Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Hình phú Thiên Đồng: Phúc tinh qua khổ cực mới được hưởng

Tử Vi Bắc Phái - Nhập môn20/09/202615 phút đọc3 lượt đọc
Hình phú Thiên Đồng: Phúc tinh qua khổ cực mới được hưởng

Gọi là phúc tinh, nhưng cái phúc ấy chẳng phải thứ sinh ra đã có hay từ trên trời rơi xuống; phải qua một phen vất vả tôi luyện, gặp trắc trở rồi mới được an định mà hưởng. Nhiều người mang sao này đến tuổi xế chiều mới thật sự thảnh thơi, thời trẻ thì xa quê tự lập. Chỗ hiểm của họ không nằm ở tiền bạc hay sự nghiệp, mà ở những rối ren trong tình cảm…


Ý tượng cơ bản của Thiên Đồng

Thiên Đồng là chủ cung phúc đức, vừa chủ về phúc vừa chủ về thọ.

Tính chất. Thiên Đồng tính cách ôn hòa, khiêm tốn, lễ độ, tâm địa thiện lương, từ ái, ngay thẳng, tinh thông chữ nghĩa, phần nhiều ưa thích văn nghệ, có nhiều thị hiếu, chú trọng sinh hoạt tình cảm, thích cuộc sống thư thả nhàn hạ, tâm tình ổn định hơn người bình thường, sức tưởng tượng phong phú, thường có kế hoạch cao xa to tát, nhưng hành động thực tế cần phải mạnh thêm.

Đặc điểm. Đa học đa năng, nhưng rộng mà không chuyên tinh, thường sẽ vì hơi thỏa mãn một chút thì không chịu nghiên cứu sâu; phàm chuyện gì cũng có thái độ lạc quan. Nếu các sao đồng cung thiếu hung tinh, sát tinh, thì hành sự sẽ thiếu tích cực. Có khẩu phúc, thường có cơ hội được ăn ngon.

Thiên Đồng tuy là phúc tinh, nhưng phúc của nó không phải là phúc phận sinh ra đã có, mà là phải trải qua vất vả và khổ cực sau mới được hưởng phước. Nhiều trường hợp phải đến vãn niên mới có cơ hội hưởng phước khí; lúc còn trẻ thường xa quê hương, tự lập.

Hình thái. Khuôn mặt hình vuông hơi tròn, thể hình béo tròn, mà mặt như trẻ con hoặc đa số là ngũ quan thanh tú. Bộ vị cơ thể đại biểu là tai, tì — tuyến tụy — bàng quang.

Vị trí địa lí. Nhà ở gần sông rạch, giếng, suối, hầm nước, hoặc quán ăn.

Sao có hòa khí nhất trong tinh hệ Nam Đẩu

Thiên Đồng là sao thứ tư của Nam Đẩu, thuộc dương thủy — Nhâm thủy — là sao có hòa khí nhất trong tinh hệ Nam Đẩu; đây là chỉ việc Thiên Đồng sẽ không bao giờ làm chuyện chống đối hay tranh giành một cách kịch liệt.

Thiên Đồng hóa khí làm "phúc", cái phúc khí này không phải sinh ra đã có, hay từ trên trời rơi xuống, mà phải trải qua tôi luyện, sau khi gặp trắc trở mới được an định và hưởng thụ, cho nên mới gọi là "phúc tinh".

Cái phúc của Thiên Đồng thường thường là hiện tượng trước nghèo sau giàu, trước không có sau mới có; cho nên người Thiên Đồng tọa mệnh thường cũng tượng trưng cho việc sẽ trải qua một phen vất vả và khổ sở và trui rèn về sự nghiệp, tâm tình, tâm hồn.

Hưởng thụ theo lối tao nhã, không đậm đà

Thiên Đồng là tinh hệ tâm trạng, còn được quy vào nhóm tinh hệ hưởng thụ. Đây là vì Thiên Đồng có khẩu phúc, mà cũng trọng hưởng thụ vật chất; nhưng phong cách hưởng thụ của nó không giống như Liêm Trinh, Tham Lang.

Nó phối hợp giữa tính lãng mạn và cách điệu tình ý, mà cơ sở là kiến lập trên khung giá của vật chất, tức là chú trọng tính ưu nhã của tình cảnh, thân phận, địa vị, nhưng không phải là khẩu vị đậm đà, màu sắc tươi sáng.

Người có Thiên Đồng thủ mệnh là thuộc thể tổng hợp của "thế yếu", "thần kinh chất", cộng thêm "lãng phí". Thiên Đồng là sao chủ về tâm trạng; nếu không thể tạo ra được một cuộc sống tốt thì dễ xuất hiện cảm giác cô tịch.

Bởi vì Thiên Đồng có quan điểm về giá trị, phẩm vị, cho đến kinh nghiệm và sức cảm thụ về cái đẹp đều khá mạnh, cho nên về duyên hôn nhân họ dễ bước vào con đường gập ghềnh, kì khu, không bằng phẳng.

Thiên Đồng tìm được thú vui trong nghịch cảnh

Một tính chất khác của Thiên Đồng là có thể tự tìm được thú vui, hứng thú trong nghịch cảnh.

Có thuyết còn nói lúc Thiên Đồng Hóa Lộc sẽ không sợ hung tinh, sát tinh đến xâm phạm; thực ra đây chỉ là không quá úy kị việc bị hung tinh xung kích, chớ không phải là "không sợ", vì lực tác động của Hóa Lộc sẽ khiến Thiên Đồng lãng mạn đa tình hơn.

Đương nhiên cũng sẽ làm tăng sức quyến rũ của nó; rốt cuộc, làm cho dáng vẻ nhẹ nhàng phiêu dật của nó rơi xuống thế giới hiện thực; cho nên có thêm chút tính kích phát của sát tinh mới làm cho nó không đến nỗi chìm đắm quá độ trong thế giới mộng ảo.

Thiên Đồng tinh giải: Hóa Kị không hẳn là xấu

Phúc tinh mà quá êm ả thì hóa ra trì trệ; đôi khi một cái gai đâm vào lại là chỗ dựng người ta dậy.

Hóa Kị không phải hoàn toàn là xấu; lúc Hóa Lộc, Hóa Kị chia ra nhập "ngã cung", là chủ về có kết cục mĩ mãn.

Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh cũng không phải hoàn toàn là hung sự, trong đó cũng có ý nghĩa quyết đoán, tích cực.

Huống hồ, dù lúc cung hạn lưu niên thấy Kình Dương, Đà La, nếu các sao khác trong cung không bị ảnh hưởng của tứ hóa của thiên bàn, tứ hóa đại vận, thậm chí là tứ hóa lưu niên, thì các hung tinh này không có tác dụng.

Mỗi một sao đều có thuộc tính ngũ hành khác nhau, cho nên thuộc tính khác nhau ở mỗi cung vị, nhất định sẽ vì tình hình tương sinh, tương dung mà làm tăng thêm sức mạnh, và nhất định cũng sẽ có tình hình chống đối, bài xích nhau mà làm giảm bớt sức mạnh; vì vậy nguyên tắc luận "hình phú" thông thường của các sao cũng cần phải căn cứ cung vị nó tọa lạc mà điều chỉnh ở mức độ tương đương.

Thiên Đồng và Sát Phá Tham đều phải rời quê

Người Thiên Đồng tọa mệnh giống với người Sát Phá Tham tọa mệnh, đại đa số đều có tính tự lập, rời xa quê cha đất tổ để phát triển.

Chỗ khác nhau là, người Thiên Đồng tọa mệnh có thái độ chuyển biến nhu hòa hơn, có hàm ý được người nhà đồng thuận và chúc phúc; còn người có Sát Phá Tham tọa mệnh thì có tính cương cường, có phong cách muốn người nhà phải thỏa hiệp.

Mệnh bàn: Thiên Đồng tọa mệnh ở cung Đinh Mão, Kim tứ cục.

Tị
Phúc Đức
Thái Dương
Ngọ
Điền Trạch
Phá Quân
Mùi
Quan Lộc
Thiên Cơ
Thân
Nô Bộc
Tử Vi
Thiên Phủ
Thìn
Phụ Mẫu
Vũ Khúc
Kim tứ cụcDậu
Thiên Di
Thái Âm
Đinh Mão
Mệnh
Thiên Đồng
Tuất
Tật Ách
Tham Lang
Dần
Huynh Đệ
Thất Sát
Sửu
Phu Thê
Thiên Lương
Tí
Tử Nữ
Liêm Trinh
Thiên Tướng
Hợi
Tài Bạch
Cự Môn

Dương thủy nên ít bị thiên lệch

Thuộc tính ngũ hành của Thiên Đồng là dương thủy — Nhâm thủy — cho nên người Thiên Đồng tọa mệnh được ánh dương quang chiếu sáng nhiều hơn người thuộc tính âm thủy như Phá Quân, Cự Môn, hay Thái Âm thủ mệnh. Về cá tính sẽ có nhân sinh quan theo hướng khá đúng đắn; nói một cách khác, rất khó bị thiên lệch.

Lấy người Thiên Đồng tọa mệnh ở cung Đinh Mão, Kim tứ cục, làm ví dụ.

Đây là Thiên Đồng Hóa Quyền; Hóa Quyền sẽ khiến người Thiên Đồng tọa mệnh có tính tích cực, nhưng vì Thiên Đồng có tính chất ôn hòa, văn nhã, cho nên sẽ không thấy vẻ mặt nghiêm nghị ở người có Thiên Đồng Hóa Quyền tọa mệnh; nhưng khuyết điểm nhu nhược, thiếu quyết đoán của người Thiên Đồng tọa mệnh sẽ chuyển biến thành tính xung động và quyết đoán.

Kim tứ cục là "Kim bạc kim" tứ cục, là người ưa giao du với các bậc danh sĩ để tỏ ra mình là người phong nhã, giống như lúc tượng Phật được dát vàng thì rõ ràng sẽ trang nghiêm hơn. Đây cũng là nói tình huống vì xu phụ người giàu sang, hoặc vì chuyện xấu của người ta mà rơi vào cảnh khó khăn.

Có thể quan sát tuyến sao tọa thủ cung nô bộc là "Tử Vi, Thiên Phủ" để hình dung Thiên Đồng trong trường hợp này ít nhiều có liên quan đến người quý hiển.

Thiên Đồng ở cung Mão hay Dậu thì thích đùa giỡn

Sách xưa nói một số người Thiên Đồng tọa mệnh đến già vẫn có thể còn biểu hiện tính thích đùa giỡn của trẻ con.

Thực ra, không phải người nào có Thiên Đồng thủ mệnh cũng thích đùa giỡn, hài hước; nhưng về phương diện này thì người Thiên Đồng tọa mệnh ở cung Mão hoặc Dậu lại có hứng thú rất cao, đó là vì Tham Lang ở cung tật ách khiến như vậy; còn phần lớn người có Thiên Đồng ở cung Kỉ Hợi lại không thích đùa giỡn, hài hước.

Ba câu hỏi về hôn nhân từ một lá số

Lại lấy ví dụ này để tìm hiểu về tình trạng hôn nhân. Giả thiết mệnh tạo là Thiên Đồng tọa mệnh ở cung Mão, sinh giờ Dậu, thế thì cung phu thê ở Sửu tất sẽ thấy Thiên Lương, Văn Xương, Văn Khúc đồng cung; vậy là có thể nghiệm chứng một số sự tình xảy ra như sau.

Một là, mệnh tạo có điểm triệu hai lần hôn nhân; trước khi có hôn nhân chính thức, ắt đã bị đổ vỡ tình cảm một lần, tại sao?

Hai là, lại giả thiết Văn Xương hoặc Văn Khúc thấy Hóa Kị, đây là ý tượng có lí hôn sau đó tái hôn, tại sao?

Ba là, lại giả thiết mệnh tạo là sinh năm Bính vào giờ Dậu, vậy tình trạng hôn nhân của mệnh tạo sẽ có ngoại tình, tại sao?

Cùng tọa cung Mão mà hôn nhân mỗi người một khác

Cùng là Thiên Đồng tọa cung mệnh Mão, nhưng hôn nhân của họ lại có thể vì năm sinh và tháng sinh khác nhau, mà có biến động không giống nhau. Cho nên chỉ quan sát chính tinh ở cung mệnh để luận giải, thì khó mà chính xác.

Các trường hợp đáng để nghiên cứu là: người Thiên Đồng tọa mệnh ở Thìn hay Tuất, nhất là sinh giờ Tí hay Ngọ; hoặc người Thiên Đồng tọa mệnh ở Thìn, sinh giờ Mùi; hoặc người năm sinh Nhâm, giờ Tí; theo tư liệu thống kê của một số danh gia Tứ Hóa phái, bất luận nam mệnh hay nữ mệnh, đều có khuynh hướng tình yêu đồng giới với tần suất rất cao, tại sao? Đáp án cho nghi vấn này là:

  • Sức ảnh hưởng của phụ tinh đối với chính tinh.
  • Các sao bay vào cung vị khác nhau sẽ vì ảnh hưởng của ngũ hành mà khiến cho tính của các sao xảy ra sự thay đổi tính chất.
  • Lúc luận giải một mệnh bàn, ngoại trừ việc xem xét cung mệnh, đồng thời cần phải xem xét tình hình bố trí các sao ở các "ngã cung", không thể chỉ căn cứ cung mệnh mà đoán càn, nhất là cần cẩn thận tính toán lực tác động của tứ hóa để tìm hiểu sâu hơn.

Cung mệnh là máy tạo hình, cung tài bạch là công dụng

Một cái sao đứng ở cung nào thì nói chuyện của cung ấy, không thể đem nghĩa ở mệnh mà gán cho chỗ khác.

Trong số các sao của Tử Vi Đẩu Số, có sức ảnh hưởng lớn nhất là các sao cấp một, tổng cộng có mười bốn chính tinh là Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh, Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân.

Ngoài mười bốn chính tinh, còn có phụ tinh, hung tinh và tứ hóa đủ để cấu tạo thành cách cục của mệnh vận. Độ cường nhược của các sao trong cung mệnh là y cứ quan trọng lúc luận giải mệnh bàn, nhưng không được lấy các sao tọa lạc ở cung mệnh để luận giải một cách không có giới hạn.

Nếu nói cung mệnh giống như một cái máy tạo hình, thì cung tài bạch là công dụng của nó, còn cung quan lộc là tính năng của nó.

Lấy Thiên Đồng làm ví dụ, Thiên Đồng ở cung mệnh và Thiên Đồng ở cung tài bạch, tuy đều là Thiên Đồng, nhưng lại có hàm ý khác nhau.

Lấy trường hợp khác làm ví dụ, cung mệnh là "Liêm Trinh, Thất Sát", hay cung quan lộc là "Liêm Trinh, Thất Sát", hoặc trường hợp cung tài bạch là "Liêm Trinh, Thất Sát", nếu muốn giải thích một cách chính xác và tinh tế thì thế nào? Nếu trong cung còn có thêm Văn Xương, Văn Khúc, hoặc Hỏa Tinh, Linh Tinh, v.v… thì thế nào?

Thiên Đồng ở cung mệnh: tay trắng làm nên

Thiên Đồng là phúc tinh, gọi là "phúc", là bởi vì "khắc phục được khó khăn rồi đạt đến thành công".

Thiên Đồng ở cung mệnh là chủ về không dựa vào tổ nghiệp, tay trắng làm nên. Nếu tổ nghiệp to tát, người Thiên Đồng thủ mệnh sẽ phụ lòng kì vọng của song thân, mà tự lập sự nghiệp riêng của mình.

Vì Thiên Đồng là loại sao chủ về tinh thần, tuy cũng dễ chìm đắm trong cảnh nhàn hạ, nhưng nói chung, ngay cả trường hợp sinh ra trong cảnh giàu có, cũng đều có lúc gặp phải trắc trở, sóng gió; cho nên chỉ cần bị cảnh ngộ kích thích hoặc sau khi trí tuệ được khơi mở thì tinh thần người này sẽ hưng phấn.

"Kẻ thù" của Thiên Đồng là chuyện tình cảm hôn nhân

"Kẻ thù" của người có Thiên Đồng thủ mệnh là, về tinh thần họ thường cảm thấy không biết phải làm sao, bối rối, lúng túng về tình cảm hôn nhân.

Những lực xung kích này thường sẽ khiến người có Thiên Đồng thủ mệnh rơi vào tâm trạng bất ổn, thậm chí phát cuồng.

Nhất là khi nơi sâu thẳm nhất trong tâm hồn mệnh tạo có mặc cảm vĩ cuồng là "cao hơn mọi người một bậc", dù mặc cảm vĩ cuồng rất khó có đối tượng cụ thể, nhưng chân tướng sự thực là: người này có thần kinh cảm giác rất vi tế, cho nên, không thể nói tránh là bản thân Thiên Đồng sẵn mang mầm âu sầu.

Vì vậy lúc chịu áp lực nghiêm trọng, họ rất dễ mắc các chứng bệnh tinh thần, thần kinh. Ví dụ như, lúc căng thẳng thì đau bụng tiêu chảy hoặc thiên đầu thống — đau nửa đầu — hoặc rối loạn nhịp tim. Người có Thiên Đồng thủ mệnh trong một số kết cấu sẽ dễ mắc bệnh rối loạn nội tiết hoặc chứng âu sầu.

Thiên Đồng ở cung tài bạch và cung quan lộc

Trường hợp Thiên Đồng ở cung tài bạch là chủ về mệnh tạo có tài nghệ, sở trường đặc biệt; đây cũng là phương thức mưu sinh của mệnh tạo. Phân tích cách đối nhân xử thế cũng lấy Thiên Đồng ở cung tài bạch để giảng giải.

Ý tượng của Thiên Đồng ở cung tài bạch là điều hòa, hòa giải, trọng tài, tư vấn, và hưởng thụ. Về nghề nghiệp có thể từ các tính chất trên mà suy ra đối tượng cụ thể, cho nên có thể quy nạp thành người chủ trì, người trợ giúp, và người tham dự hoạt động xã hội, phúc lợi, công ích.

Cũng do Thiên Đồng là xu hướng về tinh thần, cho nên có thể là bác sĩ tâm lí, đại sư mệnh lí, nhà thôi miên, nhân viên đoàn thể tôn giáo, nhân viên hòa giải tư pháp, hoặc chuyên viên đàm phán trong chính giới và thương giới.

Thiên Đồng có thiên hướng ở phương diện giải trí, nghệ thuật và công dụng giáo hóa. Cho nên có thể là nghệ sĩ biểu diễn, ca sĩ, vũ sư, vũ công, người làm công tác văn hóa nghệ thuật, giáo sư, v.v…

Cũng có thể bao gồm các ngành nghề trong những lãnh vực như nấu ăn, mĩ thuật, công nghệ, âm nhạc, v.v… — như làm các nghề liên quan đến điện toán, máy tính, thiết kế trang mạng, mĩ thuật công nghiệp, phim hoạt hình, thậm chí là nhân viên lập trình phần mềm, hoặc thiết kế mẫu sản phẩm…

Nếu là phân phối sản phẩm, thì các sản phẩm có liên quan tới tính chất làm cho tâm tình vui vẻ, hưởng thụ, nghỉ ngơi, giải trí, v.v… chớ không phải sản phẩm cần thiết trong sinh hoạt.

Tóm lại người có Thiên Đồng ở cung tài bạch sẽ không làm công việc lao lực, mà làm những công việc có xu hướng vận dụng tinh thần, trí lực hoặc khẩu tài, giải trí.

Thiên Đồng ở cung quan lộc là chủ về không chịu nổi áp lực phải tranh đấu từng giây phút, do bản thân sùng thượng tinh thần xem xét, đánh giá, cân nhắc cẩn thận; hơn nữa, thỏa hiệp và không có tính kịch liệt cũng là chỉ tiêu tinh thần của họ.

Chậm rãi mà có phương pháp, không gấp gáp cầu xong việc, mới được ngăn nắp, không rối loạn; thích tự do an nhàn, không bị hạn chế nghiêm ngặt.

Tâm tính không thích bị truyền thống và khuôn mẫu cũ trói buộc, thiếu tích cực và lực bạo phát, cũng thiếu năng lực lãnh đạo thống ngự. Thích biểu hiện phẩm cách đặc biệt của mình, hoặc hòa nhập vào lãnh vực tinh thần nghệ thuật.

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái (quyển 2)

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn