Bài tổng quan
Vong thần, nguyên thần, không vong, thập ác đại bại, hàm trì, âm dương lệch
Mười ngày vàng bạc hoá đất bụi, mười hai ngày nhà chồng nhà vợ khó thuận, còn đào hoa từng bị coi là họa lại gắn với lắm danh nhân và nghệ sĩ. Nguyên thần như cơn gió xô lắc cả mười năm đại vận, và không vong khi bị xung hợp lại hóa thành chân không. Chúng được tính thế nào...
Mục lục · 8 phần
- 01Vong thần: mất từ bên trong ngay chỗ đang vượng
- 02Nguyên thần: cơn gió xô lắc cả nhà cửa
- 03Không vong: cái chưa đến thì chưa có
- 04Thập ác đại bại: mười ngày không có lộc
- 05Hàm trì, tên gọi khác của đào hoa
- 06Cô loan: con loan lẻ bạn
- 07Âm dương lệch nhau: nhà chồng nhà vợ khó thuận
- 08Tứ phế: bốn mùa bị giam nhốt
Vong thần: mất từ bên trong ngay chỗ đang vượng
Dần, Ngọ, Tuất hỏa cục thấy Tị; Tị, Dậu, Sửu kim cục thấy Thân; Thân, Tý, Thìn thủy cục thấy Hợi; Hợi, Mão, Mùi mộc cục thấy Dần. Cách tra lấy chi năm hoặc chi ngày làm chủ, và lấy tam hợp cục trong Tứ trụ làm căn cứ; không có hợp cục thì không dùng được.
Vong là mất, mất từ bên trong gọi là vong. Kiếp nằm ở chỗ tuyệt của ngũ hành, còn vong nằm ở chỗ vượng, tức là gặp ngôi quan vượng của tam hợp cục. Vong thần gặp cục tài là tài vượng, gặp cục quan là quan vượng, gặp cục thương quan là bị xì hơi. Gặp tài, quan, thương mà lớn thì đòi hỏi bản thân phải vượng; thân nhược thì sinh hại. Gặp cục ấn thì tốt.
Vong thần tốt thì sắc sảo, có uy lực, mưu lược tính toán, liệu việc như thần, biết biến hóa binh cơ, cuối cùng sẽ thắng, ăn nói hùng biện lưu loát, tuổi trẻ tiến nhanh. Gọi là tốt khi khí mệnh gặp sinh vượng và quý sát. Gọi là xấu khi khí mệnh rơi vào tử tuyệt và ác sát: người ấy ngông cuồng đảo điên, trắng đen phải trái lẫn lộn, lòng dạ hẹp hòi, đam mê tửu sắc, dính việc quan, kiện tụng, phạm quân pháp. Nếu quý nhân gặp kiến lộc rồi lại gặp vong thần thì chuyên về bút nghiên, văn tự, nên nghiệp nhờ việc công.
Vong thần thất sát thì họa không nhẹ, tìm đủ mọi cách việc vẫn không thành, khắc vợ khắc con, không nối được nghiệp, cha là kẻ sĩ mà con thi vô danh. Mệnh đã tuần không lại gặp vong thần thì họa không nhẹ, nghèo đói suốt đời.
Nguyên thần: cơn gió xô lắc cả nhà cửa
Nam dương nữ âm thì lấy chi sau ngôi xung. Nam âm nữ dương thì lấy chi trước ngôi xung. Cách tra lấy chi năm làm chủ. Chi sau ngôi xung nghĩa là: người sinh năm Tý, xung với Tý là Ngọ, sau Ngọ là Mùi; nếu chi của tháng, ngày, giờ trong Tứ trụ có Mùi thì Mùi là nguyên thần.
Với nam dương nữ âm, cách tính như sau: năm Tý thấy Mùi, năm Sửu thấy Thân, năm Dần thấy Dậu, năm Mão thấy Tuất, năm Thìn thấy Hợi, năm Tị thấy Tý, năm Ngọ thấy Sửu, năm Mùi thấy Dần, năm Thân thấy Mão, năm Dậu thấy Thìn, năm Tuất thấy Tị, năm Hợi thấy Ngọ.
Với nam âm nữ dương thì: năm Tý thấy Tị, năm Sửu thấy Ngọ, năm Dần thấy Mùi, năm Mão thấy Thân, năm Thìn thấy Dậu, năm Tị thấy Tuất, năm Ngọ thấy Hợi, năm Mùi thấy Tý, năm Thân thấy Sửu, năm Dậu thấy Dần, năm Tuất thấy Mão, năm Hợi thấy Thìn.
Nguyên thần còn có tên là đại hao, nghĩa là không hợp. Dương đi sau âm đi trước thì có gấp khúc, gấp khúc là việc không suôn sẻ. Âm đi sau dương đi trước thì thẳng nhưng không toại nguyện, tức là việc có bạo động mà không trị được, nên gọi là nguyên thần. Ngôi này rơi vào chỗ khí xung là hung; lệch về bên nào thì bị sát từ phía đối diện, cho nên nam nữ âm dương mới phải phân biệt lấy ngôi trước hay ngôi sau ngôi xung.
Tuế vận gặp nguyên thần như cây gặp gió, bị xô lắc điên đảo, không được bình yên; không có bệnh bên trong thì gặp nạn bên ngoài, tuy phú quý cao sang nhưng không thịnh. Đại vận gặp phải thì cả mười năm đáng lo, không yên ổn, cửa nhà lận đận, phải có cát thần phù trợ mới đỡ được phần nào. Điều đáng sợ nhất là trước tốt sau xấu: sau khi phát vượng, đúng lúc muốn vươn ra mà chưa ra được thì khó thoát tai vạ.
Ngôi này nhập mệnh thì diện mạo thô cục: mặt xương, mũi thấp, miệng to, khóe mắt xước, đầu gồ, vai cao, tay chân cứng nhắc, giọng nói trầm đục. Gặp sinh vượng thì tính tình bất định, không phân biệt phải trái lành ác, hay thay đổi thất thường. Gặp tử tuyệt thì lạnh nhạt, thờ ơ, bạc bẽo, diện mạo cục cằn, ăn nói thô tục, không biết xấu hổ, tham ăn tham uống, quen thói lưu manh. Gặp quan phù thì hay chuốc lấy nhiễu sự; gặp kiếp sát thì hành động thô bạo, không biết xấu hổ. Phụ nữ gặp phải thì giọng nói đục khó nghe, gian dâm với kẻ xấu, vô lễ, đời rủi nhiều hơn may, có sinh con nhưng con bất hiếu.
Nguyên thần là thần làm hại mệnh nặng thêm. Người trong Tứ trụ đã bị thất sát làm hại, lại gặp nguyên thần thì hại nặng hơn; không có nguyên thần thì nhẹ. Nguyên thần tuy xấu, lưu niên đại vận gặp phải thì không tốt, nhưng biết được điều xấu mà tránh xa phương của nguyên thần thì có thể vô hại.
Không vong: cái chưa đến thì chưa có
Cách tra không vong lấy ngày làm chính; chi của năm, tháng, giờ mà rơi vào ngôi ấy là bị không vong. Từ ngày Giáp Tý đến ngày Quý Dậu, trong mười ngày này không có hai chữ Tuất, Hợi; nếu trong Tứ trụ thấy Tuất hoặc Hợi thì đó là gặp tuần không, tức không vong. Các tuần ngày khác tra cũng như vậy.
Không là ngược với thật, vong là ngược với có. Nói gọn, không vong là thời gian chưa đến. Như trong tuần Giáp Tý, Tuất Hợi là không. Một tuần chỉ có mười ngày, Tuất và Hợi là thứ mười một và thứ mười hai; đến ngày Tuất và ngày Hợi thì gọi là xuất không, không còn không nữa. Tứ trụ tuy có không vong, nhưng nếu bị xung, hợp hoặc hình thì không còn là không nữa, ngược lại đó mới là chân không. Cát thần gặp không vong thì mừng gặp hợp, hung tinh gặp không vong thì kị gặp hợp.
Không vong rơi trên chi năm thì thứ nhất là tổ nghiệp chẳng có gì, thứ hai là mẹ bị không vong: hoặc qua đời, hoặc đi bước nữa, hoặc đi xa, hoặc không nuôi con, có mẹ mà như không. Không vong trên chi tháng phần nhiều chỉ không có anh chị em, hoặc có mà không nương tựa được. Không vong trên chi giờ thì thứ nhất là sau khi kết hôn không thể có con ngay, thứ hai là không có con hoặc có con mà không nương tựa được.
Lấy ví dụ người sinh giờ Giáp Ngọ, ngày Bính Tuất, tháng Tân Sửu, năm Tân Mùi. Ngày Bính Tuất thuộc tuần Giáp Thân, mà tuần Giáp Thân thì Ngọ, Mùi là không. Ngọ ở trụ giờ và Mùi ở trụ năm của Tứ trụ chính là tuần không; tuần không này nằm ở ngôi mẹ và ở cung con cái.
Sát của tuần không có cát, có hung. Nếu Tứ trụ có hung tinh, ác sát thì đó là nơi tụ hội tai họa, đều cần có không vong giải cứu. Còn nếu là lộc, mã, tài, quan thì đó là nơi phúc tụ, không nên gặp không vong vì nó làm tiêu tan. Người mà cả ba ngôi tháng, ngày, giờ đều không vong thì lại tốt, là quý nhân. Nếu gặp hai ngôi không vong thì có làm quan nhưng chức không to.
Trong mệnh gặp không vong mà thân vượng thì người ấy rộng rãi, phong độ, người to lớn đẫy đà, nhưng hay có họa bất ngờ. Đi với tử tuyệt thì lên voi xuống chó, phiêu bạt, dù bản thân có khí vận cũng khó thành phúc. Kị nhất là can chi tương hợp với thiên trung, như thế gọi là tiểu nhân thắng thế lên ngôi, gian trá quỷ quyệt.
- Đi với quan phù: người hay nịnh chồng.
- Đi với kiếp sát: hẹp hòi, nhút nhát.
- Đi với vong thần: bồng bềnh trôi nổi.
- Đi với đại hao: điên đảo bất thường.
- Đi với kiến lộc: suốt đời phát tán.
- Đi với hàm trì: hung bạo.
- Đi với giáp góc, hoa cái, tam kỳ: lại là kẻ sĩ thông minh, thoát tục.
Kiến lộc gặp tuần không thì học hành không thành đạt; nếu được trạch mã cứu trợ thì dù nhận được chức cũng mất luôn. Tóm lại, mệnh gặp không vong trên chi giờ thì tính tình bướng bỉnh; đi với hoa cái thì chủ về ít con.
Thập ác đại bại: mười ngày không có lộc
Mười ngày thập ác đại bại gồm: Giáp Thìn, Ất Tị và Nhâm Thân; Bính Thân, Đinh Hợi và Canh Thìn; Mậu Tuất, Quý Hợi và Tân Tị; còn Kỷ Sửu. Cách xem lấy can chi của trụ ngày trong Tứ trụ: sinh đúng vào một trong mười ngày ấy là gặp ngày đại bại.
Lý do nằm ở chỗ lộc rơi vào tuần không. Trong sáu tuần Giáp, mỗi tuần có những ngày mà lộc của can ngày trùng đúng ngôi không vong:
- Giáp lộc ở Dần, Ất lộc ở Mão. Trong tuần Giáp Thìn, Dần Mão là tuần không, nên Giáp Thìn và Ất Tị là những ngày không có lộc.
- Canh lộc ở Thân, Tân lộc ở Dậu. Trong tuần Giáp Tuất, Thân Dậu là tuần không, nên Canh Thìn và Tân Tị không có lộc.
- Bính và Mậu lộc ở Tị. Trong tuần Giáp Ngọ, Tị là tuần không, nên Bính Thân và Mậu Tuất không có lộc.
- Đinh và Kỷ lộc ở Ngọ. Trong tuần Giáp Thân, Ngọ là tuần không, nên Đinh Hợi và Kỷ Sửu là hai ngày không có lộc.
- Nhâm lộc ở Hợi. Trong tuần Giáp Tý, Hợi là tuần không, nên Nhâm Thân là ngày không có lộc.
- Quý lộc ở Tý. Trong tuần Giáp Dần, Tý là tuần không, nên Quý Hợi là ngày không có lộc.
Mười ngày này đều là ngày không có lộc, vì thế còn gọi là thập ác đại bại.
Thập ác nghĩa là như người phạm mười trọng tội trong luật pháp, không được xá giảm. Đại bại nghĩa là như quân đội giao chiến thất bại, không sót một ai; tức là rất nặng nề. Ngày thập ác đại bại là ngày hung, từ xưa lúc giao chiến rất kiêng. Nguồn gốc của nó đến từ mấy bộ sách cổ về binh và về Tử Bình. Qua nghiên cứu, ông thấy hai trong số ấy chủ yếu là giải thích ngày thập ác đại bại của một bộ sách Tử Bình xưa, nhưng trong ngày đại bại lại có thêm điều kiện hạn chế khác nhau theo năm và theo tháng, nên trong thực tế ít được dùng. Phần lớn người ta dùng theo phương pháp Tử Bình, vì phương pháp ấy phù hợp với thực tế, lại là cách chính thường dùng trong đời sống để kiêng kị khi xuất hành, khởi sự công việc hay làm việc hỉ.
Ngày thập ác đại bại là kho vàng bạc hóa thành đất bụi.
Tuy nhiên, nếu có cát thần phù trợ, quý khí giúp sức thì vẫn còn tốt. Nếu gặp thiên đức, nguyệt đức thì không còn là điều đáng kị nữa. Gặp tuế kiến, nguyệt kiến hoặc thái dương điền đầy chỗ khuyết thì cũng không còn kị.
Hàm trì, tên gọi khác của đào hoa
Thân, Tý, Thìn thì hàm trì ở Dậu; Tị, Dậu, Sửu thì ở Ngọ; Dần, Ngọ, Tuất thì ở Mão; Hợi, Mão, Mùi thì ở Tý. Hàm trì còn có tên là đào hoa. Thường tra theo chi năm; cũng có sách hướng dẫn tra theo chi ngày hoặc chi tháng. Theo kinh nghiệm của ông, tra cả chi ngày lẫn chi năm đều ứng nghiệm, nên chi năm và chi ngày đều có thể dùng để tra đào hoa.
Hàm trì lấy nghĩa ở lúc mặt trời sắp nhập: vạn vật còn trong cảnh nhập nhoạng chưa rõ, như lúc mặt trời sắp ló nơi chân trời mà nhập vào hàm trì. Cho nên hàm trì là chỗ mộc dục của ngũ hành. Cục thủy Thân, Tý, Thìn trường sinh ở Thân, mộc dục ở Dậu nên lấy Dậu làm hàm trì. Cục kim Tị, Dậu, Sửu trường sinh ở Tị, mộc dục ở Ngọ nên lấy Ngọ làm hàm trì. Cục hỏa Dần, Ngọ, Tuất trường sinh ở Dần, mộc dục ở Mão nên lấy Mão làm hàm trì. Cục mộc Hợi, Mão, Mùi trường sinh ở Hợi, mộc dục ở Tý nên lấy Tý làm hàm trì.
Đạo giáo phương Tây kể rằng bà Vương Mẫu có nhiều tiên nữ xinh đẹp, và hàm trì là những cái ao chuyên để tiên nữ tắm; nam giới không được bước qua nửa bước, nếu không sẽ chìm đắm trong son phấn không sống nổi. Chẳng trách người xưa quy hàm trì vào hung sát.
Đào hoa chủ về gian dâm. Nếu sinh vượng là nghĩa đẹp, đam mê tửu sắc, coi thường tiền của, ham vui, phá tan gia nghiệp. Nếu gặp tử tuyệt thì nói năng xảo trá, lang bạt cờ bạc, vong ân thất tín, tư tình gian dâm, không làm nên việc gì. Đi cùng nguyên thần và sinh vượng thì làm vợ đầu bị cướp; nếu gặp quý nhân, kiến lộc thì kiếm lợi nhờ hàng đầu mỡ, rượu, muối hoặc nhờ tiền không chính đáng của phụ nữ mà nên nhà nên cửa; cũng có thể gặp tai họa dưới nước. Thần này nhập mệnh thì mọi việc khó thành, thường là điềm xấu nên phụ nữ kiêng kị không nên gặp.
Người xưa cho rằng đào hoa chỉ chuyện nam nữ bất chính, nên cho rằng ai có đào hoa thì không làm nên việc gì. Thật ra đào hoa cũng có nhiều điều tốt: người thông minh, hiếu học, đẹp, tính tình khẳng khái.
Phàm người có hàm trì thì khéo tay, phong lưu, đẹp, tính nóng nhưng giỏi nhiều nghề.
