Bài tổng quan
Lục Sát tinh: Bốn sao công kích, Không Kiếp hút lực
Linh Tinh ở cung phu thê không phải người phối ngẫu mang tính thù dai ra đối phó mình, mà chính mình đem nó trút lên người kia. Bốn sát tinh biết công kích như đạn pháo, còn hai sao Không Kiếp lại chỉ nằm yên như vùng sình lầy. Giẫm phải thì khó thoát, nhưng không giẫm thì cũng chẳng nổ…
Sát tinh không chỉ mang nghĩa tiêu cực
Trên mệnh bàn Tử Vi Đẩu Số, cứ mười hai năm thì thế nào cũng có một lần gặp hai hung tinh Địa Kiếp, Địa Không. Nhưng hai sát tinh này không hẳn chỉ đem lại ảnh hưởng xấu; chúng còn hút được cái khí dữ của những hung tinh khác. Dĩ nhiên khi gặp Hóa Quyền thì đó cũng là thời cơ để phải gắng sức phấn đấu hơn. Có điều khi giảng ý tượng của tứ hóa gặp Địa Kiếp, Địa Không, không được chỉ xét một mặt, dựa vào tác dụng của tứ hóa để tìm đường thoát khỏi cảnh xấu — đó là lối luận tiêu cực. Bởi ngoài chuyện giúp thoát cảnh xấu, Địa Kiếp, Địa Không còn mở cho mệnh tạo một khoảng tưởng tượng rộng không bờ trong lúc phấn đấu, lại có lực thúc đẩy theo chiều tích cực; tất nhiên cũng có lúc thiếu cân nhắc ở mặt thực tế, giống như người làm công cứ đinh ninh rằng chỉ cần chăm chỉ là ông chủ sẽ cất nhắc. Mệnh tạo sẽ nghiêm túc làm việc, nhưng chuyện được cất nhắc có khi chỉ là tưởng tượng của mệnh tạo mà thôi!
Hung tinh ở cung tử nữ
Trong cung tử nữ xuất hiện các hung tinh như Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh hay Linh Tinh; hoặc Kình Dương và Đà La, hay Hỏa Tinh và Linh Tinh kẹp hai bên cung tử nữ. Hung tinh xuất hiện theo bố cục "tha cung" như vậy là chủ về mệnh tạo kìm chế người khác, chứ không phải người ở "tha cung" ngang bướng hay làm càn. Trường hợp này còn cần xem cung vị khí số (tức cung phụ mẫu) của cung tử nữ để biết duyên phận giữa mệnh tạo và con cái dày hay mỏng, con có dễ thương và có thành tựu hay không.
Linh Tinh ở cung phu thê
Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh có lực công kích đối với các sao cùng cung; nhất là các sao ở "tha cung" sẽ bị ép buộc mạnh. Giả sử cung phu thê có Linh Tinh, thì đó là mệnh tạo đem tác dụng của Linh Tinh áp lên người phối ngẫu. Một trong những tính chất của Linh Tinh là "thù dai"; điều không hay này sẽ bị mệnh tạo đem ra đối xử với người phối ngẫu, chứ không phải người phối ngẫu mang Linh Tinh ra đối phó với mệnh tạo. Đương nhiên với người khác thì mệnh tạo không mang Linh Tinh ra đối phó; chỉ vì người phối ngẫu "yếu" hơn mà thôi. Còn nếu cung mệnh có Linh Tinh thì đó là chính bản thân mệnh tạo mang cái tính xấu này.
Thử hình dung người ở chung phòng với mình là một người văn nhã dịu dàng, học rộng biết nhiều; thế nào mình cũng bị bầu không khí nho nhã ấy tác động, tâm trạng và cách nghĩ cũng chịu ảnh hưởng — đó là lẽ thường của con người. Cũng một lẽ ấy, trong cung ngoài chính tinh ra còn có Văn Xương, Văn Khúc hay Hóa Khoa thì sẽ tạo ảnh hưởng tốt cho cung đó. Ngược lại, trong cung có các hung tinh như Hỏa Tinh, Linh Tinh, v.v., thì lúc luận hạn phải tính cho đủ sức ảnh hưởng của chúng tới mệnh tạo.
Ý tượng cơ bản của Đà La
Sáu sát tinh không cùng một tính; có kẻ ra tay giữa ban ngày, có kẻ đi tới lặng lẽ như cái bóng.
Đà La thuộc âm kim. Ý tượng của nó là mọi hành vi tạo tác, bất kể lợi hay hại, lành hay dữ, đều đi tới một cách âm thầm. Sao này chủ về "tàn nhẫn, dũng cảm, thị phi"; thị phi ấy cũng lặng lẽ kéo tới, mà thị phi mâu thuẫn trong lòng lại rất rối rắm, hoặc cứ thấy phiền phức lặp đi lặp lại.
Tính chất
Đà La có tính cương cường, cố chấp, tâm và hành động không nhất quán. Khi đứng ở cung mệnh, nó chịu ảnh hưởng của các sao khác ở cung mệnh mà giảm bớt hay tăng thêm tính hung. Với đàn ông, Đà La ở cung mệnh thường là người dáng vẻ hơi thô, hoặc mặt rỗ; còn phụ nữ thì lại xinh đẹp, răng hơi khuyết hãm nhưng lại càng thêm nét duyên dáng đáng yêu (bất kể nam nữ đều dễ có tình trạng này)!
Thông thường Đà La xử lí chuyện thế tục, chuyện tình cảm không khéo; dù bề ngoài tình duyên đã đứt, trong lòng vẫn còn rối rắm, không dứt khoát. Về bệnh tật, Kình Dương chủ về bị thương bên ngoài, còn Đà La chủ về nội thương. Kình Dương thì cương liệt, Đà La thì sa đà, dây dưa phí thời gian. Kình Dương chủ động, Đà La lại khá bị động. Kình Dương, Đà La ở cung mệnh thì không nên hoạt động trong chính giới; còn Đà La ở cung tài bạch thì về nghề nghiệp hợp làm quân nhân, cảnh sát, luật sư, y tá, nghề cơ khí, v.v., cũng hợp — nhưng không phải nói nhất định sẽ làm những nghề kể trên. Có điều để tính chất của Đà La phát huy trong công việc thì có thể tránh được cái hung của nó!
Ý tượng cơ bản của Kình Dương
Đà La đi tới lặng lẽ, còn người anh em của nó thì bao giờ cũng xông ra giữa ban ngày.
Kình Dương còn gọi là Dương Nhận. Kình Dương thuộc dương hỏa, cũng thuộc dương kim. Tức là mọi hành vi tạo tác của nó, bất kể lợi hay hại, lành hay dữ, đều công khai; vừa là lửa dữ dội vừa là kim cứng mạnh, nên lực tạo tác rất kịch liệt, cũng cho thấy tính cương nghị quả đoán.
Tính chất
Kình Dương hóa khí làm "hình", chủ về "hình khắc tổn thương", tàn nhẫn. Chữ "tàn nhẫn" thoạt nhìn rất chướng tai, nhưng trong đó có phân mức độ, tùy các sao đồng cung khác làm giảm bớt hay tăng thêm tính hung; cũng có thể thành tác phong rất quả quyết, gan dạ, hoặc năng lực thực hiện sắc bén. Song sao này có tính cơ mưu võ dũng, khó sống chung với người khác, rất quyết đoán. Về tình cảm thì có tính "yêu rất nhanh mà hận cũng rất nhanh, dám yêu dám hận".
Ý tượng cơ bản của Linh Tinh
Lưỡi dao thì lộ, còn ngọn lửa âm thì cháy âm ỉ bên trong và lâu tắt.
Linh Tinh tuy là sao hệ giờ nhưng ngũ hành thuộc âm hỏa, nên tính cương liệt, mạnh bạo nằm ẩn bên trong, gần với tính của Đà La. Uy lực của Linh Tinh yếu hơn Hỏa Tinh, nhưng âm hỏa đem lại tai ách hay tổn hại kéo dài dai dẳng, mệnh tạo thường khó quên, lại còn để bụng nhớ thù.
Tính chất
Linh Tinh cũng là sát tinh hạng đại tướng, chủ về ngang ngạnh, bạo tàn, cứng đầu, ngoan cố và làm người ta kinh sợ. Nó là hỏa khí ở trong tâm, tức là cái khí oán hận chất chứa trong lòng lâu ngày không tan. Lúc bộc phát thì gàn bướng, cứng đầu cứng cổ, khó giao lưu; khi nổi giận thì mất bình tĩnh với anh em, như sắp đánh nhau tới nơi, đỏ mặt tía tai, nói không nên lời.
Đặc điểm
Thứ nhất, Hỏa Tinh biểu hiện cái hung bạo ra ngoài, rõ ràng dễ thấy, nhưng chuyện đã qua thì không ghi thù, thường hay va chạm hoặc làm phiền lòng người khác mà chẳng hay biết; còn Linh Tinh thì nhớ thù, ôm hận, tính cố chấp, khó hóa giải oán hờn.
Thứ hai, gặp chuyện gấp thì Hỏa Tinh vội vàng, hấp tấp; còn Linh Tinh thì kinh ngạc, hốt hoảng, lúng túng không biết xoay xở ra sao.
Thứ ba, Linh Tinh chủ về đa nghi, hay đố kị, gan dạ hơn người, phản ứng lanh lẹ, có tài nói năng.
Thứ tư, khi bốn sao Linh Tinh, Văn Xương, Đà La, Vũ Khúc gặp nhau ở cung Thìn hoặc Tuất thì chủ về sa sút, thất bại; lỗi thường do chính bản thân, và lúc tai ách xảy ra là ở đại vận hoặc lưu niên có Văn Xương Hóa Kị hoặc Vũ Khúc Hóa Kị.
Thứ năm, Liêm Trinh và Kình Dương đồng độ mà thấy thêm Linh Tinh thì chủ về hung ách, sách cổ đã có ghi; nhưng phải đồng cung thêm Thiên Hình thì tai họa mới lớn (gọi là "Hình tù hội Linh"), và lúc ứng nghiệm là đại vận hoặc lưu niên có Liêm Trinh Hóa Kị.
Thứ sáu, cung nào bị Hỏa Tinh và Linh Tinh kẹp hai bên thì khí của cung ấy không phấn chấn; dù vất vả, khốn đốn, bôn ba cũng khó phát huy được ý nghĩa tích cực của các sao trong cung!
Thứ bảy, cung phu thê có Hỏa Tinh hay Linh Tinh thì chuyện lập gia đình, nếu không phải cưới vội thì cũng là thiếu cân nhắc kĩ về hôn nhân.
Hình thái
Có tài ăn nói, phản ứng lanh lẹ, tính thâm trầm; dáng vẻ bên ngoài khác thường hoặc nổi bật.
Vị trí địa lí
Chùa miếu, cung điện, tháp, đường ray, khe nước, rãnh nước, hoặc nơi gần rãnh thoát nước.
Ý tượng cơ bản của Hỏa Tinh
Lửa âm cháy dai dẳng; lửa dương thì bùng lên dữ dội rồi tắt cũng nhanh.
Hỏa Tinh không "ổn định" như Kình Dương, Đà La, mà mang tính nóng nảy, bất định, phát tác rất gấp nhưng tan cũng rất nhanh. Ngũ hành của Hỏa Tinh là dương hỏa, cho nên bề ngoài có vẻ cương bạo!
Tính chất
Hỏa Tinh tuy là sát tinh hạng đại tướng, chủ về ngang ngạnh, bạo tàn, nhưng cũng không hoàn toàn hung. Ít ra khi phối với Tham Lang thì sẽ bất ngờ có tài vận, mà nhân sinh quan của mệnh tạo cũng có xu hướng tích cực tiến thủ. Ngoài ra, ví dụ như khi đi với Thiên Lương, sau khi gặp nạn thì nhờ Thiên Lương hóa giải tai ách mà cục thế được cải thiện; đồng thời Hỏa Tinh cũng kích phát sức mạnh của Thiên Lương. Nói cách khác, trên đường đi sẽ vì Hỏa Tinh bạo ngược mà gặp khốn đốn, tai ách, nhưng kết cục vẫn phát triển theo chiều tốt.
Đặc điểm
Thứ nhất, Hỏa Tinh và Kình Dương đều chủ về kích phát, xung động và bột phát; nhưng Kình Dương có sức bền, còn Hỏa Tinh thì không liên tục.
Thứ hai, khi Liêm Trinh và Hỏa Tinh hội nhau, mệnh tạo có những xung động kì lạ, tâm trạng lên xuống thất thường, nên hành hạn khó tránh truân chuyên; kết cấu này bất lợi cho nữ mệnh, dễ vì xung động tình cảm và tình dục mà sinh rắc rối và hối hận.
Thứ ba, tính của Hỏa Tinh là có thể vì chuyện nhỏ mà nổi giận dữ dội nhưng bình tĩnh lại cũng rất nhanh; có điều uy lực lúc phát tác thì rất khó ngăn, nên sức phá hoại của nó không thể xem thường.
Thứ tư, Hỏa Tinh, Thiên Hình ở cung điền trạch thì nhà ở phải cẩn thận chuyện an toàn củi lửa.
Hình thái
Giọng khàn, nói năng lào khào. Lông tóc thô, xoăn khác người thường; răng dễ để lại vết thương, hàm răng không đều, da dễ bị dị ứng.
Vị trí địa lí
Chùa tháp trên núi, đền miếu, tháp chứa linh cốt, lò thiêu, những công trình có hình nhọn.
Ý tượng cơ bản của Địa Kiếp, Địa Không
Bốn sao trên đều biết công kích; hai sao cuối cùng thì chẳng đánh ai, chỉ lặng lẽ hút lấy mọi thứ.
Địa Kiếp, Địa Không là khí "hung sát"; ngũ hành của Địa Kiếp là dương hỏa, của Địa Không là âm hỏa.
Tính chất
Địa Kiếp chủ về phá hao, đục khoét dần về mặt vật chất; Địa Không chủ về tiêu hao, đục khoét dần về mặt tinh thần. Địa Kiếp là chỗ đất trũng thấp, như ao đầm, bùn lầy, hào, rãnh, cống, ngòi, lạch, khe, thung lũng…; còn Địa Không là chỗ đất mênh mông, trống trải, hoang phế, khô cằn như sa mạc, nơi cây cối thưa thớt và ít người ở, cát bay mịt mù. Hai thần sát này có chung một tính là cản trở, bế tắc, trở ngại. Sức ảnh hưởng của chúng tạo thành cảnh "trong cát có hung" hoặc "trong hung có cát", không thể coi chúng là hung thần ác sát hoàn toàn. Ứng vào đời sống thực, đối với tác dụng tốt của cát tinh hay tác dụng xấu của hung tinh, Địa Kiếp, Địa Không đều có sức "nuốt gọn", cho nên không thể luận giống như Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh.
Dựng cho đúng quan niệm
Người xưa nói gặp Không, Kiếp cũng như đi thuyền giữa sóng gió, hay như chim đang bay giữa trời thì gãy cánh; tức là hành hạn chật vật, cuộc đời gập ghềnh, không được thảnh thơi, gặp nhiều trở lực. Hàm ý là hao phí thời gian mà chẳng nên công cán gì, hoặc làm nhiều mà hưởng chẳng được bao nhiêu. Cổ nhân lại nói:
Hỏa Không tắc phát, kim Không tắc minh.
Nghĩa là hỏa gặp Không thì phát, kim gặp Không thì kêu. Họ cho rằng các sao thuộc hỏa ưa gặp Địa Không ở cung Tị hoặc Ngọ, còn các sao thuộc kim ưa gặp Địa Không ở cung Thân hoặc Dậu.
Chỗ khác nhau giữa Địa Kiếp, Địa Không với Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh là hai sao này không có sức chủ động công kích, mà có lực hút, giống như môn "Hấp tinh đại pháp" trong truyện võ hiệp của Kim Dung. Bất kể cát tinh hay hung tinh, gặp Địa Kiếp, Địa Không thì đều không phát huy hết được tính vốn có của mình, nên xảy ra cảnh "khác thường".
Nhìn chuyện đời thì thấy không chia "thiện ác", "chính tà", "sáng tối" một cách rạch ròi; cho nên tính chất của Địa Kiếp, Địa Không đối với "hắc bạch lưỡng đạo" đều không rõ ràng; giống như "người tốt" hay "người xấu" lạc vào chốn ao đầm, sa mạc thì đều phải bước đi khó nhọc.
Địa Kiếp, Địa Không trong chuyện nghề nghiệp
Trên mệnh bàn, bất cứ cung nào có sao tứ hóa năm sinh đồng cung với Văn Xương hay Văn Khúc, hoặc với các sao như Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, thì tính chất đều thay đổi mà xảy ra hiện tượng khác. Lấy Thiên Lương ở cung phu thê làm ví dụ: nếu Thiên Lương có Văn Xương đồng cung thì người phối ngẫu rất có thể làm nhân viên tư pháp hoặc các nghề liên quan tới pháp luật như luật sư, giáo sư ngành luật, v.v. Nếu Thiên Lương đồng cung với Thiên Hình thì nghề của người phối ngẫu có thể là bác sĩ… Đương nhiên còn phải xem các sao ở cung mệnh có bị hung tinh phá hoại hay không, hoặc có được cát tinh phù trợ hay không; điều này làm cho tổ hợp Thiên Lương, Thiên Hình đổi hướng nghề nghiệp, có thể từ bác sĩ thành nhân viên tư pháp, hoặc từ giáo sư đại học thành trợ giảng, v.v. Có rất nhiều công thức để đoán nghề của người phối ngẫu; cũng có thể căn cứ vào các sao ở cung thiên di của mệnh tạo để suy ra nghề của người phối ngẫu, nhưng phải vận dụng cơ chế tứ hóa.
Như đã nói, người có Địa Kiếp, Địa Không ở cung tài bạch không có sở trường làm nhân viên nghiệp vụ ở tuyến đầu, tức là không hợp với những nghề đòi hỏi kinh nghiệm ứng biến, thấu hiểu nhân tình thế thái. Nhưng nếu làm quảng cáo hay mở rộng thị trường cho những sản phẩm liên quan tới tôn giáo, mệnh lí, sản phẩm sức khỏe, hoặc làm nghề bảo hiểm, thì lại có thể lập thành tích nổi bật. Người có Địa Kiếp, Địa Không ở cung tài bạch khiến người ta tin tưởng mà không cần lời lẽ khéo léo; tuy nghề nghiệp phải dựa vào tài ăn nói, họ lại tạo được ấn tượng "ổn định, vững vàng" nơi người khác nên chiếm được lòng tin. Cách diễn đạt của người có Địa Kiếp, Địa Không ở cung tài bạch khác người thường, phải có công phu "rề rà, chậm rãi", có thể nói là rất hợp; vì một khi đã chọn được mục tiêu thì họ rất kiên trì. Nếu Thiên Lương đồng cung với Địa Kiếp hay Địa Không mà làm những công việc kể trên thì khả năng thành công rất cao!
Lực hút của Địa Kiếp và Địa Không
Sức tác động của Địa Kiếp, Địa Không trên mệnh bàn Tử Vi Đẩu Số thường bị hiểu lầm là hung tinh hoàn toàn; thực ra không đơn giản như vậy.
Tác động của Địa Kiếp, Địa Không hơi giống hai cung Thiên La, Địa Võng là Thìn và Tuất. Thiên La, Địa Võng trên mệnh bàn có "công dụng địa lí" khá đặc biệt, đó là vị trí cố định; còn Địa Kiếp, Địa Không là "Thiên La, Địa Võng" di động. Cung có Địa Kiếp hay Địa Không thì cũng như cung Thìn, Tuất: sức ảnh hưởng của chúng không lớn, nhưng đều khiến cát tinh và hung tinh chìm xuống, cả tính cát lẫn tính hung đều giảm đi. Cho nên khi hành hạn tới cung có Địa Kiếp, Địa Không, thường có cảm giác đứng yên một chỗ, hoặc chật vật khó tiến, có lúc còn mất hết ý chí phấn đấu; nhưng khi xảy ra chuyện hung thì cũng không kịch liệt như đã đoán, vì đã bị Địa Kiếp, Địa Không kìm lại.
Địa Kiếp, Địa Không giống như ao đầm, sa mạc, thuộc về "lực hút"; khác với Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh là lực công kích. Quan niệm này khá quan trọng, giúp ích rất nhiều khi luận giải mệnh lí.
Như đã biết, cung mệnh có hung tinh thì về nhân cách, đại đa số đều có tính xung động; nhưng cách biểu hiện của Địa Kiếp, Địa Không lại khác với Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh. An hai sao Kình Dương, Đà La là căn cứ theo can năm; an hai sao Hỏa Tinh, Linh Tinh là căn cứ theo chi năm và chi giờ; còn an Địa Kiếp, Địa Không thì căn cứ theo chi giờ. Phàm các sao có liên quan tới chi giờ sinh đều có sức bền rất ngắn. Lấy Hỏa Tinh, Linh Tinh làm ví dụ: nếu chúng thủ mệnh thì chỉ có thể nói cá tính người đó thỉnh thoảng nóng nảy, xung động, có lúc cũng yếu mềm; tuy năng lực thực hiện rất mạnh nhưng chỉ ngắn hạn; phản ứng nhanh nhạy mà thỉnh thoảng còn có lực phản kích, nhưng lại không được liên tục. Còn sức tác động của Địa Kiếp, Địa Không sẽ làm giảm tính cát của cát tinh, khiến các sao này khó phát huy được tính vốn có. Có thể coi Địa Kiếp, Địa Không như một vùng sình lầy; lỡ sa vào đó thì thường phải nhờ tới "ngoại lực" mới thoát ra. "Ngoại lực" ở đây là sức mạnh trợ giúp cho việc tạo nên lòng tự tin. Vì vậy, cung mệnh có Địa Kiếp hay Địa Không thì mệnh tạo rất dễ tiếp nhận tôn giáo tín ngưỡng, huyền học, triết học và mệnh tướng, hoặc các thuyết thần bí; nếu họ chìm đắm vào đó thì cũng không phải chuyện xấu. Người có Địa Kiếp, Địa Không ở cung tật ách cũng có tính chất như trên, mức độ thành tâm cũng như vậy, nhưng cách biểu hiện khác với trường hợp hai thần sát này ở cung mệnh.
Địa Kiếp, Địa Không không có sức chủ động công kích; nếu cung mệnh không có chúng mà chúng rơi vào cung khác, thì cũng như nhà hàng xóm có "địa lôi", chỉ cần không giẫm phải là không nổ. Nhưng Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh thì khác: ngoài tác dụng khi tiếp xúc là nổ, đối với cung đối diện chúng còn có sức công kích như đạn pháo, phi đạn! Nếu trong cùng một cung mà thấy Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, lại thêm Địa Kiếp hay Địa Không, thì cung này đúng là cực kì "náo nhiệt". Trước hết chúng làm giảm tính chất vốn có của cát tinh và các sao khác; cũng làm giảm tính bạo ngược của hung tinh, và thêm vào lực phá hoại của chúng. Nhìn tổng thể vẫn là "xấu" nhiều hơn "tốt"; nhưng khi luận mệnh cần phải phân định mức độ khác biệt giữa "xấu" và "tốt". Do tính chất của Địa Kiếp, Địa Không là không bị xung kích thì không phản kích, nên không phạm tới tính chất nhân cách!
Nếu cung tài bạch thấy Địa Kiếp thì thiếu tính chủ động hô hào, chủ động tranh thủ. Vì cung tài bạch là cửa ngõ giao dịch nên cơ hội kiếm tiền sẽ giảm bớt; vì hành vi tạo tác có tính thiên chấp nên cách kiếm tiền có nhiều sơ sót. Nếu cung quan lộc thấy Địa Kiếp, Địa Không thì chủ về làm việc thiếu tích cực, cũng không giỏi cạnh tranh, lại còn tự làm khó mình vì những kiến giải cố chấp; nhiều khi ngẫu nhiên có ý tưởng sáng tạo độc đáo, hợp với những nghề hoặc chức vị ít người để ý. Địa Kiếp, Địa Không ở cung quan lộc thường liên lụy tới bản thân, khiến mệnh tạo hay khen là tuyệt diệu nhưng không tiến tới. Trường hợp Địa Kiếp, Địa Không ở cung điền trạch thì thường thấy trong nhà bị rò rỉ nước, đường ống nước bị tắc.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái (quyển 2)
