Bài tổng quan
Hình phú Thái Âm: Sao chủ phú và độ sáng trăng khuyết
Mồng một trăng mất sáng, ngày rằm trăng tròn đầy, hai mươi hai đã sang hạ huyền — giờ sinh rơi vào quãng nào thì Thái Âm trong mệnh bàn sáng tối theo quãng ấy. Cùng một vầng trăng, người sinh ban đêm khác người sinh ban ngày, kẻ thượng huyền khác kẻ hạ huyền. Mà cái hồ sâu nằm dưới lớp sương kia thì vẫn chưa ai nhìn thấu tới đáy…
Ý tượng cơ bản của Thái Âm
Thái Âm là một chính tinh của Trung Thiên, ngũ hành thuộc âm thủy, đặt trên trời thì là sao Thủy, đi thành một cặp với Thái Dương. Hóa khí của Thái Âm là "phú" và "trong sáng", chức trách là "thu chứa". Nói cho gọn, Thái Âm nghiêng về phú nhiều hơn là về quý. Trong mệnh bàn, sao này đứng thay cho mẹ, cho vợ và cho con gái.
Tính chất
Người có Thái Âm thủ mệnh thiên về hướng nội, thông minh tuấn tú, đầu óc giàu sức tưởng tượng, tâm tư tinh tế, cư xử ôn hòa nhu mì, thái độ đoan trang. Đó là mẫu người lãng mạn, coi trọng tình cảm, sẵn có chất thơ chất họa trong lòng.
Thái Âm làm chủ điền trạch và tài bạch, cho nên sao này nhập cung điền trạch hay cung tài bạch thì gọi là đắc vị, công năng vốn có của nó mới hiển lộ ra được.
Ba đặc điểm của mặt trăng
Thứ nhất, Thái Âm chính là mặt trăng. Trăng có lúc tròn lúc khuyết, nên tâm trạng người Thái Âm thủ mệnh cũng lên xuống bất định. Nam mệnh dịu dàng nên nhiều cơ hội tiếp xúc với nữ giới; nữ mệnh đoan trang tú lệ, tình cảm phong phú, giỏi lo liệu việc nhà.
Thứ hai, Thái Âm đại biểu cho mẹ, bất kể nam hay nữ mệnh. Lúc mẹ còn sống, Thái Âm ở cung mệnh là hình ảnh của mẹ; lúc mẹ mất rồi, nữ mệnh lấy sao ấy chỉ chính mình, nam mệnh lấy chỉ vợ; đến khi vợ cũng không còn thì sao ấy chỉ con gái.
Thứ ba, xét theo Âm lịch: mồng một là ngày sóc, trăng mất sáng; mồng tám là trăng thượng huyền; ngày rằm là vọng, trăng tròn đầy; hai mươi hai là trăng hạ huyền; từ hạ huyền trở đi cho tới ngày sóc, độ sáng của trăng cứ giảm dần.
Tượng trưng, hình thái và vị trí địa lí
Màu sắc của Thái Âm là lam nhạt và tím nhạt. Sao này tượng cho bất động sản, công ti xây dựng, việc cho thuê, các nghề mang tính phục vụ, điện ảnh và truyền hình, bác sĩ, y tá, thời trang, làm đẹp, nghệ thuật vườn cảnh, nghệ thuật sáng tác, thiết kế và các nghề tự do.
Về hình thái, người Thái Âm thường có khuôn mặt trái xoan hoặc hơi vuông, cử chỉ dáng vẻ văn nhã, nhìn bề ngoài thấy trong sạch. Trên cơ thể, sao này ứng vào da, gan, thận và hệ sinh dục của phụ nữ.
Vị trí địa lí mà Thái Âm chỉ tới là nước ở chỗ trũng, ruộng vườn, nhà trọ, khách sạn, phòng ăn sang trọng, miếu thờ và khu vực chung quanh biệt thự.
Kiến lập quan niệm: độ sáng và ánh phản chiếu
Vì Thái Âm là mặt trăng nên khi lập mệnh bàn, giờ sinh quyết định độ sáng của sao này. Từ cung Sửu đến cung Mùi là khoảng hãm, không sáng, bởi ban ngày vốn không trông thấy trăng; nhờ chỗ đó mà phân định được Thái Âm mạnh hay yếu.
Ánh sáng của Thái Âm là ánh phản chiếu mượn từ Thái Dương, cho nên tính chất của sao này là bị động. Thái Âm chủ điền trạch, hóa khí làm "phú", thuộc loại tiền của tích tiểu thành đa, chứ không phải thứ hoạnh tài giàu xổi trong một đêm. Nam mệnh Thái Âm có cử chỉ động tác trông như phái nữ, càng lạc hãm mất sáng thì nét ấy càng rõ, nhưng lại rất có duyên với nữ giới. Nữ mệnh Thái Âm lạc hãm thì dù có người con trai ngỏ ý cũng không dám bộc bạch, bề ngoài trông như không cởi mở về tình cảm.
Dù nam hay nữ, lúc trăng sáng thì ý tượng là vui vẻ, hạnh phúc, thông minh, độ lượng, nhẫn nại, thích hưởng thụ, chú trọng ăn mặc, có duyên với người chung quanh và rất có duyên với người khác giới, sẵn thiên phú về nghệ thuật, phong thái văn nhã, thích bầu không khí lãng mạn, hơi thần kinh chất. Tuy khoáng đạt lạc quan, nội tâm vẫn có phần kín đáo, bởi mặt trăng cũng có một mặt không bao giờ được ánh dương quang chiếu tới.
Thái Âm tinh giải
Biết trăng tròn khuyết thế nào rồi, còn phải xem ánh trăng ấy rọi vào một đời người thành những nét gì.
Người có Thái Âm thủ mệnh mà sinh vào ban đêm thì cát lợi hơn sinh ban ngày, sinh vào thượng huyền thì ưu hơn sinh vào hạ huyền. Trong Tử Vi Đẩu Số, Thái Dương chủ về "quý" còn Thái Âm chủ về "phú". Vì ý tượng của Thái Âm là "thu vào", là "thu chứa", nên người có sao này thủ mệnh khá hàm súc, hướng nội, dịu dàng nhu mì. Thái Âm ở cung miếu vượng thì cá tính quang minh lỗi lạc, sẵn khí chất văn nghệ, giàu cảm tính, có duyên với người khác giới nên cũng dễ gặp những tình huống khó xử về tình cảm.
Đẩu Số còn xếp Thái Âm vào hàng tài tinh. Vì lẽ đó, lúc gặp Lộc Tồn, Thiên Mã, Hóa Lộc thì lợi về đường kinh doanh buôn bán; thêm Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc phù trợ thì càng tốt.
Một cặp sao đôi: Thái Dương và Thái Âm
Thái Âm là chủ tinh của Trung Thiên, nên cũng giống Tử Vi, Thiên Phủ và Thái Dương ở chỗ ưa được bách quan triều củng, mà đứng ở cung miếu vượng là lí tưởng hơn cả. Hai sao Thái Dương và Thái Âm vốn là một cặp, rất thích tương hội với nhau ở tam phương tứ chính. Thái Dương là quý tinh chủ công danh, Thái Âm là tài tinh chủ điền trạch; hai sao đối nhau từng nét một: một bên đại biểu cho cha, một bên đại biểu cho mẹ; một bên là tính dương cương bộc lộ ra bề ngoài, một bên là tính âm nhu giấu ở nội tại.
Người có Thái Âm ở cung mệnh hoặc cung thiên di rất mẫn cảm, tinh tế, giỏi hiểu ý người khác. Nữ mệnh Thái Âm mang khí chất âm nhu rất đặc biệt, dễ thu hút sự chú ý, phần nhiều có ngoại hình tú lệ với nét đẹp đông phương — đó là một lợi khí quan trọng trong quan hệ xã giao, khiến họ rất có duyên với phái nam, và dĩ nhiên cũng là đối tượng được nhiều đàn ông theo đuổi. Nam mệnh Thái Âm thì ngược lại: phong thái nhiều nữ tính, lạc hãm mất sáng thì nét ấy càng rõ, tuy cũng rất có duyên với phái nữ nhưng lại dễ bị nữ mệnh xếp vào hàng "chị em thân thiết".
Thái Âm mà gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La thì chủ một đời khó nhọc vất vả, hoặc tính cách xảo trá, nhất là trường hợp Thái Âm lạc hãm thì càng đúng. Nữ mệnh Thái Âm lạc hãm rất biết chăm chút dáng vẻ bề ngoài, tính hơi khoa trương; nếu tam phương có Văn Xương, Văn Khúc hoặc sao đào hoa khác hội chiếu thì không chịu ở yên trong nhà, thích lui tới những nơi vui chơi thanh sắc, mà công phu đeo bám nam nhân cũng thuộc hàng cao thủ. Người Thái Âm thủ mệnh tâm tư tế nhị, song phần nhiều hay đa nghi, cách nghĩ không thoáng, ưa tự trói mình vào những việc vốn không giải quyết được.
Hồ sâu và dòng suối xiết: Thái Âm thủy khác Phá Quân thủy
Ngũ hành của Thái Âm thuộc âm Quý thủy, nên cá tính có chỗ âm trầm kín đáo, không muốn ai hay biết. Tuy nói hóa khí làm "phú quý" và "sáng sủa", nhưng cái phú quý ấy thuộc loại phát muộn, đối ứng với tính chất phát sớm của Thái Dương.
Phá Quân cũng thuộc Quý thủy, song thủy của Thái Âm giống cái hồ sâu: có khí núi, hơi nước, sương mù bay lơ lửng che phủ mặt hồ, ưu nhã bình lặng, khiến người ta nghĩ ngợi xa xôi và nảy sinh tưởng tượng lãng mạn, mà vẫn không nhìn rõ thế giới sâu kín khôn lường dưới đáy. Thủy của Phá Quân thì giống dòng suối chảy xiết, khi ngả này khi quặt ngả khác, khiến người ta khó đoán định. Vì vậy nữ mệnh Thái Âm có khí chất nhu thuận văn nhã, thích yên tĩnh; còn nữ mệnh Phá Quân mang tính kiểm soát nạn tai, lại có nét đẹp hoang dã.
Thái Âm gặp bốn hóa
Thái độ xử thế của người Thái Âm thủ mệnh thuộc loại bị động, ngay cả Thái Âm Hóa Lộc cũng vậy. Nhưng giữa hai trường hợp ấy khác nhau rất lớn. Thái Âm Hóa Lộc tâm tính nhiệt tình, thường đem tình cảm chân thành ra đối đãi, không những không từ chối cự tuyệt người ở xa mà còn có thể đáp ứng ý muốn của họ. Thái Âm không mang tứ hóa thì thuộc loại ngoan ngoãn: tuy chẳng kịch liệt từ chối người hay sự vật mình không thích, không thấy hứng thú, nhưng dù có vẻ mặt tươi cười cũng không ai làm họ động lòng nổi, khiến người chung quanh cảm thấy họ lạnh nhạt và thâm trầm.
Thái Âm Hóa Quyền lại đổi được cái bị động thành chủ động. Một khi Thái Âm thủy gặp Hóa Quyền, bản tính thiên phú của sao này thay đổi hẳn, đặc sắc lớn nhất là tích cực mà không hấp tấp, là tay cao thủ trù tính kế hoạch. Các sao thông thường lúc Hóa Quyền sẽ chủ động phát sáng, không cam chịu cảnh tịch mịch, tìm cách làm mình nổi bật, cử chỉ lời nói và hành vi đều nhìn ra được cái bản ngã; riêng Thái Âm Hóa Quyền tuy rất kịch liệt mà vẫn giữ được bề ngoài bình tĩnh. Nam mệnh Thái Âm Hóa Quyền có nét đẹp mạnh mẽ, chứ không mang khí chất dịu dàng hay phấn son như Thái Âm, Thái Âm Hóa Lộc hoặc Thái Âm Hóa Khoa.
Người Thái Âm Hóa Khoa khá lí trí, tuy nhạy cảm nhưng ít khi nhu nhược thiếu quyết đoán. Độ tích cực không bằng Thái Âm Hóa Quyền, cũng không giống Thái Âm Hóa Lộc: họ có nhiệt tình nhưng không muốn ai biết. Tướng mạo thì hiện rõ khí chất thư sinh và có nội hàm. Thái Âm thủy được lực tác động của Hóa Khoa mộc khiến dòng chảy trở nên hợp lí, nên đây là người có trí tuệ vững vàng.
Bản chất thiên phú của Thái Âm vốn ôn hòa thuần tính. Nhưng trêu chọc một người có Thái Âm Hóa Kị tự Hóa Quyền thủ mệnh thì phải coi chừng, dù họ là nữ mệnh cũng không ai chịu nổi. Nếu lại thêm bất cứ sao nào trong số Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng cung thì hung tính nổi lên như sét đánh, chỉ bị mắng chửi mà không bị đánh đã là may lắm rồi.
Thái Âm Hóa Kị: vực sâu của sự thiên lệch
Người Thái Âm Hóa Kị dễ rơi vào vực sâu của sự thiên lệch. Hóa Kị là lực tác động hóa thủy; bản chất thiên phú của Thái Âm vốn yên tĩnh, xem trọng hình tượng, thích thanh khiết, thì Thái Âm Hóa Kị cũng giữ nguyên các tính chất ấy — cho nên thường thấy người này ăn mặc chỉnh tề, phong thái đoan trang thoát tục. Có điều, lúc Thái Âm Hóa Kị thủ mệnh ở các cung Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, hễ có ai đột nhiên tìm đến nhà hay đến nơi làm việc của họ, họ liền hoài nghi không rõ người kia có mang tai họa gì đến cho mình hay chăng.
Thái Âm thủy mà lại Hóa Kị là tượng âm trầm lạnh lùng. Người như vậy dù thủ mệnh ở các cung Tí, Hợi, Tuất, Dậu, Thân thì cũng chỉ tăng thêm tính khí điềm tĩnh thản nhiên, chứ không cách nào tăng thêm chiều sâu sắc trong tâm hồn. Cho nên ngoài các ý tượng cơ bản của Hóa Kị năm sinh ở cung mệnh, người Thái Âm Hóa Kị thủ mệnh phần nhiều còn mang tâm tình âu sầu, tính khí không khoáng đạt, không lạc quan, bất cận nhân tình, nặng lòng nghi kị, nhiều mặc cảm tự ti, tính nóng nảy, dễ sinh mâu thuẫn tâm lí, lại dễ vì định kiến thiên lệch mà nhìn cuộc đời và nhìn người chung quanh bằng một màu u ám.
Bất luận nam hay nữ mệnh, vận tình cảm của họ đều không thuận lợi toại ý, không bình yên hòa hợp. Vì rất cần sự nhiệt tình nên họ thường cảm thấy thiếu thốn, thậm chí cô đơn. Nhưng họ cũng dễ thành người có khẩu tài gạt người, phạm sai lầm về tình cảm, hoặc do phán đoán sai lầm mà đầu tư thất bại, rồi từ đó sinh ra những kiến giải tiêu cực, rơi vào cái vòng tuần hoàn ác tính lẩn quẩn.
Thái Âm Hóa Khoa của can Canh khác can Quý ở chỗ nào
Vẫn vầng trăng ấy mà Hóa Khoa, chỉ đổi tuổi sinh là đổi hẳn chỗ sáng của nó.
Trong các thiên can hành hóa, can Canh và can Quý đều khiến Thái Âm Hóa Khoa. Cùng một sao, cùng một hóa, nhưng thiên can khác nhau thì lúc vận dụng chỗ giống và chỗ khác ra sao?
Can Canh ngũ hành thuộc kim, nên Thái Âm Hóa Khoa của can Canh chủ về sức khỏe hoặc phẫu thuật, thấy rõ ý tượng huyết quang. Can Quý ngũ hành thuộc thủy, nên Thái Âm Hóa Khoa của can Quý chủ về học hành hoặc đào hoa, là sao có duyên với người.
Can Canh thuộc kim, mà kim có tính nội liễm, tức thu vào bên trong, quản cái khí lạnh lẽo tiêu điều của trời đất. Đặt vào "địa" thì là kim loại, là ý tượng binh biến ở nhân gian, là ý tượng huyết quang. Can Quý thuộc thủy, ẩn chứa ý vị cực đoan, biến động, kết thúc; ba động của thủy tính chính là ý tượng đào hoa.
Phân biệt theo đặc tính cơ bản của tinh diệu
Thái Âm ngũ hành thuộc thủy, mà thủy chủ về trí, cho nên Thái Âm có tài văn bút; còn Hóa Khoa thì tài hoa tràn trề, là ý tượng công danh. Vì vậy Thái Âm Hóa Khoa thiên nặng về biểu hiện tài hoa và tăng thêm danh tiếng; gặp thêm Tam Thai, Bát Tọa thì mức độ danh tiếng càng mở rộng.
Thái Âm Hóa Khoa có Văn Xương, Văn Khúc đồng độ hay hội chiếu, hoặc giáp cung, tất sẽ thông tuệ hơn người, văn chương xuất chúng, học rộng đa năng, hơn nữa còn rất nổi tiếng, danh khí truyền xa. Nhưng nếu Thái Âm lạc hãm mà Hóa Khoa, gặp Văn Xương hoặc Văn Khúc Hóa Kị, lại thêm Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ, thì trái lại, chủ về lưu truyền tiếng xấu.
Phân biệt theo thiên can
Thiên can khác nhau thì hóa khí cũng khác, nên chỗ khác nhau nằm ngay ở tuổi sinh. Người sinh năm Canh khá có nội hàm, là chân tài thực học; biểu hiện của họ cũng là do có thực lực mà nổi tiếng. Người sinh năm Quý thì tài hoa thường khá khoa trương, không thực, hoặc thuộc loại tài hoa phát đột ngột, ngắn hạn, lóe lên rồi thôi, cho nên mức độ nổi tiếng không thể dài lâu, hoặc chỉ có hư danh mà thôi.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái (quyển 2)
