chính mình?
Ba việc quan trọng nhất khi tự xem lá số Hà Lạc
Muốn tự biết số mệnh của mình theo Bát Tự Hà Lạc là hay hay dở, cụ Học Năng nêu ra mười việc phải xét. Tuy nhiên kinh nghiệm của người thực hành cho thấy chỉ có ba việc là quan trọng nhất.
Việc một: có nguyên khí và Hóa Công hay không
Càng có nhiều càng tốt. Nếu chỉ có ở các quẻ Hỗ thì chỉ là được vớt vát thôi. Phần này có vẻ ứng nhiều vào chuyện phú quý.
Việc hai: tổng số Âm Dương có hợp mùa sinh hay không
Cũng vậy, càng có nhiều càng tốt, nếu chỉ có ở các quẻ Hỗ thì chỉ là vớt vát. Phần này có vẻ ứng nhất vào phúc hạnh.
Hà Lạc dùng khí để xem mùa. Cách chép xưa theo âm lịch, mà Hà Lạc theo nông lịch, là một dạng dương lịch, nên rất lủng củng; vì vậy ngày nay nên ghi lại theo ngày dương lịch cho dễ.
- Khí Tiểu Tuyết, 23 tháng 11 dương lịch, quẻ Khôn (không Dương, sáu Âm): cần tổng số Dương thấp, Âm cao.
- Khí Đông Chí, 23 tháng 12, quẻ Phục (một Dương, năm Âm): cần tổng số Dương hơi thấp, Âm cao.
- Khí Đại Hàn, 24 tháng 1, quẻ Lâm (hai Dương, bốn Âm): cần Dương vừa, Âm hơi cao.
- Khí Vũ Thủy, 20 tháng 2, quẻ Thái (ba Dương, ba Âm): cần Dương vừa, Âm vừa.
- Khí Xuân Phân, 21 tháng 3, quẻ Đại Tráng (bốn Dương, hai Âm): cần Dương hơi cao, Âm hơi thấp.
- Khí Cốc Vũ, 20 tháng 4, quẻ Quải (năm Dương, một Âm): cần Dương cao, Âm hơi thấp.
- Khí Tiểu Mãn, 21 tháng 5, quẻ Càn (sáu Dương, không Âm): cần Dương nên cao, Âm thấp.
- Khí Hạ Chí, 22 tháng 6, quẻ Cấu (một Âm, năm Dương): cần Âm hơi thấp, Dương cao.
- Khí Đại Thử, 23 tháng 7, quẻ Độn (hai Âm, bốn Dương): cần Âm vừa phải, Dương hơi cao.
- Khí Xử Thử, 23 tháng 8, quẻ Bĩ (ba Âm, ba Dương): cần Âm vừa phải, Dương vừa phải.
- Khí Thu Phân, 23 tháng 9, quẻ Quan (bốn Âm, hai Dương): cần Âm hơi cao, Dương hơi thấp.
- Khí Sương Giáng, 24 tháng 10, quẻ Bác (năm Âm, một Dương): cần Âm cao, Dương thấp.
Cũng cần nhớ rằng đôi khi ngày bắt đầu một khí rơi vào cuối ngày hôm trước so với bảng liệt kê này.
Cô và Quá: ít quá và nhiều quá
Hai chữ này giống chiếc phao cứu người đuối nước với chiếc áo quá dày giữa mùa hè: cái nào cũng có lúc cần, cái nào cũng có lúc hại.
Theo Hà Lạc, tổng số Dương vừa phải là hai mươi lăm, tổng số Âm vừa phải là ba mươi. Ai có tổng số Dương từ tám trở xuống, hoặc tổng số Âm từ mười hai trở xuống, thì gọi là Cô, tức ít quá.
Cô Âm là xấu, trừ khi sinh vào nửa sau khí Cốc Vũ và trong khí Tiểu Mãn, tức từ ngày Lập Hạ đến ngày Hạ Chí. Nhưng nghĩ rằng sinh trước đó một chút và trong khí Hạ Chí thì cái xấu cũng gia giảm. Cô Dương thì phải sinh từ ngày Lập Đông đến ngày Đông Chí thì mới không đến quá xấu; và cũng đáng hỏi, ai ở quẻ Bác hay quẻ Phục xấu mà không được gia giảm? Nhưng theo lời của cụ Học Năng thì ai bị Cô đều khổ cực.
