Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tình duyên

Bài tổng quan

Chữ hòa mơ hồ và phép đối chiếu hai lá số vợ chồng

Tử Vi Nam Phái - Tình duyên30/09/202616 phút đọc1 lượt đọc
Chữ hòa mơ hồ và phép đối chiếu hai lá số vợ chồng

Hai người cùng mang Bản Mệnh Tích lịch Hỏa, tưởng cùng một lửa thì chung một nhà, nhưng hai luồng sét chạm nhau lại chứa đầy mối nguy nội tại. Có đôi tương sinh mà vẫn không thành vợ chồng, có đôi tương khắc mà vẫn ăn ở với nhau đến già. Vậy trong cả một lá số, cung nào mới thật sự đứng ra nói thay hạnh phúc gia đạo…


Tương hòa: khi hai Bản Mệnh cùng loại hoặc cùng một hành

Khi nào hai Bản Mệnh cùng một loại hoặc cùng một hành thì gọi là tương hòa. Ví dụ như cả hai là Đại lâm Mộc hay Bình địa Mộc.

Duy ở đây, chữ hòa cũng mơ hồ vì có trường hợp hòa cùng loại mà coi như khắc. Ví dụ như cả hai có Bản Mệnh là Tích lịch Hỏa (lửa sấm sét). Hai lửa này hợp với nhau, nhưng chứa đựng nhiều mối nguy hiểm nội tại, ví như hai luồng sét chạm nhau.

Việc giải đoán khắc, hợp hay hòa dựa vào hai Bản Mệnh, tuy trở thành quy tắc thông dụng, nhưng xét cho cùng giúp đi đến kết luận dứt khoát và khả tín. Có rất nhiều trường hợp không biết rút tỉa kết luận nào. Ví dụ như Ốc thượng Thổ (đất trên nóc nhà) và Thành đầu Thổ (đất trên mặt thành) không rõ có ăn chung gì với nhau không. Có lẽ việc đối chiếu hai Bản Mệnh chỉ là mục đích tìm thêm yếu tố bổ túc cho sự khắc hợp hơn là quyết định sự khắc hợp một cách đơn độc.

Đó là lý do khiến ta phải xem xét hai lá số của nam và nữ, để tìm yếu tố qua các cung, các sao liên hệ đến hạnh phúc gia đạo.

Sự khắc hợp trai gái tính theo lá số

Bản Mệnh mới chỉ cho một cái nhìn chung chung, còn hạnh phúc của hai người thì nằm ở từng cung, từng sao. Muốn thấy nó rõ hơn, phải mở hai lá số ra đặt cạnh nhau.

Việc xem hạnh phúc của vợ chồng qua hai lá số có lẽ là phương pháp khả tín nhất. Phải áp dụng kỹ thuật xem các cung Phu, Thê, các sao liên hệ đến vợ chồng ở hai cung này, các sao liên hệ đến tính nết, vận mạng hai người trong những cung khác nhau. Vì vậy, hầu như phải xem toàn bộ hai lá số để kết luận chung cuộc.

Những cung phải cứu xét

Quan trọng nhất là hai cung Phu, Thê của hai lá số. Dù cho hai người chưa thành hay đã thành vợ chồng, vẫn có thể cứu xét được hết. Nhưng vấn đề không giản dị như ta tưởng, nhất là khi kết luận. Lý do là vì có trường hợp hai lá số tương khắc mà vẫn thành vợ chồng, tương sinh mà không thành. Thành thử, vấn đề đặt ra ở đây không phải là coi hai người có thành vợ chồng hay không mà là xem hai số này có sinh khắc gì nhau nếu ăn ở với nhau hoặc là sau khi đã lấy nhau rồi. Nếu thấy có nhiều điểm tương hợp căn bản thì cho là hạnh phúc. Nếu chỉ đối khắc vừa phải thì hạnh phúc cũng không toàn vẹn, với nhiều mức độ và hình thái khác nhau.

Cung Thê của nam, cung Phu của nữ

Hai cung này mô tả trực tiếp hạnh phúc gia đạo, tùy theo có nhiều tương hợp hay tương khắc. Tương hợp hay tương khắc ở đây không được xét về mặt ngũ hành của hai cung Phu hay Thê mà chỉ xét về loại sao và đặc tính của sao.

Ví dụ như cung Thê nằm ở Thân (Kim) trong khi cung Phu nằm ở Mão (Mộc). Điều này không thành vấn đề. Trái lại, tùy theo chính tinh ở Phu, Thê thuộc loại nào, hai loại đó tương đồng hay không, đó mới là yếu tố phải cứu xét. Trong trường hợp gặp sao đồng loại mà cũng đắc địa thì hay, trái lại, nếu gặp sao khác loại và sao hãm địa thì dở. Và cho dù gặp sao đồng loại mà hãm địa thì cũng kém. Sao nào bị hãm trong lá số nào thì người phối ngẫu của đương số bị bất lợi.

Cung Mệnh, Thân, Phúc của hai lá số

Ba cung này cung cấp yếu tố bổ túc để xét đoán khắc hợp giữa hai người, đặc biệt là lá số phụ nữ.

Nữ số có ba cung này và cung Phu tốt thì sẽ có hạnh phúc gia đạo. Nếu xấu thì kém.

Sở dĩ nữ số quan trọng vì hạnh phúc phụ nữ hầu như chỉ giới hạn trong vấn đề gia đạo. Cho nên khi xét ba cung này phải tìm ý nghĩa gia đạo trong đó nhiều hơn hết.

Kế đến là ý nghĩa và tính nết của hai người. Số nào mà tập trung nhiều yếu tố bay bướm thì có tác dụng phá hoại hạnh phúc gia đạo.

Cung Di, cung Nô trên hai lá số

Hai cung này cũng góp thêm yếu tố bổ túc giải đoán sinh khắc. Nếu ở hai cung này có nhiều sao ong bướm thì hạnh phúc gia đạo dễ bị đe dọa. Đặc biệt cung Nô chỉ nhân tình, bạn trai, bạn gái của mỗi người. Nếu tại đây mà có nhiều sao tình dục thì tính nết lang chạ, dâm đãng của số đó giúp kết luận thêm về hạnh phúc gia đạo.

Ở cung Di cũng vậy, mặc dù kém rõ rệt hơn.

Cung Quan trên hai lá số

Cung này không trực tiếp nói đến tình trạng sinh khắc song vì nó trực chiếu vào cung Phu, Thê cho nên cũng phải được cứu xét trong bối cảnh của cung Phu, Thê.

Những sao phải cứu xét

Những sao xung khắc giữa trai gái hay vợ chồng đều bao gồm sát sinh, hình tinh, hao bại tinh, ám tinh và Tuần Triệt.

Những sao góp phần phá hoại hạnh phúc gia đình là những sao lang chạ tình dục. Ở đây, chỉ nêu thêm vài điểm bổ túc có tính cách đại cương để góp thêm yếu tố giải đoán cho dồi dào.

Trường hợp khắc

Có rất nhiều hình thái và mức độ khác nhau, từ nặng đến nhẹ, tùy theo sự hội tụ nhiều hay ít của các sao dữ. Nặng nhất là sát, tức là người này sát người kia. Kế đến là sự chia ly vì nhiều nguyên do (một người bị ở tù hay mất tích, hai người ly hôn, ly thân, hai người vì sinh kế, nghề nghiệp hay hoàn cảnh nào đó phải sống xa nhau, mỗi người một nơi). Nhẹ hơn là có thể kể trường hợp một người bị tật nguyền hay bệnh hoạn (chột, cụt tay, chân, bệnh nan y,…). Sau cùng, nhẹ nhất là sự khắc về tính tình, khẩu thiệt…

Các sao tình dục hay dâm đãng, ngoại hôn cũng phải được lưu ý vì chúng cũng góp phần phá hoại gia đạo, nhất là đối với trường hợp ly hôn, ly thân và ngoại tình, phản bội.

Ngoài ra, việc xung khắc cũng dễ xảy ra trong lá số của phụ nữ có cánh sát, Phá, Liêm, Tham nhất là khi gặp thêm sát, hình, hao, bại, ám tinh hay các sao cô đơn, cô độc, lẻ loi. Những sao này tối kỵ ở những cung Mệnh, Thân, Phúc, Phu của phụ nữ.

Chỉ cần một trong hai lá số (nam hay nữ) vợ, chồng có nhiều sao họa gia đạo cũng đủ để kết luận xung khắc. Nếu cả hai lá số cùng có những sao họa thì càng chắc chắn hơn. Thông thường, sao họa trong cung Mệnh, Thân, Phúc của phụ nữ tương ứng với sao họa tương tự trong cung Thê của nam giới. Hoặc trái lại, cung Phu của nữ giới mà có sao họa trong khi các sao ấy lại xuất hiện ở các cung Phúc, Mệnh, Thân của nam số, thì trong cả hai trường hợp đều có xung khắc.

Tình trạng xung khắc ngày càng chắc chắn nặng nề hơn nếu thiếu các sao giải mạnh mẽ.

Trường hợp tốt

Trong mọi trường hợp không thấy sao họa ở những cung liên hệ trực tiếp đến gia đạo thì phải đoán là có triển vọng kết hợp và nếu đã thành vợ chồng thì có nhiều hy vọng có hạnh phúc.

Nếu sao họa vừa phải mà đồng thời cũng có sao giải thì cũng tạm coi như tốt.

Ngoài ra, có người xét việc sinh hợp trai gái qua những sao đồng loại hay những sao giống nhau ở cung Mệnh của người này và cung Phu, Thê của người kia. Đồng loại là khi nào hai cung này cũng có những sao thuộc loại Tử, Phủ, Nhật, Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương, Vũ, Tướng. Giống sao là khi nào cung Mệnh của người này và cung Thê, Phu của người kia có chung một chính tinh, ví dụ như cùng có Thái Dương hết. Duy phải thêm rằng dù là đồng loại hay giống sao, các sao ở các cung đó đều phải đắc địa, phải tránh được sao họa thì mới tốt.

Bấy giờ mới gọi là hợp. Lẽ dĩ nhiên, khi gặp sao giống nhau thì tốt hơn gặp sao đồng loại, miễn là cùng đắc địa hết.

Đặc biệt, nữ số mà có Thái Dương sáng sủa ở Mệnh thì vợ chồng tốt đôi vì Thái Dương chỉ người chồng. Còn nam số mà có Thái Âm sáng ở cung Mệnh thì lẽ ra cũng phải coi như đồng nghĩa. Duy điều này không mấy chắc chắn.

Đối với bộ sao Sát, Phá, Liêm Tham thường không có lợi cho phu thê, dù gặp có sự tương ứng nơi cung Mệnh người này và cung Phu Thê kẻ kia. Tập tục Tử Vi thường xem các sao này như có tính cách phá hoại hơn là bảo dưỡng, cho dù đắc địa cũng không tốt đẹp bằng loại Tử, Phủ, Nhật, Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương.

Riêng sao Cự Môn cũng không mấy tốt cho phu thê. Đắc địa với Nhật thì còn đỡ. Còn hãm thì kém lắm.

Còn đối với phụ tinh tốt, nếu tập trung càng nhiều vào những cung liên hệ đến gia đạo thì càng lợi cho hạnh phúc của vợ chồng. Tùy theo loại cát tinh mà đoán địa hạt của hạnh phúc: gặp tài tinh thì vợ chồng sung túc, gặp quý tinh, quyền tinh, dũng tinh thì vợ chồng danh giá, gặp phúc tinh thì vợ chồng dễ hòa thuận.

Tóm lại, với phương pháp đối chiếu hai lá số, vấn đề khắc hợp giữa trai gái và giữa vợ chồng tỏ ra xác tín hơn các cách thức khác mặc dù tương đối khó đoán. Vì thế, chúng ta nên tham chiếu phương pháp này, coi như thượng sách.

Việc lập gia đình qua hạn và các sao

Hai lá số hợp nhau mới là một nửa câu chuyện. Nửa còn lại là đến năm nào, tháng nào đôi lứa thật sự về chung một mái nhà.

Khi nói đến lập gia đình, chúng ta hiểu rằng đây là trường hợp trai gái lấy nhau hẳn hoi, trở thành vợ chồng chính thức và lâu dài, sống chung với nhau. Điều này không bắt buộc là phải có hôn thú, vì ngày trước nông dân ở đồng quê, đa số lấy nhau không hôn thú. Việc lập gia đình ở đây được xét một cách thực tế hơn là về mặt pháp lý.

Tuy nhiên, trong trường hợp không có hôn thú, cách lập gia đình ở đây không có nghĩa là sự kết hợp tạm thời giữa nhân tình trong một giai đoạn, không có nghĩa là việc chơi bời qua đường và cũng không có nghĩa là có nhân tình mà thôi. Yếu tố quan trọng ở đây là sự ăn ở với nhau lâu dài, dù là với vợ lẽ, nhân tình…

Trong khoa Tử Vi, cách lập gia đình hiểu theo tình tiết này, xét ra khó đoán vì cách lập gia đình thực sự tương đối giống cách kết hợp giai đoạn. Tìm sự khác biệt giữa hai tình thái này rất là khó.

Tuy nhiên, cũng nên kể ra ở đây để góp phần giải đoán.

Việc lập gia đình qua một số cung

Lập gia đình chỉ là một biến cố chỉ liên quan đến hạn mà thôi, không phải là sự kiện xảy ra mãi mãi trong đời. Vì thế, xem việc lập gia đình là phải xem hạn, chớ không phải xem Mệnh, Thân, Di, Quan, Tài.

Cần nói ngay rằng có triển vọng lập gia đình khi nào hạn rơi vào cung Phu hay Thê.

Hạn tại cung Phu, cung Thê

Khi nào đại hạn, lưu niên đại hạn, hoặc tiểu hạn vào đúng cung Phu hay Thê thì có cơ lập gia đình.

Nếu đại hạn nằm ở cung Phu Thê, trong đại hạn đó dễ xảy ra hôn nhân. Chúng ta nhấn mạnh đến chữ dễ là vì không bắt buộc cứ đến hạn đó thì có gia đình, bởi lẽ có những lá số không có gia đình, muộn gia đình hay lá số tu hành. Có thể việc cưới xin xảy ra vào lúc khởi đầu đại hạn. Điều đó tùy theo các sao trong cung có chứa đựng yếu tố nhanh hay chậm. Cũng có trường hợp, hôn nhân xảy ra trước khi vào hạn hay sau khi hết hạn, tùy theo lá số đó sớm hay muộn gia đình. Ở đây, ta chỉ chú ý trường hợp thông thường hơn là đặc biệt. Có quan điểm cho rằng, năm bắt đầu đại hạn do số cục ấn định: Thủy Nhị Cục thì 22, Mộc Tam Cục thì 23, Kim Tứ Cục thì 24, Thổ Ngũ Cục thì 25 và Hỏa Lục Cục 26. Đây là điều khả dĩ chấp nhận được.

Năm lập gia đình chính xác thường do tiểu hạn hoặc lưu niên đại hạn ấn định. Bao giờ tiểu hạn hay lưu niên đại hạn rơi vào cung Phu Thê, hoặc được xung chiếu hoặc được tham chiếu bởi cung Phu Thê thì có cơ lập gia đình. Thế nhị hợp hay tiếp giáp được coi nhẹ hơn hết. Đôi khi ngũ hành của tiểu hạn với Bản Mệnh cũng được tính vào để tìm triển vọng lập gia đình.

Giữa lưu niên đại hạn và tiểu hạn được xem như quyết định hơn. Trong mọi trường hợp có sự trùng hạn (giữa đại, tiểu hay lưu đại hạn, tiểu hạn) thì dễ xác quyết hơn nữa.

Cung Điền

Có người tìm hạn nơi cung Điền để xét hôn nhân, nại lý do có vợ chồng thì có ra ở riêng, dời nhà. Điểm này không hoàn toàn đúng vì không phải hôn nhân nào cũng đưa đến ra ở riêng và không phải sự ra ở riêng nào cũng dẫn đến lập gia đình.

Trong trường hợp vòng đại hạn đi theo chiều thuận, bao giờ đến cung Phúc, tam chiếu vào cung Phu Thê, bấy giờ triển vọng lập gia đình cũng có thể có. Duy chiều thuận và thế tam chiếu của đại hạn Phúc không mạnh bằng chiều nghịch và vị trí của hạn ở ngay cung Phu Thê.

Việc lập gia đình qua các sao

Có khi các sao quyết định nhiều hơn là tiểu hạn, hoặc lưu niên đại hạn. Muốn xét hôn nhân, phải kết hợp nhiều loại sao liên hệ: các sao chỉ tin vui, các sao tình duyên, các sao cưới hỏi, các sao hao tài, cần nhất là trong hạn đó, phải tránh các sao cản trở.

Những sao hỷ tín

Thông thường, các sao hay bộ sao may mắn nói chung đều có nghĩa hỷ tín khi đi chung với sao tình duyên hay sao cưới hỏi.

  • Thiên hỷ, Hỷ thần
  • Thanh long, Lưu hà
  • Thanh long, Hóa Kỵ
  • Thiên mã, Tràng sinh
  • Thiên mã, Điếu khách, Thiên khốc
  • Ân quang, Thiên quý
  • Thiên quan, Thiên phúc
  • Tả phù, Hữu Bật
  • Tứ đức, nhất là Nguyệt đức và Thiên đức

Những sao tình duyên

Hầu hết bao gồm các sao tình dục, đặc biệt nhất là những sao dưới đây:

  • Đào hoa, Hồng loan
  • Thiên riêu, Thai
  • Mộc dục, Hoa cái
  • Liêm trinh, Tham lang

Nếu những sao này kết hợp với sao hỷ tín thì dễ quyết định có hôn nhân.

Những sao cưới hỏi

Khoa Tử Vi chỉ ghi nhận có vài sao cưới hỏi sau:

  • Long trì, Phượng các
  • Thanh long

Những sao hao tài

Cưới vợ, lấy chồng bao giờ cũng tốn kém ít nhiều cho nên nếu có hao tinh phụ vào thì có thêm yếu tố. Dường như chỉ có sao Đại Hao, Tiểu Hao là có ý nghĩa trực tiếp và rõ ràng. Hai sao này vừa chỉ các chi phí, vừa chỉ sự thay đổi, ngụ ý là thay đổi trong cuộc đời.

Những sao làm cho nhanh hay chậm

Thông thường các hành Hỏa và Bắc đẩu là hai loại sao hối thúc, khiến hôn nhân dễ thành. Còn Nam đẩu vì ăn về sau cho nên ý nghĩa chậm hơn. Đặc biệt là những sao Phi Liêm, Hỏa Tinh, Linh Tinh có tác dụng hối thúc. Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Không chỉ sự bất thần, đột ngột. Thiên Khôi, Thiên Việt chỉ sự vừa ý.

Ngoài ra, các nam đẩu vì có hiệu lực về sau, cho nên báo hiệu hôn nhân vào nửa năm sau.

Những sao bất lợi cho hôn nhân

Việc lập gia đình sẽ gặp trắc trở, sở dĩ không thành nếu hạn năm đó gặp các sao xui xẻo, vô duyên hay cô độc.

Cô thần, Quả tú hay Đẩu quân

Ba sao này chỉ sự lẻ loi, xế bóng, cô đơn, kén chọn, có tác dụng ngăn trở việc lập gia đình. Càng hội tụ nhiều, sự ngăn trở càng mạnh, trừ phi gặp nhiều sao tình duyên bù chế.

Thái tuế, Quan phù, Quan phủ

Thái tuế đối nghĩa với Đào, Hồng, vì vậy làm cản trở sự kết duyên. Quan phù, Quan phủ chỉ sự phản bội, sự phụ dãy trong tình yêu.

Phục binh

Sao này chỉ sự cản trở, thường là bắt nguồn từ cha mẹ mỗi bên trai hay gái không tán thành duyên số cho đôi trẻ. Mặt khác, sao này còn chỉ cả sự phá hại, rình rập, bắt ghen, bắt xấu.

Địa Không, Địa Kiếp hãm địa

Không Kiếp hãm địa chỉ sự xui xẻo trên mọi phương diện. Ứng vào hạn của hôn nhân, Không Kiếp hãm làm cho việc cưới hỏi bất hành, trai gái phải đau khổ vì mối tình bất toại, đôi khi đưa đến hậu quả tai hại cho tính mạng.

Phá quân hãm địa

Sao này không bao giờ có lợi cho hôn nhân và cho hạnh phúc lứa đôi. Hạn rơi vào, việc lập gia đình sẽ tan bị tan vỡ.

Ngoài ra nếu hạn rơi vào cung nào có chính tinh hãm địa thì cũng bất lợi cho tình duyên.

Tuần, Triệt

Dù riêng rẽ hay đồng cung mà Tuần, Triệt đi chung với các sao hôn nhân kể trên sẽ có tác dụng phá vỡ, làm chậm trễ, làm khó khăn cho hôn nhân. Nếu cả hai đồng cung ở hạn đó thì sự bế tắc quan trọng. Trong trường hợp đơn thủ mà gặp sao xấu tại cung hạn, sự khó khăn, trắc trở xảy ra trong buổi đầu: hôn nhân sẽ đến chậm.

Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp – Nguyễn Phát Lộc

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tình duyên