Bài tổng quan
Tứ Hóa tuyển thêm Tả Hữu Xương Khúc và cách đối chiếu hai thứ lịch
Mười bốn chính tinh có ba vị nhất quyết từ chối tham gia Tứ Hóa, chỉ còn mười một sao phải chia nhau gánh vác, kẻ đóng vai hai lần, người đến bốn lần. Từ chỗ thiếu người, sách phải tuyển thêm hai bộ sao nhỏ vào ê-kíp cầm quyền. Và vì mọi phép tính ấy đều quy về năm sinh âm lịch, sách còn chỉ luôn cách quy đổi ngược xuôi giữa hoa giáp và dương lịch.
Đâu là nguyên nhân đã chấp nhận để Tả Hữu, Xương Khúc được nhập đoàn điều động Tứ Hóa
Tứ Hóa là những hình thể đa dạng chuyển dịch của 10 hàng Can để quyết định cho những hành tinh trình diễn. Những hành tinh phải có những nghệ thuật riêng biệt thực thi cho trúng cách vai trò cắt cử.
Ngắm trong hàng 14 chính tinh thấy có 3 sao từ chối thi thố khả năng nên vắng mặt như: Thiên Phủ thì Khoa Quyền Lộc nào sánh kịp, và Kỵ cũng thể giảm uy danh; Thiên Tướng chỉ biết có bổn phận với tấm lòng trung hậu luôn luôn chịu dưới quyền Thiên Phủ để chung lo công việc (thường xuyên trong tam hợp cùng Thiên Phủ); Thất Sát bổn tánh nhẹ dạ cả tin nên e dè ảnh hưởng sáng suốt của Thiên Phủ (Thái Dương nhị hợp của Thiên Phủ cũng là lục hại của Thất Sát).
Vậy chỉ còn 11 sao đối với thập can, tính trung bình mỗi sao phải thủ diễn 3 hay 4 lần. Thực trạng những sao có uy tín như Tử Vi, Phá Quân, Liêm Trinh, mỗi sao chỉ có 2 lần xuất hiện, tượng trưng cho đến Thiên Lương cũng chỉ 3 lần phơi bày tư cách.
Biết rằng bộ Âm Dương phải làm việc nhiều nhất để nêu tính cách lợi hại khẳng định quy luật âm dương làm con đường chính.
Thái Dương trình diễn trong 3 tuổi Giáp Canh Tân phơi bày cái thế dương cường nhất quyết. Giáp (Liêm Phá Vũ Dương) dồn tất cả Khoa Quyền Lộc vào thế dương lưỡng nghi (Tử Phủ Phá Tham thuộc Dương; Cự Nhật Đồng Lương thuộc Âm) đáo hạn nghịch địa cùng Thái Dương Hóa Kỵ là cảnh vực sâu đen tối. Canh (Nhật Vũ Đồng Âm) phô trương tam hóa liên châu hợp cách dương đắc Quyền bị kẹp Lộc thuộc Thái Dương ở nghịch địa âm, cho thấy nền hưng vượng không được lâu bền. Tân thuộc Âm mà Thái Dương cầm quyền tức là thế lấn nghịch cảnh, dầu cho nghệ thuật thiện mỹ đến đâu cũng vẫn khó khăn cho uy tín của một vị Đế quân văn học (Xương ngộ Kỵ).
Thái Âm xuất hiện những 5 lần trong những tuổi Ất Đinh Mậu Canh và Quý, đủ vai thủ diễn Khoa (Quý) Quyền (Mậu) Lộc (Đinh) và Kỵ (Ất và Canh) nhắn nhủ người đời đường lối nhu diệu tất được trời quang gió mát.
Những sao còn lại không thể ôm quá nhiều, e ngại không đủ tài năng thi thố nghệ thuật, vậy phải tuyển thêm đào kép trong hàng ngũ đàn em (trung tinh) có hy vọng phát triển bắt đầu xuất phát từ Thìn (Dương), Tuất (Âm) hợp lý âm dương (Tí ở Thìn Tuất, Sửu ở Tỵ Dậu) có thể đủ tài trình diễn không ngại ngùng sơ sót.
Tại sao chỉ tuyển dụng 2 bộ Tả Hữu - Xương Khúc mà loại bỏ bộ Long Phượng?
Xin thưa là bộ Long Phượng là trung tinh đứng ra để phơi bày tư thế quý cách của Thái Tuế, ngôi vị thượng đẳng cao đẹp, nên bộ Long Phượng thường trực đứng trong tam hợp để làm phận sự tô điểm chiếc ngai vàng uy nghi, có lọng che (Hoa Cái). Tả Hữu – Xương Khúc tuy chỉ là đại diện cho tháng và giờ, nhưng bộ sao này đều có tùy tùng phụ thuộc Thai Tọa và Quang Quý chạy trong quỹ đạo của mình đề cao minh chủ đủ tài năng xuất chúng điều khiển được chữ "Khoa" trong mọi lãnh vực và nhắn nhủ người đời dẫn dắt cuộc sống ở hoàn cảnh bị Kỵ, không bao giờ mơ tưởng tham gia Quyền Lộc, điển hình như:
Xương thủ vai Khoa trong tuổi Bính để bào chữa cho giá trị Liêm Trinh bị Kỵ. Khúc trong tuổi Tân ra tay cứu vãn ô danh cho Xương (Xương thường trực đề cao bằng Thai Phụ, Phong Cáo xuất phát từ Khúc) nhắn nhủ ai kia Quyền Lộc không hợp pháp chỉ là phù vân. Tả Hữu đã khoác áo Khoa thực thi rất tài danh trong 2 tuổi Mậu và Nhâm, là 2 tuổi đầy dẫy khó khăn trong 5 tuổi dương (Giáp Bính Mậu Canh và Nhâm) tột độ như Mậu Dần Ngọ Tuất, Thân Tí Thìn có Kình Dương tứ chính sánh vai Thái Tuế.
Tuổi Mậu có Tham Lang ôm Lộc, Thái Âm nắm quyền, Thiên Cơ bị Kỵ. Hữu Bật nơi đấy làm sao quân bình được 2 phe Quyền Lộc trong thế lưỡng nghi, rồi lại cân phân giữa Quyền Lộc với Kỵ phụ lực cho thế hiên ngang Kình Dương ở Ngọ. Tất cả một giấc mơ mộng tưởng.
Nhâm đắc Thiên Lương giữ gìn Lộc, Tử Vi chấp chánh Quyền đều hòa trong thế lưỡng nghi, Tả Phù có phần dễ dàng đủ tài an ủi Vũ Khúc bị Kỵ. Nhưng Kình Dương ở Tí có phần sâu sắc bén nhọn hơn ở Ngọ. Tả Phù phải đủ khả năng như đệ nhị Thiên Phủ mới mong giải quyết êm đẹp.
Kình Dương Tí Ngọ với 6 tuổi Dần Ngọ Tuất, Thân Tí Thìn đều phát huy biệt tài hơn người, tất lòng tự hào không thể không cao, sẽ hứng chịu phần nào thừa trừ nguy hiểm. Tiếc thay công nhiều quả thiếu.
Hai bộ Tả Hữu - Xương Khúc được đầy đủ tín nhiệm được nhập đoàn chỉ huy Tứ Hóa do thực lực uy danh có trong quỹ đạo của mình một chi nhóm phụ thuộc làm sáng tỏ khả năng cao quý với trách nhiệm một trong 4 thành phần chính của toán số mạng học: đại diện năm là Thái Tuế, đại diện tháng là Tả Hữu, đại diện ngày là Chính tinh, đại diện giờ là Xương Khúc — giá trị ngôi tam công, bát trụ của một triều đại, xứng đáng ghi trong đề danh bảo vật.
Cả bộ máy Tứ Hóa đều xoay quanh một trục: năm sinh tính theo hoa giáp âm lịch. Nhưng hoa giáp tự nó cứ 60 năm lại quay vòng từ đầu, còn dương lịch thì cộng dồn không ngừng — muốn đối chiếu hai thứ lịch ấy với nhau, phải có một phép tính riêng.
Muốn đối chiếu Dương lịch và Âm lịch
Biết rằng âm lịch diễn biến cứ theo 60 hoa giáp liên hồi luân chuyển từ cổ xưa đến nay, còn dương lịch từ lúc xuất hiện đến nay, cứ chồng chất lên thành số, cứ mỗi ngày mỗi lớn. Đem khép vào âm lịch phải chia ra làm hai giai đoạn: Trước Công Nguyên và Công Nguyên. Ở giai đoạn giữa này thấy 6 năm như sau: Mậu Ngọ là năm thứ 3 trước Công Nguyên, Kỷ Mùi là năm thứ 2 trước Công Nguyên, Canh Thân là năm thứ 1 trước Công Nguyên, Tân Dậu là năm thứ 1 khởi đầu Công Nguyên, Nhâm Tuất là năm thứ 2 Công Nguyên, Quý Hợi là năm thứ 3 Công Nguyên.
Nhìn vào 6 năm trên của âm lịch, từ Mậu Ngọ đến Quý Hợi tuần tự Can Chi của 6 năm cuối cùng của 60 hoa giáp. Vậy 3 năm đầu của Công Nguyên là 3 năm cuối của 60 hoa giáp, vậy muốn đối chiếu dương và âm lịch phải chia làm 2 giai đoạn và nguyên tắc áp dụng phải khác nhau.
Trước Công Nguyên: lấy tuổi sanh năm dương lịch chia cho 60, còn lại bao nhiêu phân tánh như sau: 10 thuộc Tân Hợi, 20 thuộc Tân Sửu, 30 thuộc Tân Mão, 40 thuộc Tân Tị, 50 thuộc Tân Mùi. Vì năm 1 thuộc Công Nguyên là Canh Thân, đếm ngược lại 10 là Tân Hợi, 20 là Tân Sửu… còn hàng đơn vị đếm ngay trước cung hàng chục đi ngược lại đến số đơn vị, còn thừa là năm tuổi âm lịch.
Ví dụ như năm 453 trước Công Nguyên, số còn lại là 33, thì 10 là Tân Hợi, 20 là Tân Sửu, 30 là Tân Mão. Số đơn vị 1 là Canh Dần, 2 là Kỷ Sửu, 3 là Mậu Tý – 453 trước Công Nguyên. Khổng Phu Tử sinh 551 trước Công Nguyên thời Trung cổ, lấy 551 chia 60 được 11, số 1 đơn vị đứng trước 10 là Canh Tuất – 551 trước Công Nguyên.
Sau Công Nguyên: bởi 3 năm đầu của Công Nguyên là 3 năm cuối của 60 hoa giáp, vậy phải lấy năm dương lịch trừ ngay với 3. Còn lại chia cho 60, còn dư bao nhiêu thì phân tánh như sau: 10 thuộc Giáp Tý, 20 thuộc Giáp Tuất, 30 thuộc Giáp Thân, 40 thuộc Giáp Ngọ. Hàng đơn vị 7 của 10 năm thuộc Giáp Thìn: 01 là Giáp Thìn, 02 là Ất Tị, 03 là Bính Ngọ, 04 là Đinh Mùi, 05 là Mậu Thân, 06 là Kỷ Dậu, 07 là Canh Tuất – 1910 dương lịch.
Nguyên tắc chung: trước Công Nguyên, sau khi chia cho 60, số còn lại, hàng chục bắt đầu từ Hợi tính là Tân Hợi, đi thuận sang Sửu (20), Mão (30)… hàng đơn vị đứng ngay trên đi nghịch lại. Sau Công Nguyên, sau khi trừ cho 3 và chia cho 60, hàng chục bắt đầu Giáp Tý đi nghịch (10), Giáp Tuất (20), Giáp Thân (30)… hàng đơn vị thuộc con Giáp nào bắt đầu đi thuận lại.
Sanh năm âm lịch muốn tìm ra năm dương lịch thì lấy số tuổi của âm lịch trừ đi 1, vì âm lịch thường tính trội hơn dương lịch 1 tuổi, sau đó lấy số năm dương lịch đang sống trừ đi số tuổi âm lịch (đã bớt 1) thì thấy số còn lại là năm sanh dương lịch, như tuổi Kỷ Mão ở năm 1984 là 46 tuổi, trừ bớt đi 1 còn lại 45, tức là 1984 trừ 45 còn lại 1939 là Kỷ Mão.
Thiết tưởng, nếu cứ nói 60 hoa giáp diễn đi trình lại cứ thế thật quá nông cạn, còn đâu sự dị biệt. Xin nói đó chỉ là 1 phần của nguyên đại bao gồm 3 giai đoạn: Thượng Nguyên – Trung Nguyên – Hạ Nguyên.
Tất cả có 180 năm. Mỗi đại nguyên chỉ là 1/6 của một địa cuộc hoa giáp: 180 x 6 = 1080 năm. Vậy 6 hoa giáp có 6 x 1080 = 6480 năm.
Vậy một thời gian dài từ Thái cổ cho đến sau này biết bao đổi thay khác nhau. Bằng ở thể điển hình "Can - Chi" thực dụng, lấy âm dương ngũ hành chế hóa, chuyển diễn thành muôn hình vạn trạng. Đó mới là căn bản chính của Dịch học toán học: Thái cực, Lưỡng nghi, Tam tài, Tứ tượng, Ngũ hành.
Nguồn: Tử Vi Nghiệm Lý Toàn Thư - Thiên Lương
