Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Thiên Đồng hưởng phúc, Liêm Trinh mang lửa: những thế đứng đổi đời

Tử Vi Bắc Phái - Nhập môn01/10/202618 phút đọc4 lượt đọc
Thiên Đồng hưởng phúc, Liêm Trinh mang lửa: những thế đứng đổi đời

Có sao sinh ra để hưởng, chẳng khai phá được gì ở tuổi tráng niên, nhưng thuở nhỏ và tuổi già lại được che chở. Có sao mang lửa trong mình, đứng đúng chỗ thì uy quyền, đứng sai chỗ thì hiểm nguy rình rập. Hai ngôi sao ấy không đứng cạnh nhau trong cùng một cung, vậy mà cùng dạy người ta một điều về thế đứng…


Thiên Đồng, phúc tinh ôn hòa

Thiên Đồng là dương Thủy, sao thứ tư của Nam Đẩu, có thể kéo dài tuổi thọ, làm chủ về phúc đức. Khí hóa của nó gọi là "phúc". Đó là sao ích thọ, bảo sinh. Vào mệnh, người thuở trẻ có gương mặt trắng, về già hơi ngả vàng, mặt dài vuông. Ở miếu thì béo đầy, ở hãm thì thấp nhỏ. Tính ôn hòa, từ thiện, có cơ trí, không kích động, tinh thông văn mặc.

Nếu gặp sát tinh đồng độ xung phá thì chủ cô đơn, phá tướng. Đồng độ với Đà La thì phần nhiều mắt kém, lác mắt, lại hay phát phì. Nam mệnh được sao này ở cung sự nghiệp mà bản mệnh không có cách cục thì không luận là cát, vì phúc tinh thiên về an hưởng, ngược lại không thể sáng lập.

Thiên Đồng gặp ở thuở nhỏ hay tuổi già đều luận là cát, vì được cha mẹ che chở và về già được an hưởng. Gặp ở tuổi tráng niên thì cũng không khai phá được gì, nên dù miếu địa cũng chỉ là ngồi hưởng, hãm nhược càng bất lợi. Nhưng nếu có chính tinh khác đồng cung thì phải luận khác, ví dụ đồng cung Thái Âm ở Tý là cách "thủy trừng quế ngạc", đại cát, khi đó không cần luận thiếu niên hay lão niên nữa. Nam mệnh ắt được vợ hiền giúp đỡ, nữ mệnh thì hợp làm vợ lẽ.

Sao này mừng nhất hội Thiên Lương và Tả Hữu. Bí kinh nói: "Ấm phúc tụ bất phạ hung nguy". Hai sao đồng cung chỉ ở Dần, Thân, Dần hơn Thân. Gia cát phò thì phần nhiều phú quý song toàn. Nữ mệnh miếu vượng được sao này thì cả đời an hưởng, giàu đủ, giúp chồng ích con, dung mạo đoan trang tú lệ. Nhưng ở hai cung Tỵ, Hợi thì nữ mệnh dù đẹp, gia cát cũng có phú quý, cái tính phóng đãng khó tránh. Ở cung Dậu, nữ mệnh phần nhiều tái giá hoặc làm vợ lẽ, vì Dậu là nơi mộc dục của thủy. Ở Sửu, Mùi là thế hãm, gia sát thì nhiều người sống đời phong trần; nếu có cát phò cũng là trước hèn sau giàu, không luận là hoàn mỹ.

Thêm nữa, người nào có sao này thủ một mình ở Mão hoặc Dậu, lại sinh năm can Canh, chi Tý, Ngọ, Mão, Dậu thì ắt chết dữ hoặc yểu mệnh, vì người năm Canh có Kình Dương ở Dậu và hóa Kị nhập mệnh.

Về bệnh, Thiên Đồng chủ bàng quang, sán khí, phù thũng và các chứng phong tê. Vào cung Điền Trạch thì tích được tài; gần nhà có đường nước, mương, giếng, suối, hố nước, hoặc nơi trũng thấp, đều luận là cát.

Mười ba thế đứng của Thiên Đồng

Thiên Đồng Kình Dương ở Ngọ, người năm Bính và Mậu trấn giữ biên cương

Phúc tinh ở Ngọ ắt có Thái Âm đồng cung. Đó vốn là thế hãm, chủ phiêu bạt, nên gọi là biên cương. Người năm Bính có hóa Lộc nhập mệnh, cung sự nghiệp có Cơ, Lương ở miếu địa lại hóa Quyền hội về. Người năm Mậu có Kình Dương nhập mệnh, có hóa Quyền, lại có song Lộc kẹp trước sau, Kình Dương ngược lại thành dụng cụ của mình, chủ võ chức vinh hiển. Cách này còn gọi là "Mã đầu đới tiễn", Hán Quang Vũ Đế từng có cách này. Nếu không có cát tinh đến phò thì phần nhiều không có kết cuộc tốt. Hai năm Bính Ngọ và Mậu Ngọ là cát nhất.

Thiên Đồng ở Tuất gặp hóa Kị, người năm Đinh gặp lại tốt

Phúc tinh ở Tuất là nơi yếu, vốn bất lợi. Nhưng người năm Đinh, dù có hóa Kị ở cung đối chiếu về, vì tam hợp có song Lộc và Khoa Quyền, lại có Khôi Việt kẹp mệnh, nên cũng thành cách lạ, phần nhiều tay trắng dựng nghiệp, có thành tựu phi thường. Thuở nhỏ vất vả, cảnh về già giàu quý. Cách này lợi cho nam mệnh vì đại vận của dương nam, âm nam đi nghịch nên cát. Nữ mệnh thì đại vận đi thuận, cách cục cát nhưng vận đi không lợi, có lao lực bôn ba, cuối cùng chỉ có thể khá giả nhỏ, là người bình thường.

Dần Thân mừng nhất Đồng Lương hội

Thái Vi Phú nói: "Ấm phúc tụ, bất phạ hung nguy". Đồng Lương hội ở vượng địa Dần hoặc Thân thì cát nhiều, phú quý, danh vang. Không có cát mà có sát cũng không sợ hung hiểm, có thể hóa thành an lành. Cách này còn kiêm thọ cao.

Cung Dần: người năm Kỷ có Thiên Lương hóa Khoa nhập mệnh, Lộc Tồn cùng Thiên Việt hội về. Người năm Đinh có Khoa, Quyền, Lộc cùng Lộc Tồn hội hợp là thượng cách. Người năm Nhâm có hóa Lộc nhập mệnh, Lộc Tồn ở Hợi ám hợp, cũng cát, nhiều giàu. Cung Thân: người năm Bính có cách "minh lộc ám lộc", người năm Đinh có Khoa Quyền Lộc tam hợp, người năm Kỷ có Ấm tinh hóa Khoa nhập mệnh, Khôi Việt hội hợp, đều cát, nhưng không bằng cung Dần.

Phúc tinh ở cung sự nghiệp, hóa ra vô dụng

Cung sự nghiệp gặp phúc tinh thủ một mình, dù miếu vượng cũng không phát triển lớn, phần nhiều chỉ hợp giữ nghiệp tổ. Nếu bản mệnh bất lợi mà lại không dựa được tổ nghiệp thì càng không tốt. Nhưng nếu mệnh có cách cục, như lập mệnh ở Mùi không chính tinh, Nhật Nguyệt chiếu thêm cát, cung tài gặp Cự, Cơ, thì sự nghiệp được phúc tinh không luận như thế. Lại ví dụ Cự Môn ở Hợi làm mệnh, Thái Dương ở Tỵ đối chiếu đại cát, Thiên Đồng ở sự nghiệp thì không luận là vô dụng. Hoặc nếu cung sự nghiệp có chính tinh khác đồng độ, cũng không luận như vậy.

Thiện phúc đóng vào cung trống, đường sự nghiệp về cõi Thiên Trúc

Thiên Trúc là tên nước xưa, tức Ấn Độ ngày nay, chỉ cuộc đời làm tăng hoặc đạo sĩ. Nếu thân mệnh hai cung được cái thiện của Thiên Cơ và cái phúc của Thiên Đồng chia nhau thủ, mà mệnh gặp Tiệt Lộ hoặc Tuần Không, lại kèm Địa Kiếp, Địa Không quấn quýt, không có Lộc Mã và cát tinh đến phò, thì phần nhiều là mệnh tăng đạo. Hoặc có cát mà không nhiều thì trước ở thế tục, đến cuối đời mới bước vào cửa Không.

Nữ mệnh có Thiên Đồng ắt hiền

Phúc tinh chủ tĩnh lặng và an hưởng nên nữ mệnh được sao này ắt hiền. Nhưng không mừng lập mệnh ở Hợi và Dậu, dù có cát cũng đẹp mà thiếu. Ở Sửu, Mùi nhiều hình khắc hung bạo. Mừng người năm Giáp lập mệnh ở Dần có Lộc Tồn đồng cung, Hợi có hóa Lộc ám hợp. Người năm Tân lập mệnh ở Mão, Lộc Tồn ở vượng địa chiếu cung tài hóa Lộc cũng tốt. Mệnh ở Tý thì người năm Đinh có tam hợp Khoa Quyền Lộc và người năm Quý có Lộc Tồn đồng cung đều tốt.

Nếu mệnh lập ở Sửu có Cự Môn đồng độ, người năm Quý có Kình Dương nhập mệnh nhưng Cự Môn hóa Quyền, lại ám hợp Lộc Tồn ở cung Tý, thì xuất thân nghèo hèn, thậm chí hai ba lần kết hôn, nhưng cảnh cuối đời rất tốt, phúc trạch dày, được con cái giúp sức.

Đồng Nguyệt hãm cung gia sát kị, người có tài nghệ mà thân bệnh

"Doanh hoàng" chỉ thân mang bệnh lâu năm không khỏi. Hai sao ở Ngọ là thế hãm, thân mệnh không có cát mà gia sát, hoặc hai sao phân ra hai nơi, như Thiên Đồng ở Dậu, Thái Âm ở Mão, gia sát có Kị, thì phần nhiều dựa vào tài nghệ lập thân, đi đến đâu cũng phiêu bạt, lại mang bệnh tật trong người, cả đời vất vả, chỉ đủ ấm no. Nữ mệnh nếu cung Phúc Đức bất lợi hoặc có sao đào hoa, nhiều người sống đời phong trần.

Thiên Đồng hội cát thì thọ cao

Phúc tinh còn là sao kéo dài tuổi thọ. "Cát" ở đây chỉ Thiên Lương và Thiên Cơ. Ba sao này đều là sao bảo mệnh, kéo dài thọ. Nếu mệnh gặp đủ ba sao trong tam hợp, có cát mà không sát thì chủ sống thọ. Dù bốn sát cùng hội thì chỉ nhiều bệnh chứ không chết yểu. Vào hạn gặp cũng luận như vậy.

Tài năng như Tử Vũ, Cự Môn, Đồng, Lương xung mà hợp

Tử Vũ là môn sinh của Khổng Tử, có tài cán. Cách này nói người lập mệnh ở cung có Thái Dương, Cự Môn từ cung đối chiếu về, cung tài gặp Thiên Lương, cung sự nghiệp có Thái Âm, Thiên Đồng, và các sao Cự, Lương, Đồng đều ở nơi miếu vượng, thì chủ tài cán phi thường. Ví dụ lập mệnh ở Dần, Cự Môn và Thái Dương ở Thân là thế yếu chiếu về, cung sự nghiệp gặp Thái Âm, Thiên Đồng ở hãm địa, cung tài có Cơ, Lương chầu, dù có cát tinh đồng cung, có phú quý, nhưng vì hãm địa nên không luận là có tài cán. Loại cách này ở vượng địa phần nhiều làm bác sĩ, luật sư; ở hãm địa phần nhiều là người làm nghề tự do.

Thiên Đồng ở Mão, thông minh nhưng yểu thọ

Thiên Đồng ở Mão thì người ấy thông minh, trí cao, giỏi biện luận, tiếc rằng tuổi trẻ đã nản lòng, lại yểu thọ. Ai có Thiên Đồng ở cung Mão thì nên làm nhiều việc thiện để cầu thọ số.