Ai có tổng số Dương từ bốn mươi, tổng số Âm từ năm mươi trở lên thì gọi là Quá, tức nhiều quá. Nếu Âm quá mà sinh lúc lạnh lẽo, từ Lập Đông đến Đông Chí; hoặc Dương quá mà sinh lúc nóng bức, từ Lập Hạ đến Hạ Chí, thì không xấu mà còn có thể khá. Nghĩ rằng sinh gần mốc ấy cũng được gia giảm đôi chút. Như vậy Cô hại hơn Quá.
Việc ba: lời quẻ phụ
Một lá số có hai lời quẻ. Lời của Nguyên Đường quẻ gốc tương đương với Mệnh trong Tử Vi; lời của Nguyên Đường quẻ biến tương đương với Thân trong Tử Vi. Hai lời ấy như hai ẩn dụ tóm tắt cuộc đời để ta nghiền ngẫm. Nhớ rằng khi hợp thêm các môn khác như Tử Bình hay Bói Dịch thì sẽ cho thêm nhiều dự đoán có giá trị.
Hợp cách mà lời xấu, bất hợp cách mà lời tốt
Trong phần giảng giải lời quẻ của cụ Học Năng, ông chia ra hợp cách và bất hợp cách. Có thể nghĩ hợp cách nếu thuận với các tổng số Âm Dương và có phúc thần, tức Hóa Công và nguyên khí. Mức độ hợp tùy theo hai yếu tố này tốt đến đâu.
Tuy nhiên khi đọc kỹ các lời quẻ thì thấy có những lời dù hợp cách cũng có điểm xấu, và ngược lại có những lời dù không hợp vẫn khá tốt. Có thể cho rằng đó còn tùy vào lời tốt thì chỉ tốt nhiều, xấu ít, hoặc lời xấu thì ngược lại, nhưng sự thật không hẳn vậy. Giả như hào sáu quẻ thứ sáu mươi ba là Ký Tế, lời rất xấu nhưng mệnh hợp cách thì vẫn tốt. Hay quẻ Đại Hữu hào năm, lời tốt nhưng mệnh không hợp thì cũng xấu. Và trong thực tế đã thấy những trường hợp lời đoán rất tốt, ngay cả cho mệnh bất hợp cũng khá tốt, nhưng thực tế lại khá xấu.
Ba hạng kết hợp giữa lời quẻ và mệnh
- Lời quẻ tốt và mệnh hợp hay trung bình thì từ tốt đến khá.
- Lời quẻ tốt nhưng mệnh không hợp thì cũng khá xấu.
- Lời quẻ xấu thì từ xấu đến rất xấu, nhưng cũng có khi khá tốt nếu mệnh rất hợp cách.
Nói cho cùng thì đức năng thắng số. Nếu biết nghe theo lời khuyên của quẻ thì phải khá hơn là không theo. Còn trường hợp lời xấu mà ta biết tránh điều xấu đó, bằng cách xem các hào khác cùng quẻ để tìm cách giảm xấu, thì kết quả chắc không đến nỗi tệ. Ngược lại, thấy lời đẹp rồi tưởng mình đương nhiên được hưởng thì sẽ có ngày hối hận.
Hai ví dụ cụ thể
Ví dụ một, hào sáu quẻ Ký Tế: cuối thời thịnh đã sang suy mà mê đắm ngập cả đầu. Nhưng mệnh hợp thì được phê rằng trị không quên loạn, an không quên nguy; thiên mệnh vững, nhân tâm nhớ lâu nên sự nghiệp Ký Tế không đến nỗi nào.
Ví dụ hai, hào hai quẻ Khôn: thời nhu thuận, thẳng, vuông, lớn, chẳng cần tập mà chẳng gì không lợi. Hào này dù mệnh bất hợp cũng được phê là người trung thực, ưa hoạt động, giữ trọng trách nơi hương lý, tức kém ra cũng là người lãnh đạo ở một xó quê hẻo lánh. Nhưng thực tế đã gặp một người độc tài, ăn hiếp chồng con, lười biếng, chỉ chơi bời chờ người thân cung phụng; gia đình không êm ấm, họ hàng xa lánh, không ai giúp đỡ nên dù chồng kiếm sống tạm được, người ấy vẫn luôn hận đời bạc đãi, sao không được giàu có dư giả. Thẳng, vuông, lớn ở đây là mộng lớn nhưng óc ngắn, vô tài mà tưởng mình đương nhiên được hưởng. Có lẽ người này không được ai giải thích ý nghĩa lá số của mình nên cứ nằm chờ sung rụng.
Cái sai lạc chính là ở chỗ quẻ cần nhu thuận, thực tế, là Khôn, mà lại ăn ở như kẻ Dương cương, mơ mộng hão huyền thay vì làm việc thực tế xây dựng cơ đồ. Chú ý người này phạm cách Quá Âm lại sinh vào khí trọng thu nên cách xấu, tổng số Dương cũng hơi cao quá so với mùa.
Nạp giáp trong việc xem mùa
Nạp giáp tháng là thuận mùa ở mức tốt nhất. Nạp giáp năm là thuận được can chi nên độ số càng cao. Nghĩa là khi đối chiếu số Âm Dương với mùa, nếu quẻ lại nạp đúng can của tháng sinh thì sự thuận mùa đạt mức cao nhất; nếu chỉ nạp đúng can của năm sinh thì thuận về can chi, và độ số của lá số vì thế cũng nâng lên.
Cùng một Bát Tự, vì sao mỗi người một đường: nhìn bằng xác suất
Có khoảng mười hai nghìn người trùng một Bát Tự. Nếu mỗi năm họ gặp một ngã ba, chuỗi lựa chọn ấy dài ra thì còn mấy người đi chung đường?
Từ tài liệu Bát Tự Hà Lạc, ta biết ba điều. Thứ nhất, có khoảng mười hai nghìn người trùng Bát Tự. Thứ hai, một người về lý thuyết có từ mười hai nhân sáu bằng bảy mươi hai đến mười hai nhân chín bằng một trăm lẻ tám tiểu vận năm khác nhau, nhờ khai triển quẻ Hà Lạc. Thứ ba, mỗi năm tiểu vận có một quẻ đại diện và một quẻ Nhân Quả tương ứng để biểu đạt kết quả cho năm đó.
Toán Hà Lạc cho phép một người có khả năng ứng xử khác nhau đối với thế giới bên ngoài và với chính bản thân. Vì vậy một chuỗi quẻ Hà Lạc của một người có thể coi như một chiến lược ứng xử có sẵn, giúp con người trong vai Nhân của Thiên, Địa, Nhân có được sự nỗ lực theo Thời trong Dịch học.
Một năm, hai lựa chọn, hai hoặc bốn kết quả
Thử xét một năm vận: một người có quẻ A, động hào B, và quẻ nhân quả tương ứng. Họ có hai lựa chọn. Hành động theo chỉ dẫn của quẻ A, hào B, thì kết quả có thể là quẻ B hoặc phản B. Hành động không theo quẻ A, hào B, thì kết quả cũng có thể là quẻ B hoặc phản B, hoặc một kết quả khác mà Hà Lạc không mô tả. Vậy với một quẻ có hai lựa chọn và hai hoặc bốn kết quả tương ứng.
Xác suất số người chọn trùng nhau lúc đầu năm là năm mươi phần trăm. Đến cuối năm tạo ra hai đến bốn kết quả, và do vậy thế và lực của mỗi người cuối năm khác nhau; xác suất có kết quả trùng nhau là năm mươi hoặc hai mươi lăm phần trăm. Sang năm tiếp theo, một quẻ mới là C. Chỉ xét những người có kết quả trùng nhau, thì xác suất để những người này chọn trùng quẻ C cũng là năm mươi phần trăm.
Với xác suất cách chọn như vậy, cùng một Bát Tự, tương ứng một chuỗi quẻ Hà Lạc, thì xác suất số người có lựa chọn như nhau cho tới khi hết bảy mươi hai quẻ, hoặc một trăm lẻ tám quẻ, là một chuỗi số có tiệm cận bằng không. Chỉ riêng việc các lựa chọn khác nhau như thế cũng giải thích phần nào vì sao những người cùng Bát Tự lại có diễn biến cuộc đời khác nhau. Nếu thêm các yếu tố khác như xuất thân, vị thế, tính cách, thì điều trên càng rõ nét hơn.
Nhận xét
Hà Lạc cho phép lựa chọn và nỗ lực hành động để cải thiện hoàn cảnh. Có thể chọn đúng hoặc sai, nhưng luôn có cơ hội chọn lại và sửa sai. Môn này cho phép nghiên cứu Dịch và trải nghiệm trong thực tế. Vì lời hào ngắn gọn nên trong một năm có thể không nhớ để ứng xử. Đại vận là sáu và chín năm, không như Tử Vi, nhưng tiểu vận năm lại khá trùng khớp, điều này tùy theo người ấy chọn cách hành động nào.
Nguồn: Giáo trình Bát Tự Hà Lạc.
