Bài tổng quan
Tam phương Phúc Đức phi hóa vào tam phương Giao Hữu: chín cặp cung
Phúc Đức phi Kỵ nhập Giao Hữu là người sợ tịch mịch nên giao du nhiều mà chưa chắc tìm được bạn thật; Giao Hữu phi Kỵ nhập Phúc Đức thì tri kỷ lúc chưa đắc chí, đắc chí rồi lại hết tri kỷ. Giữa cái phúc trong lòng và những người xung quanh, chín cặp cung nói điều gì…
Cái phúc trong lòng chạm vào người xung quanh
Tam phương Phúc Đức gồm Phúc Đức, Phu Thê, Thiên Di: ba cung về phúc báo, tình duyên và dáng đứng giữa đời. Tam phương Giao Hữu gồm Giao Hữu, Phụ Mẫu, Tử Nữ: ba hướng người ta đi qua trong cuộc sống, bạn bè, bề trên và con cháu. Hai nhóm phi hóa cho nhau theo chín cặp, mỗi cặp hai chiều và bốn hóa.
Điểm chung dễ thấy: phần lớn các câu trong chín cặp đều nói về phẩm chất giao tiếp, thể diện, tình cảm hôn nhân và chuyện hợp tác. Lộc nhập thì hòa nhã, ít tính toán. Quyền nhập thì thích thể hiện, sĩ diện, dễ phô trương. Khoa nhập thì thanh nhã, quân tử đạm giao. Kỵ nhập thì tình cảm cố chấp, ít bạn, thích thanh tĩnh hoặc vì thế mà cô độc. Khi gặp sao đào hoa, mọi chuyện chăn gối và ngoại tình đều đậm nét hơn; khi có sao tông giáo thì thêm nét từ bi, bố thí.
Phúc Đức hóa với tam phương Giao Hữu
Bạn bè là tấm gương nhỏ trong đó cái phúc của ta hiện hình.
Phúc Đức với Giao Hữu
Phúc Đức phi Lộc nhập Giao Hữu: thích náo nhiệt, lạc quan, thân thiện. Đối đãi người bằng niềm vui, kết bạn vì hứng thú. Thích lan niềm vui sang xung quanh, bạn bè thường có vui cùng hưởng. Ít so đo, không ghi nhớ. Giao Hữu phi Lộc nhập Phúc Đức: bạn bè phần nhiều sống vô tư. Nhân duyên tốt, họp mặt náo nhiệt, ít tâm cơ. Thích thi đấu, pha trà, ăn uống bình dị, say sưa trong niềm vui. Sau khi mất cũng được vinh quang, vì Phúc Đức là vị trí của thân hậu.
Phúc Đức phi Quyền nhập Giao Hữu: muốn biểu hiện, sĩ diện, nhiều hào khí. Thích kết giao nhà giàu, quý tộc. Phòng tiệc tùng thái quá, nịnh bợ, hư vinh. Giao Hữu phi Quyền nhập Phúc Đức: bạn bè hào khí, phong cách diễn tuồng, ưa phô trương, không chịu thua. Phòng dung tục, kiểu túi cơm túi rượu thô lỗ.
Khoa: Phúc Đức phi Khoa nhập Giao Hữu thì quân tử đạm giao, ôn lương, khiêm nhượng. Giao Hữu phi Khoa nhập Phúc Đức thì bạn tri tính nhiều, qua lại phong nhã.
Phúc Đức phi Kỵ nhập Giao Hữu: sợ cô độc, tịch mịch nhưng không phải vì lý trí, nên hay tụ tập giao du. Có khi quái gở tụ lại, bạn hạng rác rưởi. Với người có sao tông giáo thì từ bi hỷ xả, không ngại bố thí. Giao Hữu phi Kỵ nhập Phúc Đức: giao du nhiều hao tổn, bị tổn thương; nhiều bạn nặng tư tưởng hưởng thụ. Tình bạn kiểu tiểu nhân, ngọt như mật mà phòng không bền, trở mặt thành thù. Hoặc cá tính cô độc, chỉ chơi được với người cùng tính cùng khí vị. Tri kỷ khi chưa đắc chí thì có, đắc chí rồi thì không còn là tri kỷ. Hiểu lòng nhau mấy ai, rốt cuộc vẫn cô độc.
Phúc Đức với Phụ Mẫu
Phúc Đức phi Lộc nhập Phụ Mẫu: vẻ mặt ôn hòa, vui vẻ thân thiện. Tổ tiên có dư ấm, cha mẹ có tổ ấm. Gần gũi người lớn tuổi, thích học nhưng phòng học nhiều mà ít thành. Phụ Mẫu phi Lộc nhập Phúc Đức: cha mẹ, trưởng bối, cấp trên hòa nhã. Có duyên với bề trên, được phúc ấm. Thông minh lanh lợi, lợi học tập nhưng phòng tự yêu cầu không cao. Hợp công chức. Gia đình bên ngoại vui vẻ.
Phúc Đức phi Quyền nhập Phụ Mẫu: hoạt bát, ngạo cốt, thích thể hiện, hư vinh; gặp Kỵ thì thành ngạo mạn. Tốt nhất làm chuyên môn thì nói năng có trọng lượng. Cách cục tốt thì học cao, tập tính trí tuệ, triết lý. Phòng ngạo mạn vô lễ, mắt không có người trên, tự đại nói hay làm dở. Phụ Mẫu phi Quyền nhập Phúc Đức: trưởng bối kỳ vọng cao, cầu tri thỏa mãn, thông minh, lợi học thi, công chức, lên chức, lấy chứng chỉ.
Khoa: Phúc Đức phi Khoa nhập Phụ Mẫu thì nói năng du nhã, gần người có đức. Phụ Mẫu phi Khoa nhập Phúc Đức thì học để có tuệ, đổi tình đổi tính.
Phúc Đức phi Kỵ nhập Phụ Mẫu: cực đoan, quá khích, không tiếc lời; thêm Quyền càng ác liệt. Vô học, yêu hận kích động. Ghét lễ nghi phiền phức, không thích lễ giáo trói buộc. Phòng chửi bới vô văn hóa, tri thức quét rác. Phụ Mẫu phi Kỵ nhập Phúc Đức: không thích đọc sách, đọc là đau đầu. Trưởng bối có thói xấu hoặc cha mẹ lo nghĩ. Gia đạo bên ngoại không hưng thịnh. Sau hôn nhân thường là tiểu gia đình. Ít nên vay mượn người khác để tránh thua thiệt. Phòng giấy tờ khốn nhiễu.
Phúc Đức với Tử Nữ
Phúc Đức phi Lộc nhập Tử Nữ: thích trẻ con, tình cha con vui vẻ, lòng từ thiện chân thật, phúc ấm con cháu. Hòa nhã buông thả, nhưng phòng cưng chiều quá. Mình thích giao lưu bên ngoài. Từ bi hỷ xả với người có sao tông giáo. Tử Nữ phi Lộc nhập Phúc Đức: hưởng phúc con cái, thích đứa trẻ chân thật. Phòng con vô tư buông tuồng, thiếu tích cực. Cuộc sống vui thích, nhất là với sao đào hoa. Về già không lo, tình cha con vui vẻ. Hợp tác kiếm tiền, họ hàng lui tới vui vẻ.
Quyền: Phúc Đức phi Quyền nhập Tử Nữ thì dạy dỗ nghiêm, đòi tuyệt đối phục tùng, muốn con thành rồng, rèn sắt thành thép. Tử Nữ phi Quyền nhập Phúc Đức thì con ỷ mình, ngạo mạn, khó dạy; hợp tác kiếm tiền. Khoa: tính dài lâu, tinh thần giáo dưỡng; con có nét thư hương, tố dưỡng.
Phúc Đức phi Kỵ nhập Tử Nữ: phòng cưng chiều quá hoặc dạy dỗ không thích đáng. Cố chấp thiên lệch, bận tâm con cái. Mình cũng khó sống ở nhà. Phòng tự nhiễm tính nghiện. Tử Nữ phi Kỵ nhập Phúc Đức: vì con cái mà phiền lòng. Phòng con ham chơi, sức khỏe rối loạn, tập thói nghiện. Hợp tác khó thành hoặc thua tiền. Về già buồn phiền, tự thương xót.
Phu Thê hóa với tam phương Giao Hữu
Hôn nhân ở giữa nhà và đời: nó vừa nhìn vào người trong cuộc, vừa nhìn ra bạn bè, cha mẹ và con.
Phu Thê với Giao Hữu
Phu Thê phi Lộc nhập Giao Hữu: nhiều bạn khác phái, sau cưới quan hệ xã hội lại thêm. Bạn đời nhân duyên tốt, sáng suốt. Đi có đôi có cặp, chỉ muốn làm uyên ương. Được mọi người chúc phúc, hôn nhân hạnh phúc. Phòng sau cưới xảy ra đào hoa. Giao Hữu phi Lộc nhập Phu Thê: bạn đời dễ mập. Sau cưới ngược lại nhiều bạn. Bạn bè hôn nhân phần nhiều mỹ mãn, hoặc bạn bè đa tình. Phòng bạn đời đa tình.
Phu Thê phi Quyền nhập Giao Hữu: thể diện hôn nhân. Bạn đời can thiệp, sàng lọc bạn của ta, chiếm quyền, hoặc bận rộn giúp người ngoài. Sau cưới bạn bè thành tựu qua lại nhiều. Giao Hữu phi Quyền nhập Phu Thê: bạn đời thích vận động. Bạn bè nhiều thành tựu, Quyền chiếu Sự Nghiệp, thêm thể diện cho hôn nhân.
Khoa: Phu Thê phi Khoa nhập Giao Hữu thì phòng sau cưới mới biết bạn đời là bạn ngoài; coi trọng cảm giác hôn nhân. Giao Hữu phi Khoa nhập Phu Thê thì tình cảm chậm rãi, tinh tế, lãng mạn, thần giao cách cảm.
Phu Thê phi Kỵ nhập Giao Hữu: bạn đời tiếc tình trọng nghĩa, cánh tay vươn ra ngoài. Phòng cuộc sống hôn nhân cứng nhắc. Bạn đời can thiệp quan hệ của ta, sau cưới ít dần bạn. Giao Hữu phi Kỵ nhập Phu Thê: bạn đời thân thể gầy yếu, phòng hôn nhân ngày càng nhàm chán. Phòng người thứ ba xen vào, hôn nhân có phần lo lắng.
Phu Thê với Phụ Mẫu
Phu Thê phi Lộc nhập Phụ Mẫu: bạn đời hợp duyên với bề trên, cha mẹ vui. Tình cảm vui sướng, hôn kỳ gần hỷ. Hôn nhân danh chính ngôn thuận. Ít vấn đề mẹ chồng con dâu, sau cưới có thể ở cùng. Sau cưới vẫn có duyên học tập. Phụ Mẫu phi Lộc nhập Phu Thê: hôn nhân của trưởng bối hòa hợp, cha mẹ nhìn hôn nhân sáng suốt. Sau cưới có thể ở cùng bề trên. Trưởng bối thúc đẩy hôn nhân, nhà bên ngoại thương yêu.
Phu Thê phi Quyền nhập Phụ Mẫu: cách cục kém thì phòng bạn đời hỗn láo với cha mẹ; cách cục đẹp thì bạn đời thích học, kiến thức rộng. Công chứng kết hôn. Sau cưới thường sống riêng. Phụ Mẫu phi Quyền nhập Phu Thê: cha mẹ điều khiển hôn nhân của ta. Bên ngoại thành tựu, giúp ta vì Quyền chiếu Sự Nghiệp.
Khoa: bạn đời văn chất thanh tú; trưởng bối giới thiệu hôn nhân; ở riêng mà danh phận không ngoại lệ.
Phu Thê phi Kỵ nhập Phụ Mẫu: ở chung mà vô danh phận. Phòng ly dị, danh phận biến mất. Vợ chồng khác hộ tịch. Phòng hôn nhân bị trách cứ ra mặt. Bạn đời lo việc nhà cha mẹ quá mức. Cách cục tốt thì bạn đời hiếu thuận, hoặc vui giận hiện ra mặt. Phụ Mẫu phi Kỵ nhập Phu Thê: trưởng bối phiền não vì hôn nhân của ta, cha mẹ bên ngoại quan tâm đến mức liên lụy, thậm chí phản đối. Quan hệ hôn nhân bất thường, bất chính. Cung Phụ Mẫu là cung chuẩn mực đạo đức xã hội.
Phu Thê với Tử Nữ
Phu Thê phi Lộc nhập Tử Nữ: bạn đời với trẻ nhỏ có thể thành một mảnh. Bạn đời thích trẻ con, có khả năng kết hôn nhanh. Chị em dâu dễ ở chung. Dễ ngoại tình nếu có sao đào hoa. Tử Nữ phi Lộc nhập Phu Thê: có thai mà cưới. Chăn gối mỹ mãn. Họ hàng hoặc anh em giúp xúc tiến hôn nhân. Hợp tác kiếm tiền.
Quyền: Phu Thê phi Quyền nhập Tử Nữ thì bạn đời dạy con nghiêm khắc. Tử Nữ phi Quyền nhập Phu Thê thì có bầu trước khi cưới, con có thành tựu tốt. Khoa: họ hàng mai mối hôn nhân; bạn đời dạy con có cách; dễ có hai lần hôn nhân hoặc đào hoa, còn qua lại liên lạc với người cũ; tái hôn nhưng vẫn qua lại với người trước.
Phu Thê phi Kỵ nhập Tử Nữ: bạn đời yêu con. Phòng hôn nhân có khoảng cách hoặc ngoại tình, dễ phá hôn nhân vì xung Điền Trạch. Tử Nữ phi Kỵ nhập Phu Thê: ăn cơm trước kẻng. Con thích bám bạn đời. Con không nhiều, phòng liên lụy vì xung Sự Nghiệp. Con cảm tình cố chấp. Phòng đào hoa chiếm tổ. Hợp tác khó thành hoặc duyên ngắn.
Thiên Di hóa với tam phương Giao Hữu
Dáng đứng bên ngoài và những người xung quanh tạo thành một tấm gương hai mặt.
Thiên Di với Giao Hữu
Thiên Di phi Lộc nhập Giao Hữu: quen biết rộng, giỏi kết bạn, khôn khéo linh hoạt. Thân thiện, không câu nệ, già trẻ đều thích, có sức hút với đám đông. Khắp nơi kết bạn, giỏi mượn lực, nhiều ân tình. Phòng đạo đức giả, a dua nịnh nọt. Hợp chính trị khi có Thái Dương, nghệ thuật khi có Tham Lang, Liêm Trinh, hợp nghề giao tiếp được hoan nghênh. Giao Hữu phi Lộc nhập Thiên Di: náo nhiệt, xã giao uyển chuyển. Phần nhiều kết bạn vinh hiển, có tiền. Quan hệ xã hội và nhân khí tốt. Phòng người nịnh bợ, dối trá bề ngoài; phòng bản thân ngoài đẹp trong hư. Bạn đời dễ ở chung.
Thiên Di phi Quyền nhập Giao Hữu: cách cục tốt thì xã giao tốt, là nguồn năng lượng hoạt động. Tích cực, chủ động, dễ làm náo động. Cách cục không tốt thì khoe khoang, tự cao, hay chiếm thượng phong, dễ gây chuyện; phòng hư vinh, ngạo mạn. Hợp việc sáng ý, lãnh đạo xu hướng. Dễ xu nịnh theo thời, kết giao quyền quý. Phòng lãng phí, chỗ ăn chơi làm ảnh hưởng thanh danh. Giao Hữu phi Quyền nhập Thiên Di: phần nhiều bạn hữu có thân phận, địa vị, thành công. Hay lui tới nhân vật nổi tiếng giới chính thương. Cẩn thận thổi phồng, hù dọa người. Phòng không lượng sức, có thể diện mà không có lý lẽ, nịnh hót tiếp tay cho giặc. Bạn đời ngay thẳng, rộng rãi, dứt khoát.
Khoa: Thiên Di phi Khoa nhập Giao Hữu thì hình ảnh bên ngoài tốt, danh tiếng tốt; phòng mua danh trục lợi, giả nhân giả nghĩa; bạn lâu mất liên lạc vẫn cùng hướng. Giao Hữu phi Khoa nhập Thiên Di thì qua lại với văn sĩ, tiếp đón phong nhã; bạn đời cử chỉ ưu nhã.
Thiên Di phi Kỵ nhập Giao Hữu: không thích náo nhiệt, không thích kết bạn, không giỏi giao tiếp. Sống độc lập, hưởng thanh tĩnh, còn phòng đố thế kỵ tục. Giao Hữu phi Kỵ nhập Thiên Di: không giỏi tiếp đón, ít bằng hữu. Tri kỷ ở phương xa. Phần nhiều trực tính, kết bạn với chính nhân quân tử. Bạn đời cá tính hấp tấp. Không lợi cho cạnh tranh, thi cử, tuyển cử, thăng chức.
Thiên Di với Phụ Mẫu
Thiên Di phi Lộc nhập Phụ Mẫu: bên ngoài duyên tốt, học tập lâu dài, tiếp thu mau, phản ứng khéo. Kiến thức rộng, không câu nệ, xử lý hài hòa. Dễ quen biết bề trên, người thượng tầng. Phòng xu nịnh, khen dối, hào nhoáng bề ngoài. Thi cử tốt, vận may nhiều. Căn khí cao, trí tuệ viên dung với người có sao tông giáo. Phụ Mẫu phi Lộc nhập Thiên Di: cha mẹ duyên tốt bên ngoài, sáng suốt, kiến thức lớn, là nguồn lực xã hội của ta. Dễ quen biết trưởng giả, qua lại với người có tiền một cách có phương pháp. Giỏi tu dưỡng, khẩu đức tốt, hình ảnh tốt, kính trên nhường dưới. Nhà vợ hoặc nhà chồng vinh. Học tập, kinh lịch tốt, dễ chức cao lương cao. Lợi đọc sách, thi cử, công chức.
Thiên Di phi Quyền nhập Phụ Mẫu: học nhanh, phản ứng tốt, kiến thức rộng. Hợp học tại chức. Vận thi cử tốt. Giỏi làm quen, dựa thế, quan hệ thượng tầng tốt. Phòng nịnh nọt, ỷ thế ngạo mạn, tiếp tay cho giặc. Phụ Mẫu phi Quyền nhập Thiên Di: cha mẹ thành tựu tốt, địa vị cao, là nguồn lực xã hội của ta. Lợi đọc sách, thi, công chức, lên chức. Dễ được cấp trên đề bạt, chức cao lương cao. Nhà vợ hoặc chồng vinh quang.
Khoa: Thiên Di phi Khoa nhập Phụ Mẫu thì sống đến già học đến già; phòng kiểu cách, mua danh. Phụ Mẫu phi Khoa nhập Thiên Di thì tu dưỡng càng ngày càng tăng, đoan trang phác thực, hình ảnh và danh tiếng tốt.
Thiên Di phi Kỵ nhập Phụ Mẫu: kiến thức nông cạn, hoặc cá tính thẹn thùng, khép kín. Không giỏi kết giao, lạnh lùng cô độc, quan hệ xã hội kém. Hoặc đối nhân xử thế phản ứng kém, bảo sao nghe vậy, dễ hùa theo, đoán mò. Mệnh kém hoặc hành động quái gở, hàm dưỡng chưa đủ, không chịu dạy. Xuất ngoại phòng giấy tờ, bất ngờ, giấy phạt. Phụ Mẫu phi Kỵ nhập Thiên Di: cha mẹ thật thà, địa vị không cao, nên chỗ dựa xã hội của ta hơi kém. Học vấn hay lịch luyện không tốt, năng lực diễn đạt kém. Phòng thói xấu, mở miệng chửi bậy. Bất lợi đọc sách, thi cử, cứ kỳ thi quan trọng là gặp vấn đề. Gia đình bên ngoại không vượng.
Thiên Di với Tử Nữ
Thiên Di phi Lộc nhập Tử Nữ: trước mặt tiểu bối hình ảnh tốt, tương tác tốt. Ra ngoài nhiều, ở nhà ít. Vận dụng nguồn lực xã hội che chở con cái. Về già có phúc, không cô tịch, con cháu làm bạn. Phòng diễm phúc bất ngờ nếu có sao đào hoa. Có thiện căn, thiên duyên nếu có sao tông giáo. Tử Nữ phi Lộc nhập Thiên Di: con bên ngoài duyên tốt, dạy dỗ thành công, được hoan nghênh. Con gái nhiều tiền đồ. Con thuận toại, không cần quá bận tâm. Thuộc hạ tư chất tốt. Hợp tác duyên vượng.
Quyền: Thiên Di phi Quyền nhập Tử Nữ thì tự thân dạy con, giỏi dùng nguồn lực xã hội thành tựu con, mong con thành rồng. Tử Nữ phi Quyền nhập Thiên Di thì con có người năng lực mạnh, độc lập, có tiền đồ, nhưng phòng thời thanh thiếu niên dạy không tốt; thuộc hạ đắc lực, hùn vốn có thành tựu. Khoa: trước mặt tiểu bối hình ảnh tốt; con văn tú, dạy dỗ tốt, ngoài thích thanh danh.
Thiên Di phi Kỵ nhập Tử Nữ: trước mặt vãn bối hình ảnh không tốt, dạy con không tốt hoặc không quan tâm. Bôn ba dịch mã, chạy ngược chạy xuôi mà ít kết quả. Dễ lạc đường, phòng thương tổn bất ngờ, thị phi tai họa. Tăng tu dưỡng, việc nhỏ ít lý lẽ, không xen vào chuyện người khác. Về già khó vui, phải tự giữ sức khỏe vì Tử Nữ và Phúc Đức cùng một mạch. Tử Nữ phi Kỵ nhập Thiên Di: con ở phương xa, không ở bên người hoặc có như không. Con thật thà hoặc thành tựu kém. Vãn vận hơi kém, nuôi mà không dưỡng lão. Hợp tác khó thành hoặc duyên ngắn. Cách cục xấu phòng ngoại ý, nghiệp lực bệnh.
Nguồn: Lương Nhược Du, Phi Tinh Tử Vi Đẩu Số 12 cung 672 tượng.