Những nhận xét ngắn về Thiên Đồng

Thiên Đồng tọa mệnh mà gặp tứ sát thì dễ bị người lừa gạt, không nên hùn hạp kinh doanh với người khác. Nữ mệnh Thiên Đồng, Cự Môn tọa mệnh dễ bị đàn ông dùng lời hoa mỹ lừa gạt mà mất của, thậm chí bị liên lụy vì đàn ông mà sa sút, hoặc bỏ chồng bỏ con đi xa. Nam mệnh Thiên Đồng, Cự Môn hoặc Thiên Đồng, Thái Âm thì không chống nổi sự cám dỗ của sắc dục, mà tự đoạn tống tiền đồ.

Liêm Trinh, sao tù của quan phẩm và quyền lệnh

Phúc tinh dạy người ta biết hưởng. Liêm Trinh thì ngược lại: một ngôi sao mang lửa trong mình, đẹp khi ở đúng chỗ, hiểm khi ở sai chỗ.

Liêm Trinh là âm Hỏa, sao thứ năm của Bắc Đẩu, chủ phẩm trật và quyền lệnh. Khí hóa của nó là "tù", nên còn gọi là tù tinh. Nếu ở thân mệnh người, nó còn có tên là thứ đào hoa. Người có sao này mặt hình chữ Giáp, gò má cao, mày rộng, miệng ngang, vóc trung bình, giỏi nói biện luận. Ở thế hãm gặp sát thì nhiều người mặt có nám hoặc tàn nhang. Tính tàn nhẫn mà cuồng, thiếu lễ nghĩa.

Sao này mừng nhất Thiên Tướng đồng cung để chế cái ác của nó. Gặp thêm đế tinh thì nắm quyền uy. Gặp Lộc Tồn cũng giàu đủ. Đồng cung Kình Dương thì thị phi quan tụng ngày càng có. Gặp Phá Quân và Hỏa, Linh thì âm hiểm tàn độc. Có Bạch Hổ đồng cung thì khó tránh tai họa lao ngục. Nếu ở thế hãm mà thấy Hỏa Tinh thì chủ hay nghĩ quẩn. Đồng cung Tham Lang ở Tỵ là thế yếu, người ấy hay nói mà thiếu chủ kiến. Cung Hợi là cách "tuyệt xứ phùng sinh", gia cát có thể quý hiển.

Với nữ mệnh, Liêm Trinh chủ hay ghen. Ở miếu vượng thì trinh khiết, ở thế hãm thì khó tránh sự lả lơi. Nếu lại hội Tham Lang, Thiên Diêu, Hàm Trì và các sao đào hoa thì luận là mệnh sống đời phong trần.

Khi vào hạn gặp Liêm Trinh ở cung yếu, lại có Bạch Hổ xung, ắt có kiện tụng và tai họa lao ngục. Sát nhiều thì chết bất đắc kỳ tử, nhẹ cũng khó tránh thương tật. Liêm Trinh ở Hợi và Tỵ ắt có Tham Lang đồng cung, Tỵ yếu, Hợi miếu vượng. Nhưng sao này không mừng Văn Xương, Văn Khúc đồng cung: lập mệnh gặp thì chủ chết dữ yểu vong, vào hạn gặp cũng có hung hiểm, tượng xương nát thây tan.

Về bệnh, Liêm Trinh chủ ung thư, bệnh hoa liễu, tâm khí không đủ, đờm suyễn ho ra máu, can vượng mất ngủ. Ở Điền Trạch, sao này dễ có cãi cọ, gần nhà có cây gỗ, hàng rào, sân, đồ tạp chất đống, vật rách nát, miếu nhỏ. Nhập miếu thì cát, hãm yếu gặp sát thì hung.

Mười một thế đứng của Liêm Trinh

Liêm Trinh ở Thân, Mùi không sát, cách hùng tú triều nguyên, phú quý nổi danh

Thân, Mùi là miếu vượng, nhất mừng người sinh năm can Giáp hoặc năm chi Mùi, lập mệnh ở đây mà không sát xung phá, gia cát tinh hội hợp thì phú quý lừng danh. Cung Thân chỉ có Liêm Trinh thủ: người năm Giáp có song Lộc giao nhau, Khoa chiếu hợp, là thượng cách. Người năm Mậu có "minh lộc ám lộc" cũng cát, nhưng đào hoa quá nặng làm cản thành tựu, nữ mệnh bất lợi. Người năm Bính có hóa Kị nhập mệnh, lại có ám lộc, nam mệnh đại vận đi thuận thì cả đời giàu đủ yên hưởng, được tổ ấm, không có sáng tạo lớn, nữ mệnh bất lợi. Người năm Canh có Lộc Tồn nhập mệnh, cung sự nghiệp Vũ Khúc hóa Quyền, tay trắng lập nhà, cuối đời phú quý. Người năm Kỷ có Khôi Việt hội hợp, quyền lộc gia hội, có thể giàu nhưng nhiều khi không quý.

