Bài tổng quan
Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương trong Hà Lạc phái
Người có Vũ Khúc, Tham Lang ở cung mệnh khó phát lúc còn trẻ, phát sớm thì trước 35 tuổi giàu sang chỉ thoáng qua. Cự Môn Hóa Lộc lại chủ về kiếm tiền bằng chính cái miệng, như người môi giới hay ca sĩ. Còn Thiên Lương Hóa Kị xung cung mệnh thì mái nhà che chở kia có thể sụp xuống sớm…
Tham Lang trong Hà Lạc phái
Ngũ hành của Tham Lang là giáp mộc, tính thuộc thủy; đây là sao của Bắc Đẩu, hóa khí làm "đào hoa", chủ về họa phúc; cũng gọi là "tài tinh" (sao tiền tài), còn là "thọ tinh" (sao thọ), là thần giải nguy. Là người hiếu động, hướng ngoại, không chịu yên tĩnh, nhiều dục vọng, tính cương, hung dữ, cơ mưu thâm viễn, hỉ nộ bất thường, làm việc gấp gáp, nhanh nhẹn, nhưng thiếu nhẫn nại.
Tham Lang giống Liêm Trinh: sau khi "cường hóa" sẽ chủ về "ham tranh giành", yêu hận khó phân biệt, có lòng báo thù; do đó họa hay phúc xảy ra chỉ trong một niệm.
Tham Lang vào cung mệnh thì ý tượng là thích nghiên cứu huyền học, triết lí, phản ứng nhanh, thông minh nhanh trí hơn xa Thiên Cơ.
Tham Lang vào cung mệnh thì ý tượng là đào hoa (thuộc về nhục dục), cần phải xem thêm cung phúc đức để đoán; nhưng nếu cung mệnh hoặc cung thân có Địa Không hoặc Địa Kiếp bay vào thì mới quay về chính đạo.
Tiền tài của Tham Lang
Tham Lang có liên quan tới "tiền tài"; động tới Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang. Vũ Khúc là "chính tài tinh" (sao chủ về tiền thu nhập chính thức), ở vị trí thứ nhất, kế tới là Tham Lang ở vị trí thứ hai. Nhưng "tiền tài" của Tham Lang lại có ý vị "trong sự thành công có sự phá hao"; người xưa nói "thọ tinh" (sao thọ) vào cung mệnh thì không phát lúc còn trẻ. Do đó Vũ Khúc, Tham Lang khó phát lúc còn trẻ; phát sớm sẽ thất bại, trước 35 tuổi giàu sang chỉ thoáng hiện trong chớp mắt.
Tham Lang vào cung mệnh, ở các cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, là "cát địa", có công năng giải nguy. Ở hai cung Thìn, Tuất, nếu Tham Lang không Hóa Kị mà có Hỏa Tinh đồng cung thì gọi là cách "Hỏa Tham"; còn nếu Tham Lang không Hóa Kị mà có Linh Tinh đồng cung thì gọi là cách "Linh Tham"; đều là cách đặc biệt, chủ về hoạnh phát, nhưng sau khi phát phải cố giữ những gì đang có.
Tham Lang vào cung mệnh thích có Lộc Tồn hoặc sao Hóa Lộc đồng cung, có thể phù trợ giữ chính đạo, cơ hội phạm sai lầm khá ít.
Tham Lang là "tài tinh" (sao tiền tài); vào các cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi gọi là "tiền nhập vào kho", không bị Thiên La Địa Võng hạn chế. Xin lưu ý! Phải đợi lúc Hóa Kị xung phá "kho" rồi mới phát.
Nữ mệnh Tham Lang không nên thủ cung mệnh, vì Tham Lang là sao đào hoa, kiêm sao nhục dục, lại còn là "tài tinh" (sao tiền tài), khó ở yên trong nhà; ý tượng là hiếu động, hướng ngoại, không chịu được cảnh vắng vẻ, nên tu tâm dưỡng tính nhiều.
Tham Lang vào cung mệnh, ở hai cung Sửu hoặc Mùi, lại gặp người sinh năm Nhâm hoặc Quý, Hóa Kị vào cung mệnh, thì ý tượng là hợp với làm ăn bằng tiền mặt, làm ăn bằng nghề tay trái, hoặc lấy nghệ thuật, triết học, văn chương làm con đường phát triển.
Tham Lang vào cung tài bạch thì kiếm tiền bằng nghề tay trái trong lĩnh vực nghệ thuật; trước 30 tuổi tiền tới tiền đi, sau 30 tuổi mới giữ được.
Tham Lang vào cung quan lộc thì phấn đấu gian khổ, trước 30 tuổi vận trình không tốt, sau 30 tuổi dần dần chuyển biến theo hướng tốt.
Tham Lang vào cung điền trạch hay cung tử nữ thì trước 30 tuổi điền trạch và "khố vị" (kho) không thể phát sớm, phát sớm ắt sẽ phá tán; sau 30 tuổi dần dần chuyển biến tốt, "khố vị" (kho) mới giữ được.
Tham Lang gặp tứ hóa
Tham Lang Hóa Lộc vào cung mệnh chủ về tiền tài, tuổi thọ và đào hoa.
Tham Lang Hóa Lộc vào cung phúc đức hay cung tật ách thì ý tượng là kéo dài tuổi thọ, giải nguy, nhưng cũng chủ về tính dục khá mạnh.
Tham Lang Hóa Lộc vào cung quan lộc, cung tài bạch thì ý tượng là kiếm được tiền.
Tham Lang Hóa Lộc cũng chủ về "thiên tài" (tức tiền thu nhập không thường xuyên), hơi có tính đầu cơ (còn Vũ Khúc là "chính tài", tiền thu nhập chính thức, phải dựa vào công việc làm ăn chính đáng để kiếm tiền).
Tham Lang thuộc thủy, cho nên khi Hóa Lộc vào cung mệnh, cung thiên di, cung tử nữ hay cung điền trạch thì ý tượng là người thông minh, thông đạt nhân tình, giàu kinh nghiệm xử thế; vào cung nô bộc thì ý tượng là khẳng khái hiếu khách, vì tượng là mang tiền cho bạn bè.
Tham Lang Hóa Quyền vào cung mệnh là người cố chấp, không ưa bị người khác chỉ huy hay điều khiển, cũng thích chiếm quyền và làm kẻ cả.
Tham Lang Hóa Quyền vào cung quan lộc hoặc cung tài bạch thì ý tượng là gây dựng cơ nghiệp, có xung lực mạnh và ý thức phấn đấu.
Tham Lang Hóa Quyền vào cung tật ách hoặc cung phúc đức thì không chủ về thọ, mà dễ bị thương bất ngờ, mắc bệnh khá phiền phức.
Tham Lang Hóa Quyền vào cung tử nữ xung cung điền trạch thì ý tượng là giữa mệnh tạo với con cái ý kiến không hợp nhau, dễ có sự ngăn cách giữa hai đời.
Tham Lang Hóa Kị vào cung tật ách, cung phúc đức thì ý tượng là cơ thể bạc nhược, nhiều tai ách, lúc sinh bệnh sức đề kháng kém.
Tham Lang Hóa Kị vào cung tài bạch thì dễ vì đào hoa mà xảy ra tranh chấp về tiền bạc.
Tham Lang Hóa Kị vào cung điền trạch thì ý tượng là cuộc đời hay tranh giành đào hoa.
Tham Lang Hóa Kị vào cung phụ mẫu hay cung tật ách thì ý tượng là bệnh nan y.
Loại tượng của Tham Lang
Tượng ở người: giáo sư, người làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, người đi làm hưởng lương trong ngành giải trí.
Tượng ở sự việc: dục vọng, lòng tham, cờ bạc, rượu chè.
Tượng ở vật: nghệ phẩm, nhạc khí, rượu, cây lớn.
Tượng ở đất: quán rượu, nơi dạy khí công, miếu, công ti chứng khoán.
Tượng ở bệnh: gan (tạng can), mật (đảm), tạng thận, bàn chân.
Màu sắc: xanh.
Cự Môn trong Hà Lạc phái
Tham Lang lấy dục vọng mà kiếm tiền; có một sao khác lại lấy chính cái miệng mà kiếm.
Ngũ hành của Cự Môn là quý thủy, thuộc âm; đây là sao của Bắc Đẩu, là thần cai quản miệng lưỡi, hóa khí làm "ám" (che phủ); ý tượng là thị phi, còn gọi là "Cách Giác Sát", ý tượng là đố kị và nghi kị.
Cự Môn chủ về ngầm lo âu, tượng trưng cho tranh luận thị phi, có tính nói lầm nhầm không ngừng.
Cự Môn vào cung mệnh thì ý tượng là cuộc đời dễ chuốc thị phi, ít hợp với lục thân, giỏi dối trá, công việc trồi sụt không ổn định, học rộng mà ít tinh, lao tâm nhiều, thanh tĩnh ít.
Cự Môn là một sao cô độc, chỉ có Lộc Tồn mới giải được tính chất này của nó. Đại vận hay lưu niên tới cung hạn có Cự Môn tọa thủ mà không có Lộc Tồn đồng cung thì dễ có chuyện phiền muộn, cô độc và tâm thần rối loạn.
Cự Môn cũng là một sao dịch mã; nếu thủ cung mệnh ở các cung Dần, Thân, Tị, Hợi mà gặp Thái Dương thì ý tượng là rời xa quê hương, là cách tự lập, hoặc dời nhà, rời khỏi nơi sinh ra; hoặc duyên hôn nhân và con cái rất kém, dễ có tranh chấp, còn có động thái dịch mã, bôn ba vất vả.
Cự Môn vào cung lục thân thì ý tượng là tính bài xích khá mạnh, tượng trưng cho sự bỏ rơi; ý tượng là bản thân và lục thân duyên phận bạc bẽo. Nếu ở cung phụ mẫu thì nên nhận cha mẹ nuôi, hoặc từ nhỏ đã cho làm con nuôi của thần thánh; ở cung phu thê thì nên kết hôn muộn.
Cự Môn gặp tứ hóa
Cự Môn Hóa Lộc vào cung mệnh thì ý tượng là có khẩu phúc, có khẩu tài, nhiều nghề mà không tinh, nhưng giỏi khoa trương.
Cự Môn không phải "tài tinh" (sao tiền tài); nếu Hóa Lộc thì chủ về dựa vào miệng lưỡi để kiếm tiền, như nghị sĩ, dân biểu, đại biểu quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân, người môi giới, giáo sư, ca sĩ.
Can cung Tân khiến Hóa Lộc vào Cự Môn ở cung phúc đức thì ý tượng là cuộc đời có khẩu phúc, vì cung phúc đức là cung vị hưởng thụ; tọa cung quan lộc thì ý tượng là có khẩu phúc trong sự nghiệp hay công việc, ví dụ thường giao tế thù tạc, làm công việc về ẩm thực.
Nữ mệnh không ưa Cự Môn; nó tọa cung mệnh thì khó tránh nhiều thị phi; nếu gặp Văn Xương hay Văn Khúc đồng cung, bất kể tứ hóa của nó thế nào, ắt chủ về tình cảm không chuyên nhất.
Cự Môn Hóa Kị chủ về điều tiếng thị phi; vào cung điền trạch thì trong nhà không yên ổn; gặp thêm Thiên Hình hoặc Dương Nhận, e rằng có họa tai lao ngục.
Cự Môn Hóa Kị vào cung tật ách, cung phụ mẫu thì ý tượng là thích nhiều chuyện; nữ mệnh là người dùng miệng lưỡi để kiếm tiền.
Cự Môn Hóa Kị vào cung mệnh thì cuộc đời dễ chuốc lấy thị phi, thường gặp phải cảnh ngộ không thuận lợi.
Cự Môn Hóa Kị vào cung tài bạch thì ý tượng là thị phi tranh chấp về tiền bạc; vào cung quan lộc thì ý tượng là thị phi trong sự nghiệp, trong công việc. Cự Môn Hóa Quyền vào cung tài bạch, cung quan lộc cũng chủ về gặp nhiều phiền phức; đây là loại thị phi do cố ý tạo sự chú ý.
Lúc Cự Môn Hóa Kị chủ về tử vong thì ắt chủ về phái nữ mà không chủ về phái nam, vì Cự Môn luôn ở cung vị phúc đức của cung có Thái Âm tọa thủ.
Người xưa còn có thuyết: lúc Cự Môn Hóa Kị vào cung tật ách, cung phụ mẫu, còn chủ về bệnh tật khó chữa trên cơ thể; điều này có liên quan tới phong thủy âm trạch (Tham Lang Hóa Kị thì có liên quan tới phong thủy dương trạch).
Loại tượng của Cự Môn
Tượng ở người: thầy lang, vu sư, tiểu nhân, tiên đạo, người dùng miệng lưỡi để kiếm tiền.
Tượng ở sự việc: điều tiếng thị phi, nhiều chuyện, hay nói, mất mát, trộm cắp.
Tượng ở vật: xe tải, hộ khẩu, ngũ cốc, linh hồn, đàn cầu thần thánh.
Tượng ở đất: âm miếu, mạch nước ngầm, mồ mả, chỗ u ám.
Tượng ở bệnh: tì (tuyến tụy), vị (dạ dày), bệnh hen suyễn, bệnh ngầm.
Màu sắc: trắng xám.
Thiên Tướng trong Hà Lạc phái
Miệng lưỡi gây thị phi thì cần một người biết hòa giải đứng ra cầm ấn.
Thiên Tướng là nhâm thủy, thuộc âm; đây là sao thuộc tinh hệ Nam Đẩu, hóa khí làm "ấn tinh" (sao ấn), cai quản "y thực", chủ về tước vị, còn là chủ quan lộc, có thể giải tính xấu của Liêm Trinh.
Thiên Tướng là sao cát tường, chủ về từ ái, đối đãi với người hòa nhã, ôn tồn, thân thiết, cá tính hài hước, thích nói lời làm êm tai người khác nên giành được cảm tình của người khác, là người đắc nhân tâm.
Thiên Tướng vào cung mệnh thì bẩm tính thông minh, có lòng thông cảm người khác, phục vụ nhiệt tình, thích ăn ngon và y phục chỉnh tề, thường khá xem trọng vẻ bề ngoài, tạo ấn tượng tốt nơi người khác. Thiên Tướng thích hòa giải tranh chấp cho người khác, nhưng cần phải lưu ý nhiều, nếu không sẽ gặp phiền phức.
Thiên Tướng có Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Khúc đồng cung, nhất là nữ mệnh mà có ba sao này tọa cung mệnh hoặc cung phu thê, cần phải chú ý nhiều về vấn đề tình cảm. Thiên Tướng là loại sao có duyên với người; nếu thêm Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc là sao đào hoa quá nhiều, thì người theo đuổi cũng nhiều, do đó hôn nhân dễ xảy ra sóng gió, nên kết hôn muộn thì tốt hơn.
Thiên Tướng ở cung thiên di thì cung mệnh ắt sẽ thấy Phá Quân, là chủ về xuất ngoại có quý nhân giúp đỡ.
Thiên Tướng gặp tứ hóa
Thiên Tướng gặp Hóa Lộc vào cung mệnh, cung phúc đức thì chủ về hưởng thụ y thực sung túc.
Thiên Tướng Hóa Lộc vào cung tài bạch, cung quan lộc thì hợp làm những nghề liên quan tới y phục hoặc ẩm thực.
Thiên Tướng gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền vào cung tật ách thì chủ về bệnh ngoài da hoặc bệnh về huyết dịch.
Thiên Tướng Hóa Khoa thì có công năng giải nguy; vào cung phụ mẫu, cung tật ách có thể gặp hung hóa cát.
Thiên Tướng gặp Hóa Kị thì ý tượng là có chuyện thị phi về mặt văn thư, hợp đồng, khế ước.
Thiên Tướng gặp Hóa Kị vào cung điền trạch thì ý tượng là mua bán bất động sản dễ có chuyện thị phi; vào cung tử nữ hoặc cung điền trạch cũng chủ về đào hoa.
Thiên Tướng Hóa Kị vào cung mệnh thì ý tượng là có sai lầm trong việc xử lí văn kiện hoặc thị phi về hành chính.
Thiên Tướng Hóa Kị vào cung tài bạch thì ý tượng là chi phiếu, chứng khoán có giá; nên cẩn thận về giấy tờ, nếu không sẽ dễ nảy sinh tranh chấp.
Thiên Tướng Hóa Kị vào cung quan lộc thì ý tượng là sai lầm trong công việc, dẫn tới bị khiển trách về hành chính.
Thiên Tướng Hóa Kị vào cung nô bộc thì ý tượng là dễ vì bạn bè hay đồng sự phạm sai lầm về văn thư, hợp đồng mà bị liên lụy.
Loại tượng của Thiên Tướng
Tượng ở người: nhân viên kế toán, nhân viên phục vụ.
Tượng ở sự việc: hưởng thụ, cầu học, thích biểu hiện.
Tượng ở vật: hồ phun nước, suối nhỏ, con dấu, ấn, chi phiếu, văn kiện.
Tượng ở đất: cửa hàng bán áo quần, quán ăn tự chọn (tự phục vụ), tiệm bán nông dược.
Tượng ở bệnh: bàng quang, bệnh ở nửa thân dưới.
Màu sắc: vàng.
Thiên Lương trong Hà Lạc phái
Ấn tinh lo chuyện áo cơm; ấm tinh thì lo che chở cho cả mái nhà.
Thiên Lương là mậu thổ, thuộc dương; đây là sao thuộc tinh hệ Nam Đẩu, hóa khí làm "ấm", ý tượng là điềm lành, là thần kéo dài tuổi thọ, có thể chế hóa, giải nguy; còn là sao cha mẹ, có ý vị đàn anh. Là người có tâm tính thẳng thắn, cởi mở, không cực đoan, thông minh mà không tự tư, thích lo lắng cho người khác, làm việc gì cũng nghĩ tới người khác, làm việc thận trọng, vững vàng, tính tự kiềm chế rất mạnh, khó bị mất phương hướng, tướng mạo đầy đặn thanh tú.
Thiên Lương còn được gọi là "Trung Khang tinh", có liên quan tới y thuật; còn là sao chủ về cha mẹ, bậc trưởng bối; về bản tính, vốn thích chăm sóc người khác, cho nên hợp theo ngành y dược.
Nếu Thiên Lương gặp Thái Dương thì hợp với nghề nghiệp có tính phục vụ như về văn giáo hoặc công ích xã hội.
Thiên Lương là sao chủ về cha mẹ; gặp lúc có Hóa Kị đồng cung hoặc đối xung thì cần chú ý sức khỏe của lục thân trưởng bối, là điểm có tang trong huyết thống trực hệ; ví dụ như lúc Thiên Lương có Thiên Đồng đồng cung mà gặp lúc Thiên Đồng Hóa Kị.
Thiên Lương là sao từ thiện, có liên quan tới tôn giáo, chùa miếu thuộc chính phái.
Thiên Lương gặp tứ hóa
Thiên Lương Hóa Lộc cũng không chủ về tiền tài, mà chủ về che chở, giải nguy; ý tượng là phúc thọ.
Thiên Lương Hóa Lộc vào cung mệnh, cung điền trạch, cung phúc đức, cung tật ách đều chủ về giải nguy, khỏe mạnh, sống thọ.
Thiên Lương Hóa Lộc vào cung phụ mẫu thì ý tượng là có thể hưởng phước ấm của cha mẹ.
Thiên Lương Hóa Lộc vào cung điền trạch thì ý tượng là cuộc đời nhất định sẽ có nhà cửa, và có thể giữ được nhà của mình.
Thiên Lương Hóa Khoa thì ý tượng là cha mẹ khỏe mạnh, sống thọ, đối xử với nhau hòa hợp.
Thiên Lương Hóa Kị là "ấm tinh" Hóa Kị, chủ về mất lục thân trưởng bối; vì vậy vào cung lục thân là bất lợi.
Thiên Lương Hóa Kị vào cung thiên di xung cung mệnh là chủ về không được lục thân che chở, hoặc cha mẹ mất sớm.
Thiên Lương Hóa Kị vào cung mệnh xung Thái Dương thì ý tượng là không được cha che chở; xung Thái Âm thì chủ về không được mẹ che chở.
Thiên Lương Hóa Kị phi xuất là mất lục thân trưởng bối; nhưng Thiên Lương thuộc sao dương, nên chủ về mất trưởng bối phái nam.
Loại tượng của Thiên Lương
Tượng ở người: thầy thuốc, nhà thuật số, nhân viên công ích, nhân viên tôn giáo.
Tượng ở sự việc: từ thiện, sự nghiệp giáo dục.
Tượng ở đất: bệnh viện, biệt thự.
Tượng ở bệnh: tì (tuyến tụy), vị (dạ dày).
Màu sắc: vàng trắng.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái (quyển 2)