Đào hoa phần nhiều là nghệ nhân. Thông minh, linh lợi, khéo léo chính là nguồn tiến bộ của văn hóa nghệ thuật; vẻ đẹp là biểu hiện thể chất ưu việt; khẳng khái hào phóng là đức đẹp của một dân tộc. Vì vậy không nên nói hàm trì là điềm xấu của nam nữ. Kinh nghiệm thực tiễn cho biết: hàm trì gặp ấn thụ thì chủ về văn chương; gặp quan thì được thăng chức; gặp tài thì chủ về quan quý. Rất nhiều bậc quan quý cao sang, thương nhân giàu có, nghệ sĩ, nhà khoa học, danh nhân tướng soái đều có hàm trì. Sao có thể nói người có hàm trì thì không làm nên việc?
Theo lý luận âm dương của y học cổ truyền mà nói, hàm trì là tam hợp cục mộc dục nằm ở ngôi vượng. Hàm trì vượng thì tất hiền, công năng tốt. Hiền lành là gốc của con người, nên người hiền tinh lực dồi dào, ham muốn mạnh mẽ, đó là xu thế tất yếu của sinh lý. Nếu không phân tích kỹ đào hoa mà cứ theo luân lý chung chung thì sẽ hiểu sai lệch. Người trong Tứ trụ gặp đào hoa không chỉ bản thân đẹp mà cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái cũng đẹp.
Cô loan: con loan lẻ bạn
Cô loan gồm tám ngày: Ất Tị, Đinh Tị, Tân Hợi, Mậu Thân, Nhâm Dần, Mậu Ngọ, Nhâm Tý, Bính Ngọ. Cách tra lấy ngày và giờ làm chủ; người nào có ngày và giờ đồng thời mang các thiên can địa chi trên thì mệnh phạm cô loan.
Cô loan chủ yếu nói về hôn nhân không thuận: nam khắc vợ, nữ khắc chồng. Trong dự đoán, có người thích dùng cô loan, có người không, nên chỉ nêu qua như vậy để tham khảo.
Âm dương lệch nhau: nhà chồng nhà vợ khó thuận
Mười hai ngày âm dương lệch nhau là: Bính Tý, Đinh Sửu, Mậu Dần, Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý Tị, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi. Cách xem lấy trụ ngày làm chính, thấy những ngày trên là có.
Ngày âm dương lệch nhau, nữ gặp phải thì chị em dâu không trọn vẹn, hoặc bị nhà chồng từ chối. Nam gặp phải thì bị nhà vợ từ chối, hoặc cãi cọ mâu thuẫn với nhà vợ. Gặp sát này, bất kể nam hay nữ, nếu tháng, ngày, giờ có hai hoặc ba ngôi trùng nhau thì rất nặng. Trụ ngày phạm phải thì chủ về không được gia đình chồng hay vợ ủng hộ; dù có được nhờ vả cũng chỉ là hư vô, thậm chí về sau còn oán nhau, không đi lại nữa. Âm dương lệch nhau là dấu hiệu rõ nhất của hôn nhân không thuận, trong thực tế rất ứng nghiệm.
Tứ phế: bốn mùa bị giam nhốt
Mùa xuân gặp ngày Canh Thân, Tân Dậu; mùa hạ gặp Nhâm Tý, Quý Hợi; mùa thu gặp Giáp Dần, Ất Mão; mùa đông gặp Bính Ngọ, Đinh Tị. Cách xem: can chi ngày sinh trong Tứ trụ rơi vào mùa tương ứng như trên là tứ phế. Như người sinh tháng mùa xuân, gặp ngày Canh Thân hay Tân Dậu là tứ phế.
Phế nghĩa là bị giam nhốt mãi. Mệnh gặp tứ phế thì mọi việc không thành, có đầu mà không có đuôi. Tứ phế chủ về thân yếu, nhiều bệnh, không có năng lực. Nếu không gặp sinh phù trợ mà còn bị khắc hại, bị hung sát áp chế thì chủ về thương tật tàn phế, kiện tụng cửa quan, thậm chí bị giam, hoặc đi theo con đường tăng đạo. Cho nên trong Tứ trụ, dù ở năm, tháng, ngày hay giờ, gặp tứ phế đều không tốt, đặc biệt là nhật nguyên thì càng không tốt.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