Cung Mùi có Thất Sát đồng cung, lấy cái lẽ hỏa kim tương chế làm dụng. Người năm Mậu có Thiên Việt tọa thủ, Thiên Khôi chầu, hóa Lộc vào cung tài thì chủ giàu, nhưng nhiều khi là võ chức; nếu không thì trước lao sau nhàn, hình khắc khá nặng. Người năm Ất có Lộc Tồn cùng đế tinh hóa Khoa ở cung tài thì giàu mà không quý. Người năm Giáp có Khoa Quyền Lộc hợp nhưng bị Kình Đà xung thì danh đẹp mà tiền hư, kết quả bất lợi.

Liêm Trinh Thất Sát ở miếu vượng, ngược lại thành người tích phú

Hai sao đồng độ chỉ ở Sửu và Mùi. Sửu là thế yếu, gia cát có thể giàu, sát nhiều thì bất lợi. Mùi là miếu vượng, không sát thì phú quý, đều theo lẽ hỏa kim tương chế. Nếu vào thân mệnh mà một sao ở cung Thân là Liêm Trinh tọa thủ, một sao ở cung Ngọ là Thất Sát tọa thủ, đều ở nơi miếu lạc, và Thất Sát ở Tý, Liêm Trinh ở mệnh Dần là vượng địa, thì đều luận là tích phú. Người tích phú ắt trước nghèo sau giàu, từng bước đi lên.

Liêm Trinh gặp tứ sát, họa súng đạn

Liêm Trinh là ác tinh, phải nhập miếu mới thành phúc, ở thế hãm thì họa không chịu nổi. Như vào Tỵ, Tý, gặp tứ sát hội về thì người hung bạo giảo trá, phạm pháp mà bị đạn bắn, hoặc chết yểu bất đắc kỳ tử khi còn trẻ. Nhất là cung Tý là đất thủy, hỏa của Liêm Trinh vào xứ nước thì hung nhất. Vào hạn gặp cũng luận như vậy. Nếu có cát đến cứu thì vẫn có tai họa lao ngục dài hạn, không thì khó tránh thương tật.

Liêm Trinh, Phá Quân, Hỏa Tinh ở thế hãm, tự hủy mình

Phá Quân là hao tinh, cùng Hỏa Tinh, ba sao đồng vị ở Mão hoặc Dậu mà không có cứu giải thì chủ tự gây họa cho chính mình đến mức nguy hiểm tính mạng. Dù có cát tinh Lộc Mã đến cứu cũng chỉ thấy tượng tự gây họa rồi mới được cứu. Ba sao phân ra ở hai cung thân mệnh mà hãm lạc cũng luận như vậy, nhưng nhẹ hơn.

Liêm Trinh, Thất Sát gia sát hóa Kị, chết giữa đường

Hai sao đồng cung ở mệnh chỉ ở Sửu, Mùi, Mùi vượng, Sửu yếu, cát nhiều thì có phú quý. Nhưng nếu không có cát, gia sát hoặc sát nhiều đến xung thì hỏa kim không thể chế nhau; đợi đến năm Liêm Trinh hóa Kị, ra ngoài gặp tai họa dữ, chết bên đường. Cũng có thuyết nói: "Liêm Trinh, Thất Sát hội Thiên Di, chết nơi ngoài đường". Vẫn cần mệnh gặp nhiều sát đến xung mới luận như vậy.

Liêm Trinh gặp Xương Khúc, mất mạng yểu thọ

Ba sao này ở nơi hãm yếu thủ mệnh cung thì chủ yểu chiết hoặc chết dữ. Ở vượng địa cũng nhiều người giàu quý, cả đời có hưởng thụ, đến già lại chết không đúng chỗ, phần nhiều là chết bất đắc kỳ tử. Nữ mệnh đặc biệt không hợp, chủ không đoan chính, lại nhiều dâm dục hạ tiện.

Nữ được Liêm Trinh, có đức thuần âm trinh khiết

Cổ thư nói: "Liêm Trinh thanh bạch năng tương thủ", đều chỉ nữ mệnh có Liêm Trinh miếu vượng. Cung Mùi tuy vượng nhưng nữ mệnh bất lợi vì có Thất Sát, nhiều hình khắc lao lực. Đại thể nữ mệnh: người năm Giáp lập mệnh ở cung Thân có song Lộc triều nguyên. Người năm Kỷ lập mệnh ở Dậu, cung sự nghiệp có Vũ Khúc, Tham Lang quyền lộc, cung Phu Thê không chính tinh phải mượn cung sự nghiệp, cung tài gặp Tử Vi, Thất Sát thì cát. Người năm Nhâm lập mệnh ở Hợi là cách "tuyệt xứ phùng sinh", có Khôi Việt ở Mão, Tỵ hội hợp, Lộc Tồn là sao dày dặn vững chãi, lại có hóa Lộc ở Dần ám hợp, là thượng thượng cách. Người năm Quý lập mệnh ở Tý là cục song Lộc giao trì, chủ phú quý.

Người năm Đinh an mệnh ở Tỵ ắt có song Lộc kẹp, nhưng chính tinh ở thế hãm, dù có Khôi Việt chầu về thì nữ mệnh cũng thường trước hèn sau vinh. Người năm Mậu lập mệnh ở Tỵ có song Lộc nhập mệnh, nhưng ở thế hãm, lại sao này chủ đào hoa, nên phần nhiều đẹp mà thiếu.

Liêm Trinh Kình Dương ở quan lộc, phạm pháp bị bắt

Tù tinh gặp Kình Dương và các sát tinh ở cung sự nghiệp của bản mệnh, bất luận giàu quý nghèo hèn, cả đời đều có tai họa lao ngục. Vào hạn gặp cũng luận như vậy.

Liêm Phá ở Mão Dậu gia cát thì làm quản lý, gia sát thì làm viên chức

Hai sao đồng độ ở Mão hoặc Dậu đều không phải miếu địa, nhưng nếu không sát mà có cát thì cũng là mệnh công khanh, chủ phú quý. Nhất là người năm Mậu có song Lộc triều nguyên là thượng cách. Người năm Tân có Lộc Tồn đồng cung đến phò cũng tốt. Ở cung Mão, người năm Ất có Lộc Tồn nhập mệnh, cung tài có Tử Vi, Thất Sát hóa Khoa thì có thể giàu. Cung này kỵ nhất người năm Canh, Kình Dương ở Dậu xung phá, chủ đại hung, chết dữ.

Nếu hai sao nhập mệnh mà không có cát, có sát, thì phần nhiều chỉ là viên chức nhỏ trong cơ quan chính phủ, cảnh sát, nhân viên thuế vụ, quản giáo nhà tù, không quý.

Liêm Trinh nhập miếu gặp tướng quân, Trọng Do uy mãnh

Trọng Do còn gọi là Tử Lộ, môn sinh của Khổng Tử, uy mãnh mà chính trực. Cách này lấy Liêm Trinh nhập mệnh: người năm Giáp mệnh ở cung Ngọ, người năm Ất ở cung Hợi, người năm Đinh ở cung Dần, người năm Canh ở cung Tý, người năm Tân ở cung Tỵ, người năm Nhâm lập mệnh ở Mão, người năm Quý ở cung Thân. Nhưng ắt phải ở miếu vượng; ở hãm địa thì luận là hung bạo.

Liêm Trinh Bạch Hổ, hình phạt khó thoát

Tù tinh nhập mệnh, bất luận miếu hay hãm, nếu đồng độ với Bạch Hổ ở thân mệnh thì dễ phạm hình quan. Lại như người vào hạn gặp Liêm Trinh mà có Bạch Hổ lưu niên đồng cung xung chiếu thì cũng hung. Nếu thêm Kình Dương, hoặc Kình Đà kẹp hay cùng ở, càng nặng. Sát nhiều thì là vận số mất mạng.

Nguồn: Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số Kinh Điển.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn