Bài tổng quan
Thiên Tướng giữ ấn, Thiên Lương che chở, Thất Sát cầm quân
Một ngôi sao lo cơm áo cho cả đời, một ngôi sao che chở người ta qua nạn, một ngôi sao cầm quân ra trận mà cô độc hơn ai hết. Ba vị trí ấy đứng cạnh nhau trên vòng tam hợp, nhưng kết cục mà chúng mang lại cho mỗi người lại khác nhau đến lạ lùng. Khác nhau ở chỗ nào, và vì sao hai chữ thượng tướng lại vừa là vinh vừa là họa…
Thiên Tướng, ấn tinh của cơm áo
Thiên Tướng là dương Thủy, sao thứ năm của Nam Đẩu, chuyên coi cơm áo. Khí hóa của nó gọi là "ấn", là chủ tể của quan lộc. Trong số mệnh, đó là sao coi về tước vị, là thiện phúc, người có sao này hưởng phúc cơm áo. Mặt tròn pha vuông. Ở vượng địa thân hình cao vừa và mập, ở yếu địa gầy nhỏ mà kén ăn. Tính đôn hậu, độ lượng lớn, nhân duyên tốt, nói chuyện thành thật, hay tò mò, thích lo chuyện bao đồng, sành ăn uống, chú trọng hưởng thụ, hiếu khách, phong độ tốt, cử chỉ cao nhã, thích những thứ đẹp đẽ trên đời và chịu chưng diện.
Sao này ở mười hai cung đều là phúc, không có thế hãm, chỉ phân vượng nhược, lại hóa giải được cái ác của Liêm Trinh. Nếu hội Tử Vi, Tả Hữu, Xương Khúc thì là cục tài và quan đều đẹp. Mừng nhất hội Thiên Phủ ở thân mệnh, cả đời đầy đủ an hưởng và còn thọ cao. Nếu ở hãm địa, gặp Vũ Khúc, Phá Quân, Dương Đà đồng hành thì là người có tài nghệ khéo léo; thêm Hỏa, Linh thì tàn tật không ít.
Nữ mệnh được sao này nhập miếu thì thông minh đoan trang, ôn hòa nhân từ, ăn nói thiện, cơm áo xứng ý, có chí khí, hiếu khách, đối đãi người có lễ, có vận giúp chồng, thích chưng diện, yêu đồ đẹp. Tam phương có cát chầu về thì được chồng quý. Chỉ kỵ Xương Khúc xung phá. Nếu làm vợ lẽ thì ắt có đào hoa. Ở thế yếu, gặp Thất Sát hoặc Phá Quân ở thân mệnh thì chủ không chính đại. Sao này ở vượng địa, vào hạn gặp thì tài lợi tăng thêm, hội Tả Hữu thì lại có quyền uy. Nếu ở thế yếu mà không bị sát phá, cũng luận là an hưởng.
Thiên Tướng gia sát thì đời sống riêng tư không kiểm điểm, nên đề phòng thương tích do đao kiếm hoặc các tai nạn khác, và đừng dây dưa với người khác giới lai lịch không rõ. Nữ mệnh nhiều khi không có duyên với đàn ông, chồng hoặc người yêu đều đi vào lòng người khác, khiến cả đời cô độc tịch mịch. Nam mệnh thì lao lực cả đời. Về bệnh, Thiên Tướng chủ bàng quang, tiểu đường, tiểu tiện đục. Ở cung Điền Trạch, cả đời dư dả, gần nhà có đường nước, nước chảy, hố nước thì luận là cát.
Bốn thế đứng của Thiên Tướng
Thiên Tướng bị Liêm Trinh và Kình Dương kẹp, ắt phạm pháp bị bắt
Cục này gọi là "hình tù giáp mệnh". Nếu Thiên Tướng có Liêm Trinh đồng độ mà gặp Kình Dương đồng cung, tương xung thì hung nhất, không tránh quan tai. Lại như Thiên Tướng thủ một mình ở Dậu, cung đối có Liêm Trinh và Kình Dương xung chiếu cũng hung. Ấn tinh cùng Kình Dương đồng cung hoặc hội xung cũng bất lợi nhưng nhẹ hơn. Nếu có cát tinh Lộc Mã đến phò thì chỉ giật mình mà không hiểm, kết cục không hại.
Nữ mệnh có Thiên Tướng, con quý và chồng hiền
Nữ mệnh được thần cơm áo ở thân mệnh, không bị sát phá, thì vượng phu ích tử. Nhưng cung Dậu là nơi mộc dục nên nhiều người làm vợ lẽ. Người năm Kỷ lập mệnh ở Tý có Khôi Việt, song Lộc hội về, và người năm Giáp lập mệnh ở Ngọ có tam kỳ, Lộc Tồn hội hợp đều cát. Người năm Canh lập mệnh ở Dần thì lợi cho nam mà không lợi cho nữ, vì Vũ Khúc hóa Quyền cùng Lộc Tồn nhập mệnh dù tốt cũng chủ cô độc hình khắc, sợ sớm góa. Kỵ nhất người năm Bính, Mậu, Nhâm lập mệnh ở Tý hoặc Ngọ, thành cục thương chồng khắc con "hình tù giáp ấn".
Thiên Tướng gặp Xương Khúc, nữ hợp làm vợ lẽ
Ba sao này hội ở thân mệnh cũng có phú quý, nhưng nhiều người là vợ lẽ hoặc vợ kế. Người nữ có cách này đều rất xinh đẹp, nhu cầu tình cảm nhiều và được chồng yêu thương sâu sắc.
Hữu Bật gặp Thiên Tướng, phúc đến tận nhà
Hữu Bật thuộc thủy, đồng độ với Thiên Tướng thì càng cát, giống như Thiên Phủ hội Tả Phụ. Nữ mệnh gặp Hữu Bật đồng độ nhập mệnh, không sát xung phá, thì cả đời phúc dày. Mừng nhất người năm Quý lập mệnh ở Tý có song Lộc giao trì. Người năm Canh lập mệnh ở Hợi có Vũ Khúc hóa Quyền cùng Thiên Việt chầu về. Người năm Giáp có Phúc Đức hóa Lộc, Thiên Việt hội hợp cũng cát. Đến cung Sửu, Mùi là nơi bình hòa, không có sát thì không quý nhưng có thể giàu, hay nhiều bệnh. Ở Mão, Dậu thì nữ mệnh ở yếu địa, cuối cùng phúc không trọn. Cách này nếu hội Thiên Phủ, Tả Phụ ở thân mệnh thì càng cát.
Thiên Lương, ấm tinh kéo dài thọ
Có sao chuyên lo cơm áo, có sao chuyên che chở. Thiên Lương là ngôi sao của sự che chở ấy, nhưng che chở nhiều quá lại khiến người ta cô cao.
Thiên Lương là dương Thổ, sao thứ hai của Nam Đẩu, coi thọ và lộc, là chủ tể của cha mẹ. Khí hóa của nó gọi là "ấm". Đó là sao kéo dài tuổi thọ, có thể gặp hung hóa cát. Ở thân mệnh, người có mặt dài vuông, thanh tú, thông minh ngay thẳng, tính ôn hòa, có khí phách, có phong thái danh sĩ, thọ như Nam Sơn. Họ khéo biện thuyết, bản tính trung hậu, có lòng trắc ẩn nên thích bố thí. Ở miếu địa thì cao lớn vạm vỡ, ở hãm địa thì thấp gầy, tính cô cao không hợp đám đông, chính trực vô tư.
Thiên Lương mừng nhất là miếu địa hóa Khoa, rất tốt. Nếu hội thêm Tả Hữu, Xương Khúc thì giàu quý không nhỏ, nhất là được Thái Dương ở vượng địa tọa Phúc Đức, tam hợp Xương Khúc. Ví dụ Thiên Lương ở Dần, Thái Dương ở Thìn tọa Phúc Đức thì danh tiếng vạn toàn, quý cực phẩm. Đây là vị thần hóa nguy hóa hung. Vào hạn gặp thì ắt có việc kinh hiểm nhưng kết quả hóa nguy thành an. Sao này ở vượng địa thì chủ cao thọ. Với Thiên Cơ, Không Kiếp hội xung chiếu thì hợp hiến thân cho tôn giáo. Nữ mệnh được sao này thì có chí của đàn ông, nhập miếu thì cao quý; ở hãm địa gia sát thì thương chồng khắc con, và nhu cầu tình cảm nhiều.
Sao này lấy Tý Ngọ làm nhập miếu, không sát thì giàu quý. Cung Dần là vượng; người năm Đinh có tam kỳ cùng Lộc Tồn hợp, và người năm Kỷ có hóa Khoa, Lộc Tồn nhập mệnh, cùng Thiên Việt hội, đều là thượng cách. Cung Thân: người năm Bính có quyền lộc gia hội, gia Văn Xương càng tốt. Cung Mão đồng cung Thái Dương: người năm Nhâm có song Lộc cùng Thiên Khôi nhập mệnh là thượng cách. Cung Thìn: người năm Kỷ có hóa Khoa nhập mệnh, Khôi Việt chầu về, và người năm Đinh có tam hợp hội hợp, chủ phú quý. Người năm Mậu, Kỷ có hóa Khoa nhập mệnh, Lộc Tồn vào tài, nhưng Thái Âm ở hãm địa, luận là nửa giàu nửa quý.
Về bệnh, Thiên Lương chủ tỳ vị không tốt, chân đùi phù thũng, can vượng và thấp nhiệt. Ở cung Điền Trạch, sao này chủ giàu dư, gần nhà có cao ốc, nơi đất nhô cao, mồ mả và gò đất thì luận là cát.
Tám thế đứng của Thiên Lương
Thiên Lương ở Ngọ, quan phẩm thanh hiển
Cung Ngọ là miếu địa, tam phương có Cơ, Âm ở Dần, Thiên Đồng ở Tuất hội về. Người năm Đinh có cát tinh hội hợp, Lộc Tồn nhập mệnh là thượng cách. Người năm Kỷ có hóa Khoa cùng Lộc Tồn nhập mệnh cũng cát. Người năm Quý có Lộc Tồn đối chiếu, tài gặp hóa Khoa, giàu mà không quý.
Thiên Lương, Thái Âm, người khách phiêu đãng
Hai sao ở vượng địa tại thân mệnh cũng có phú quý, nhưng không tránh được phiêu đãng. Nếu Thiên Lương làm thân mệnh ở Dậu, Thái Âm ở Tỵ, đều hãm địa, thì nghèo khổ và phiêu bạt khắp nơi. Cổ thư nói: "Thiên Lương, Thiên Mã, người phiêu đãng phong lưu". Cách này chỉ ở bốn cung tứ sinh, cung Dần là tốt, cung Thân đứng sau, Tỵ và Hợi là hãm địa bất lợi.
Lương Đồng ở Tỵ Hợi, nam nhiều lãng đãng, nữ nhiều chuyện tình
Hai sao ở Tỵ, Hợi đều là nơi yếu, chủ nhàn rỗi, phong lưu, không có thành tựu. Nhưng nếu cát tinh nhiều đến phò thì cũng có thể phú quý. Nữ mệnh đều rất xinh đẹp, chỉ có nhu cầu tình cảm nhiều, gia sát xung thì cô khổ hạ tiện.
Thiên Lương, Thái Dương, Xương Lộc hội, thi đỗ đầu bảng
Thiên Lương, Thái Dương, Văn Xương, Lộc Tồn hội ở mệnh viên thì chủ một lần thi đỗ thành danh, sớm đắc ý, kiêm có phú quý. Ví dụ Thiên Lương ở Tý thì Thái Dương ở Ngọ chầu về. Nếu thêm Lộc Tồn, Văn Xương thì càng đặc biệt. Xưa gọi đây là mệnh trạng nguyên; ngày nay không có trạng nguyên, thì chủ thi đỗ đầu bảng. Người này ắt thông minh, mày thanh mắt đẹp.
Thiên Lương, Văn Xương ở miếu vượng, chức vị đến đặc nhiệm
Ấm tinh ở vượng địa lại có Văn Xương đồng độ, Thổ sinh Kim, tự nhiên cát tường. Không có sát xung phá thì có thể làm chủ tịch tỉnh, hoặc chức đặc nhiệm tương đương.
Thiên Lương, Thái Âm, nữ nhiều tình cảm và nghèo
Hai sao ở thân mệnh, bất luận vượng hay nhược, nữ mệnh ắt nhu cầu tình cảm nhiều. Ở hãm địa càng nghèo hèn, thương chồng khắc con.
Đại tiểu hạn tuổi già gặp Thiên Lương, kéo dài thọ trừ bệnh
Thiên Lương là thọ tinh. Đại hạn hay tiểu hạn gặp thì có bệnh ắt khỏi, dù bệnh nặng vẫn không chết, lại gặp hung hóa cát, gặp nạn thành điềm lành.
Thiên Lương gia sát ở cung hãm, thất ý trong tình trường
Tình cảm yếu đuối, nhiều nỗi buồn thất tình, thường vì tình mà khổ não, vì tình mà tiều tụy. Nữ mệnh yêu không chuyên, sáng ba chiều bốn, không chịu nổi sự cô quạnh nơi khuê phòng.
Thất Sát, thượng tướng của số mệnh
Thượng tướng thì cầm quân, nhưng ngoài chiến trận cũng là kẻ cô độc nhất. Thất Sát vừa là ngôi sao của quyền, vừa là ngôi sao của hình.
Thất Sát là dương Kim, sao thứ sáu của Nam Đẩu, là thượng tướng của số, cũng là ngôi sao cô độc của thành bại, chuyên nắm quyền bính. Đó là Kim do Hỏa hóa, chủ cô khắc, hình sát, coi sinh tử. Mừng hội đế tọa thì hóa thành uy quyền, nếu không thì đều hung. Vào mệnh, người thuở trẻ mặt xanh trắng, về già hồng vàng, mặt dài vuông, miếu thì mập, hãm thì gầy yếu, có tàn tật hoặc vết rỗ nhẹ. Tính nóng vội, vui giận thất thường, làm việc tiến thoái bất thường. Ở miếu địa có mưu lược. Gặp Tử Vi gia cát thì có quyền sinh sát, võ chức lợi nhất. Hội Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt thì quý cực phẩm. Kỵ Không Vong thì không có uy. Gia hung sát ở nơi tứ sinh thì là người kinh doanh nghề thịt. Nếu hội hai sao hình và tù thì chủ tàn tật và hình khắc cực nặng.
Vì vậy Thất Sát nhập mệnh mà không có cát phò, vào hạn gặp hung sát, lưu niên không cát, thì chết dữ yểu chiết. Nếu thủ thân mệnh, bất luận vượng nhược, bất kể sang hèn, thuở trẻ nhất định trải gian nan vất vả. Vào cung sự nghiệp, được đất tốt gia cát thì ở vị trí quyền quý; hãm địa gia sát thì làm trăm nghề, đồ tể. Vào cung Tử Tức thì cô độc. Ở cung Phu Thê chủ khắc. Hội hình, tù ở cung Điền Trạch thì thời trẻ cha mẹ bị hình thương, về già con cái cô khắc, và cũng chủ không giữ được tổ nghiệp. Đồng với sát diệu ở cung Tật Ách thì khó tránh tàn tật.
Nữ mệnh nhập miếu gia cát cũng vượng phu ích tử, có chí khí của đàn ông. Ở hãm địa gia sát xung phá thì nhiều hình khắc, lại không sạch sẽ, hạ tiện. Bí kinh có câu: "Thất Sát cư hãm địa, trầm ngâm phúc bất vinh".
Vào hạn gặp, nếu hội đế tọa, Lộc Mã thì có thể giải ách. Nếu thân mệnh tam hợp vốn có Thất Sát thủ chiếu mà tuế hạn lại gặp Thất Sát thì gọi là "Thất Sát trùng phùng". Nếu năm ấy lưu Kình Dương, Đà La đến xung hoặc kẹp thì ắt có họa hung, sát nặng thì chết. Nếu ở miếu địa, lại hội đế tinh, Lộc Tồn chiếu về thì mới giải được.
Thất Sát lấy bốn cung Dần, Thân, Tý, Ngọ làm miếu lạc. Cung Ngọ, Thân là "Thất Sát triều đẩu cách", nhiều vất vả tự dựng nghiệp, một mình đảm đương một phía, thành tựu rực rỡ. Cung Dần, Tý là "Thất Sát ngưỡng đẩu cách", thành tựu cũng lớn, nhưng phần nhiều nhờ người mà quý, được người nâng đỡ; cũng không nương tổ nghiệp, nhiều khi làm phó mà nắm quyền.
Về bệnh, Thất Sát chủ chứng phổi, nổi giận tổn can, thương tích, viêm sườn, thổ huyết, hoặc sản huyết, ruột già khô ướt không đều và liệt dương. Ở cung Điền Trạch, ở miếu thì bạo phát giàu đủ, ở hãm thì phá bại. Gần nhà có cao ốc, miếu, nơi công cộng, nhà cũ nát, hoặc đồi núi, chùa tháp. Miếu thì cát, hãm thì luận hung.
Mười một thế đứng của Thất Sát
Thất Sát ở Dần, Thân, Tý, Ngọ, cả đời tước lộc vinh xương
Cung Dần: người năm Giáp có Lộc Mã giao trì, hóa Quyền hội về, chủ phú quý. Người năm Canh có Vũ Khúc hóa Quyền ở cung tài, Lộc Mã chầu cũng tốt. Người năm Quý có song Lộc ở cung sự nghiệp, cung tài ở vượng địa hóa Kị, danh cao hơn lợi, tài vượng nhưng khó giữ. Cung Tý: người năm Kỷ có song Lộc đối chiếu chầu về, Khôi Việt hóa Quyền hội là thượng cách. Người năm Quý có Lộc Mã giao trì là tốt nhất. Người năm Giáp có Lộc Mã chầu về, hóa Quyền hội cũng tốt. Cung Ngọ: người năm Giáp có song Lộc giao trì chủ tài, Khoa Quyền hội cát, phú quý song toàn. Người năm Kỷ có Lộc Tồn nhập mệnh, quyền lộc hội về, Thiên Khôi đối hướng cũng tốt. Người năm Đinh có Lộc Tồn đối chiếu thì chủ giàu.
Thất Sát gặp Phá Quân, thành bại và cô khắc
Trong số, Thất Sát và Phá Quân chủ thành bại và cô khắc. Gặp hình của Kình Dương và đại sát tướng Linh Tinh thì càng tăng thêm hung diễm. Bất luận rơi vào cung nào, bất kể vượng hay nhược, đều chủ hình khắc, quan tụng, phá bại. Gia sát nhiều ở mệnh cung thì chủ yểu; ở miếu địa, đại hạn gặp cũng bất lợi. Phá Quân là hao tinh, bất lợi cho sáu người thân, ít nhân nghĩa, cũng kỵ gặp Dương, Linh vì chủ thêm hung bạo độc ác.
Thất Sát hãm tuyệt địa hội Dương Đà, yểu thọ như Nhan Hồi
Đây là bàn về người có chính tinh ở thế yếu hãm, vào hạn gặp Thất Sát, không cát mà có sát, lưu niên Dương Đà cùng Dương Đà của năm sinh xung hội, hoặc Kình Dương đồng độ, hoặc Dương Đà kẹp, lại có Bạch Hổ xung. Chủ yểu chiết, chết dữ, dù có cát cứu cũng ắt có tàn tật nặng.
Thất Sát gặp Dương Linh, lưu niên Bạch Hổ, tai họa hình giết
Thân mệnh được Thất Sát thủ chiếu mà có Dương, Linh hai sát đồng độ, nếu hạn không tốt, lưu niên có Bạch Hổ lại xung bản mệnh thì chủ họa hung chết dữ. Lại có người mệnh có Thất Sát, Linh Tinh thủ mệnh mà lưu Kình Dương xung mệnh, hoặc lưu Dương Đà tam hợp xung, hoặc Dương Đà kẹp, lưu niên Bạch Hổ nhập mệnh, cũng như vậy. Nếu người mệnh yếu, vào hạn gặp Thất Sát có Linh Tinh đồng độ, lưu niên Bạch Hổ xung chiếu, Dương Đà cùng xung hoặc kẹp, thì ắt phải có cát tinh, Lộc Tồn phò, không thì vẫn chủ chết dữ, chết yểu.
Thất Sát gặp đủ tứ sát, lưng còng chết nơi trận mạc
Thất Sát nhập mệnh mà hội đủ tứ sát, hoặc Hỏa Tinh, Linh Tinh xung, Dương Đà kẹp, thì phần nhiều yểu mệnh, nếu không thì chết nơi trận mạc, chết dữ. Nếu mang tàn tật, như lưng gù, hoặc tứ chi không toàn vẹn thì có thể kéo dài thọ. Loại cục này, nếu cả bốn sát đều ở trước sau kẹp mệnh có Thất Sát thì vẫn hung, vào hạn gặp cũng như vậy.
Dương Hỏa cùng Thất Sát, bần tiện, nghề đồ tể
Hỏa Tinh có thể chế Kình Dương, tuy không yểu chiết, nhưng nếu cùng Thất Sát đồng cung nhập mệnh hoặc đối chiếu, hay đồng ở cung sự nghiệp, thì chủ là người làm nghề đồ tể. Không cát thì bần tiện, cát nhiều thì cũng khá giả nhỏ.
Thất Sát một mình ở Phúc Đức, nữ mệnh kỵ nhất
Với nữ, cung Phúc Đức là nơi miếu lạc, cũng gọi là "cường cung". Nếu Thất Sát thủ một mình ở hãm địa thì thật hạ tiện, gia Thiên Diêu phần nhiều sống đời phong trần. Nếu ở miếu vượng thì bản mệnh cũng tốt, cũng là trước nghèo hèn rồi dần có cát, hoặc trước sa vào đời phong trần rồi sau lấy được chồng hiền, theo chồng tốt, cảnh muộn có thể giàu.
Thất Sát Phá Quân nên ra ngoài, tay nghề tinh
Hai sao phân thủ thân mệnh, đều là mệnh đi ra ngoài, và nhiều người có tay nghề tinh. Ở hãm địa thì cả đời phiêu bạt, không thể có thành tựu, thậm chí mang bệnh kéo dài tuổi. Ở miếu địa gia cát thì trước phá bại, đến trung niên về sau cũng đầy đủ giàu có.
Thất Sát thủ chiếu, tuế hạn gặp Kình Dương, người năm Canh an mệnh ở Mão Dậu chủ chết dữ
Giả như an mệnh ở Mão hoặc Dậu, Thất Sát tọa thủ, ắt có Vũ Khúc đồng độ. Người năm Canh có Kình Dương đối xung hoặc đồng cung, vào hạn và Thái Tuế lại gặp lưu Kình Dương xung, Dương Đà cùng đến thì ắt chết dữ. Hoặc tuế hạn hãm ở mệnh cung mà có Dương Đà kẹp, Bạch Hổ xung, không có Lộc Mã cứu thì cũng như vậy.
Thất Sát ở thân, nhất định trải gian nan
Nếu mệnh viên miếu vượng mà thân cung có Thất Sát thủ chiếu, tuy là vượng địa vẫn chủ không nương tổ nghiệp, trải hết gian nan vất vả mới có thành tựu. Lại có câu "Thất Sát lâm thân chung thị yểu", chỉ trường hợp mệnh viên hãm yếu, thân gặp Thất Sát và có sát xung, thì mới là mệnh yểu thọ. Còn mệnh mạnh, thân có Thất Sát gặp sát đồng cung thì phần nhiều chỉ là phá tướng.
Thất Sát gặp lưu Kình Dương và quan phù, ly hương bị đày
Đại hạn đi qua Thất Sát, lưu niên có lưu Kình Dương xung, quan phù đồng cung hoặc đối chiếu thì chủ quan tai, bị đày ra đảo ngoài quản huấn. Lại có câu: "Quan phù gia hình sát ở Thiên Di, ly hương bị đày". Điều đó chỉ trường hợp quan phù của năm sinh cùng Thất Sát, Kình Dương đồng ở cung Thiên Di của bản mệnh thì ắt có chuyện phạm hình bị đày. Lại như hạn đi cung Thiên Di có Thất Sát, lưu Kình Dương và quan phù của Thái Tuế đồng độ thì cũng như vậy.
Nguồn: Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số Kinh Điển.
