Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Tiểu phú do cần, đại phú do thiên: phúc đức, tích đức, căn khí

Tử Vi Bắc Phái - Nhập môn03/10/202610 phút đọc4 lượt đọc
Tiểu phú do cần, đại phú do thiên: phúc đức, tích đức, căn khí

Người tiết kiệm giữ được mảnh vườn nhà, còn kẻ đại phú địch quốc thì nhờ trời. Cung Mệnh chỉ là một nửa con người, nửa kia nằm ở nhân quả của nhiều đời. Vì sao người tốt có khi vẫn chịu khổ…


Người cần kiệm giữ được nhà, người đại phú nhờ trời

Có hai kiểu người giàu rất khác nhau. Người tiết kiệm dụng tâm vào tam phương Điền Trạch: giữ bổn phận, tận trách nhiệm, cố thủ mảnh vườn nhà mình. Đó là kiểu giàu nhờ cần. Còn những chủ xí nghiệp đại phú địch quốc thì không chỉ do cần mà do "thiên". Thiên ở đây là phúc báo tiên thiên: người đại phú ắt đã tích phúc qua nhiều kiếp mới được phúc báo lớn như vậy. Nói đến phúc báo thì phải nghĩ ngay đến tam phương Phúc Đức.

Cổ nhân nói gọn: tiểu phú do cần, đại phú do thiên. Câu ấy không phải một lời ngụ ngôn. Nó được cấu thành từ một cách nhìn rất cụ thể trên mệnh bàn.

Của cải nhiều hay ít đọc ở một nơi, nhưng của cải lớn đến mức nào lại phải đọc ở nơi khác, nơi nhân quả nhiều đời chồng lên nhau.

Cái kho chưa đủ, phải nhìn cả cung cùng gốc với nó

Tài phú nhiều hay ít xem ở tam phương Điền Trạch. Song trong phạm vi hữu hạn của các tượng, tam phương Điền Trạch tự nó không đủ để biểu hiện cảnh đại phú địch quốc. Muốn xem tài sản cho đúng, phải xem cả những cung cùng gốc theo số một sáu với tam phương Điền Trạch. Mà các cung ấy chính là tam phương Phúc Đức, nơi chứa nghiệp báo tiên thiên. Ba cung của tam phương Phúc Đức mang ba nghĩa:

  • Phúc Đức: nghiệp báo tiên thiên cùng phúc đức hậu thiên.
  • Phu Thê: là cung Tài Bạch của Phúc Đức, gọi gọn là "phúc phận về tài".
  • Thiên Di: là tế ngộ, cơ duyên, căn phú tiên thiên.

Một ví dụ về cách đọc. Cung Điền Trạch phi Lộc nhập Thiên Di, chiếu về Mệnh. Nếu một cung trong tam phương Phúc Đức có Quyền tới củng, thì giống như "quần thần khánh hội", bầy tôi hội mừng. Nếu lại chuyển thành Thiên Di Kỵ nhập Mệnh, rồi gặp Tài Bạch Hóa Lộc hội về, thì thành "gấm thêu hoa", tượng này không giàu cũng khó.

Có lời chú rằng phải có tổ hợp sao "thiên tài" thì mới là đại phú. Sao thiên tài mà gặp Lộc Quyền thì càng giàu. Những sao thiên tài ấy là Liêm Trinh Hóa Lộc, Tham Lang Hóa Lộc và Hóa Quyền, cùng Phá Quân Hóa Lộc và Hóa Quyền. Nói cách khác, đại phú cần phúc báo.

Ba cặp cùng gốc: Phúc Đức và Tật Ách, Phu Thê và Điền Trạch, Thiên Di và Huynh Đệ

Phúc Đức và Tật Ách

Nhiều người nghĩ rằng Tật Ách có Lộc, Quyền, cả đời ít bệnh đau hành hạ thì chắc sống lâu. Không phải vậy. Hãy nhìn quanh: có người bệnh kéo dài hết năm này sang năm khác mà vẫn chưa mất; có người uống thuốc mấy chục năm mà vẫn sống; có người khỏe như trâu nhưng một cơn sốt rồi ngất đi; có người hôm qua còn trò chuyện chuyện cưới hỏi, hôm nay đã tai nạn máu chảy lênh láng. Tuổi thọ dài ngắn gắn liền với phúc. Cho nên lấy Phúc Đức làm cung cùng gốc của Tật Ách.

Phu Thê và Điền Trạch

Kết hôn thành gia là bước khởi đầu của Điền Trạch. Có hôn nhân mới có gia đình. Nếu một đời không vợ, không chồng, không con, thì còn nói gì đến Điền Trạch?

Thiên Di và Huynh Đệ

Huynh Đệ đẹp thì tất nhiên kinh tế tốt, sự nghiệp có quy mô; mà giàu thì được nhiều người kính trọng. Nói cách khác, cung Huynh Đệ tốt thì người ấy có địa vị và trọng lượng trong xã hội.

Mệnh tam phương chỉ là một nửa của con người

Nếu chỉ nhìn tam phương Mệnh để định cách cục, thì chẳng khác gì ếch ngồi đáy giếng. Con người nhìn bầu trời vũ trụ vô tận mà thấy mình chỉ như một con vi khuẩn bé nhỏ, nhưng chính con người cũng là một tiểu vũ trụ. Đại vũ trụ chứa huyền bí vô cùng, tiểu vũ trụ cũng vậy. Đẩu Số là con đường đi vào những ẩn số vô hạn của con người, một kết tinh của trí tuệ tinh vi. Nếu người ta chịu bỏ công tu dưỡng, nó thật là một thứ "cực phẩm xinh đẹp". Còn chỉ lấy tam phương Mệnh để luận thì giống như ếch nhái ngước nhìn trời.

Tam phương Mệnh là cung hành động. Nó chỉ mô tả một người lăn lộn kiếm sống giữa hồng trần. Ăn no hay ăn bậy, ăn nhiều hay ăn ít, còn phải nhìn ý trời. Cung đối của tam phương Mệnh là Thiên Di, thuộc tam phương Phúc Đức. Tam phương Mệnh là các cung dương (dương chủ hành động) nhưng vẫn thuộc "lý cung", cung bên trong; còn tam phương Phúc Đức ở đối diện là hình dạng bên ngoài của chính tam phương Mệnh. Trong là âm, ngoài là dương: tam phương Mệnh là "dương trung chi âm", còn tam phương Phúc Đức mới là "dương trung chi dương".

Dương trung chi dương là cực dương. Dương cực thì sinh âm. Phúc Đức tam phương lưu giữ nghiệp báo qua nhiều đời, cùng với âm đức của hiện tại. Với số mệnh, tam phương Phúc Đức là nơi dương cực sinh âm; mà âm là gì? Là nhân quả nhiều đời, là nghiệp lực sai khiến, không nhìn thấy, không sờ thấy. Đó chính là ý trời. Nhân quả đời trước dĩ nhiên là hạt giống thiện hoặc ác, lớn lên thành căn khí, thành nghiệp báo lành hay dữ.

Vì sao người tốt có khi chịu khổ

Từ xưa nhìn thấy nhiều người tốt mà chẳng được gì, kẻ tiểu nhân lại như gà chó thăng thiên. Thô lỗ lại cưới được vợ hiền, người hiền lành thì gặp kẻ dữ tợn. Người tốt không sống lâu, còn họa hại thì kéo ngàn năm. Người tốt sinh con chẳng ra gì mà tre xấu lại mọc măng tốt.

Thế thì phải nói sao? Đừng trách trời; hãy trách mình đời trước chưa làm nhiều điều tốt. Nghe như chuyện nghìn lẻ một đêm, nhưng đó không phải chuyện thần thoại; chỉ cần cẩn trọng khi dùng để tham khảo.

Căn khí đọc từ đâu

Căn khí xuất phát từ kinh nghiệm qua đời đời kiếp kiếp, biểu hiện ra thành "A Da ý thức", cái mà ta thường gọi là thiên phú, tài năng. Muốn xem căn khí, lấy Phúc Đức và cung Sự Nghiệp của Phúc Đức, tức Thiên Di, cùng cung cộng tông của Phúc Đức là Tử Nữ làm chính. Sau đó mới xét cùng với Mệnh và Tật Ách.

Nói cách khác, căn khí chủ yếu đọc ở ba cung Phúc Đức, Thiên Di và Tử Nữ, nơi lưu giữ những gì đã được rèn từ nhiều kiếp. Cung Mệnh và Tật Ách đi kèm để đối chiếu với cuộc sống hiện tại.

Phúc Đức chính là chữ Đức

Hai chữ "phúc" và "đức" trong tên cung Phúc Đức là hai chuyện khác nhau. Quá khứ tích được đức thì nay thành phúc; hiện tại tích đức thì tương lai thành phúc. Vậy tích đức bằng cách nào? Là khi thuận lợi, biết bố thí ơn huệ cho những người thuộc tam phương Giao Hữu.

Nếu Kỵ năm sinh, hoặc những Kỵ từ tam phương Mệnh, phi nhập nhiều vào tam phương Giao Hữu, nghĩa là người này kiếp này nên tích đức nhiều. Còn nếu coi Giao Hữu là cung Điền Trạch của Phúc Đức, tức cung thu tàng, thì mọi chuyện về đức cũng quy về tam phương Giao Hữu.

Những lời trên chỉ nói về một Kỵ đơn. Nếu tam phương Giao Hữu có từ hai Kỵ trở lên thì đó là điều "thất": người ấy không những vô đức mà còn tổn người hại mình, cá tính và hành động rất lệch lạc, rốt cuộc rối loạn, không có phép tắc. Cần tự nhận thức và tự cảnh tỉnh.

Lại có trường hợp Mệnh tọa Kỵ năm sinh, rồi còn phi Kỵ nhập tam phương Giao Hữu. Người này trọng nghĩa nhưng hành xử cố chấp; sợ dạy người, không dám làm vừa lòng ai, nên cũng không thể gọi là đức. Trừ phi là người tu hành theo kiểu "vô duyên đại từ, đồng thể đại bi".

Kỵ nhập tam phương Giao Hữu tức là xung tam phương Điền Trạch: phải qua mất mát thì mới tích được đức. Người xưa nói: bố thí còn hơn nhận, vì bố thí là được phúc. Ví dụ Mệnh Kỵ nhập Phụ Mẫu thì lấy hiếu làm đầu; Mệnh Kỵ nhập Tử Nữ thì lấy chuyện dạy con làm đầu, mai sau tạo phúc cho xã hội, như thế chẳng phải là thiện sao?

Có người hỏi: làm việc thiện có chống lại được nghiệp lực không? Đáp: đại thiện thì có thể chống đỡ xui xẻo; còn thiện nhỏ nhoi, chỉ hòa hợp qua loa, thì không đáng nói.

Lộc và Kỵ chuyển tiếp: phải truy đến cùng mới biết là phúc gì

Khi luận lành dữ không thể dừng ở một mũi tên, mà phải có thủ pháp chuyển tiếp. Ví dụ năm sinh có Lộc nhập Giao Hữu. Nếu không chuyển tiếp, làm sao biết đó là loại "phúc bạn bè" nào? Giả sử cung Giao Hữu phi Kỵ vào tam phương Mệnh, thì Giao Hữu đang ôm phúc, tức Lộc, cho mình. Tổng hợp lại: người này có duyên tốt, được bạn tốt, thường được bạn bè giúp đỡ. Còn nếu cung Giao Hữu phi Kỵ vào tam phương Điền Trạch thì khách quý chật nhà, tài nguyên rộng mở, quan hệ bên ngoài giúp mình rất nhiều.

Ngược lại, nếu năm sinh có Kỵ tọa Giao Hữu: ta tiếc tình, trọng nghĩa, đụng đến tiền thì là mất. Giả sử Giao Hữu Kỵ nhập tam phương Mệnh thì ta chấp tình với bạn, đau đầu mãi, chịu thiệt hoài vẫn không khôn ra. Nếu Kỵ nhập tam phương Điền Trạch thì như "bầy chó đảng": cây đổ thì lũ chồn cáo cùng tan, cục diện rối rắm mà mình còn phải thu dọn.

Cá tính xấu thì chuyện lớn cũng hỏng

Nếu xét kỹ cá tính của người đương số, giỏi xem vận hạn, nắm được vui, giận, yêu, ghét, thì biết quá nửa chuyện của họ. Cá tính xấu thường khiến chuyện lớn xấu theo, ảnh hưởng tiền đồ. Xin lấy mấy ví dụ:

  • Mệnh Kỵ xuất vào Thiên Di thì tính ngay thẳng, phân rõ thị phi, không thích náo nhiệt, không trọng bề ngoài, không giỏi xã giao. Như thế liệu có ổn không? Tất nhiên thiệt thòi.
  • Phúc Đức Kỵ nhập Thiên Di, Phụ Mẫu thì tính khốc liệt, thiếu nhẫn nhịn, tính nết xấu. Nói là không ảnh hưởng đại sự thì sao được?
  • Mệnh tọa Kỵ năm sinh mà can cung phục Kỵ với Giao Hữu thì là người trọng nghĩa mà chẳng có trí tuệ. Ai chịu nổi, và liệu không gây chuyện xấu?
  • Mệnh Kỵ nhập Phúc Đức, rồi chuyển Kỵ nhập Điền Trạch: người này nặng hưởng thụ mà thiếu tính toán tiết kiệm. Nếu hắn than không giàu thì đáng thương hay đáng trách?

Lời nhắn ở đây là cá tính hiện trên mệnh bàn không chỉ để mô tả; nó là con đường mà số phận đi qua.

Gom lại, mệnh bàn đọc sâu đến đâu cũng quay về một ý: phần ta làm được nằm ở tam phương Mệnh và tam phương Điền Trạch, phần ta chỉ biết nhận nằm ở tam phương Phúc Đức và Giao Hữu. Hiểu ranh giới ấy thì không còn đổ lỗi cho số phận khi còn việc có thể làm, cũng không còn tự dằn vặt vì những điều vốn đã được định từ trước.

Nguồn: Lương Nhược Du, Phi Tinh Tử Vi Đẩu Số 12 cung 672 tượng.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn