Bài tổng quan
Tam phương Điền Trạch phi hóa vào tam phương Giao Hữu: chín cặp cung
Điền Trạch phi Kỵ nhập Giao Hữu thì nhà ít người ở, trước cửa đìu hiu; Giao Hữu phi Kỵ nhập Điền Trạch thì phải phòng tiểu nhân từng bước thôn tính. Mái nhà có mở cửa được cho người ngoài hay không nằm trong chín cặp cung này…
Mái nhà và cánh cửa mở ra thiên hạ
Tam phương Điền Trạch gồm Điền Trạch, Huynh Đệ, Tật Ách. Tam phương Giao Hữu gồm Giao Hữu, Phụ Mẫu, Tử Nữ. Một bên là cái nền giữ gìn: nhà ở, kho tiền, thân thể; bên kia là những người ta gặp trong đời: bạn, bề trên, con cháu. Chúng đối cung nhau, nên khi hai nhóm này phi hóa cho nhau thì kết quả thường nói về chuyện nhà có mở cửa được cho người ngoài hay không, và người ngoài có mang gì vào nhà.
Cần nhớ một điều: tam phương Điền Trạch không chỉ chứa tài sản ở ngoài, nó còn đại biểu cho đời sống vật chất và hoàn cảnh sống. Vì vậy câu "nhà ở gần chợ đêm" hay "trước cửa đìu hiu" ở dưới đây đều là cách đọc hoàn cảnh, không chỉ là nói chuyện phong thủy.
Điền Trạch hóa với tam phương Giao Hữu
Căn nhà có đông người ra vào hay vắng vẻ, ấy là cái nhìn đầu tiên về nhân khí của gia đình.
Điền Trạch với Giao Hữu
Điền Trạch phi Lộc nhập Giao Hữu: gia đình chi tiêu có năng lực. Nhân khí gia tộc vượng, quan hệ tốt, thân hữu hay lui tới. Nhà gần trạm xe, chợ đêm, nơi đông người. Hợp nghề cà phê, nghệ thuật uống trà, nghề nhàn. Láng giềng hòa thuận, gia sản nhiều. Giao Hữu phi Lộc nhập Điền Trạch: nhân khí gia đình vượng, khách khứa tốt. Thân bằng, hàng xóm vui vẻ. Kết giao nhiều nhà giàu, hoặc có nhà giàu sát vách. Lợi hợp tác, cùng kinh doanh. Hợp ăn uống, quán cơm, nhà trọ, cà phê, uống trà, nghề nhàn, bất động sản.
Điền Trạch phi Quyền nhập Giao Hữu: kinh tế tốt mà chi nhiều. Nhân khí gia tộc mạnh, quan hệ chính thương tốt. Gia sản nhiều, hợp bán sỉ, bán buôn. Giao Hữu phi Quyền nhập Điền Trạch: qua lại nhiều bạn có tài lực. Người xung quanh thành tựu cho ta tài sản, lợi hợp tác. Ở cạnh người giàu. Hợp làm bất động sản.
Khoa: Điền Trạch phi Khoa nhập Giao Hữu thì gia đình danh tiếng tốt, qua lại nâng đỡ nhau. Giao Hữu phi Khoa nhập Điền Trạch thì nhà có nhiều sĩ thân, thư hương lui tới.
Điền Trạch phi Kỵ nhập Giao Hữu: phòng thối tài, bại sản, phá tán. Thu không đủ chi, kinh tế nguy cơ, cuộc sống phập phồng. Chỗ ở ít người ở. Nhân khí gia đình không vượng, phòng người thân không thật, láng giềng không thuận, trước cửa đìu hiu xe ngựa. Giao Hữu phi Kỵ nhập Điền Trạch: phòng bạn làm hao tổn tiền của, tiểu nhân từng bước xâm chiếm, thôn tính. Kiểm điểm môn hộ, đề phòng trộm cướp, kẻ xấu rình mò. Cẩn thận hàng xóm ác, thị phi lọt vào nhà. Nên làm nghề nhàn, cà phê, uống trà, thực phẩm, tạp hóa, bán lẻ, đồ tiêu dùng hàng ngày.
Điền Trạch với Phụ Mẫu
Điền Trạch phi Lộc nhập Phụ Mẫu: nề nếp gia phong tốt. An gia định trạch, hiếu dưỡng cha mẹ. Gia vận tốt, có khả năng đổi nhà, và sẽ ở nhà đẹp, vì Phụ Mẫu là cung hình dáng bên ngoài. Họ hàng lui tới phần nhiều lễ độ hòa nhã, nhiều người có tri thức hoặc giữ chức vụ. Hợp nghề dưỡng lão, phụng dưỡng người già. Phụ Mẫu phi Lộc nhập Điền Trạch: cha mẹ sống dễ chịu, kinh tế ổn. Cha mẹ sáng suốt, hòa thuận. Cha mẹ thích gặp họ hàng, bậc trưởng bối trong tông môn hay lui tới. Trưởng bối giúp tạo tài sản, giúp ta mưu sinh. Vay tiền tạo tài sản. Gia tộc từng có người học cao. Hai nhà thông gia lui tới nhiều.
Điền Trạch phi Quyền nhập Phụ Mẫu: nhà ở ngoài khí phái, đáng tiền. Trong tông môn nhiều người đi học hoặc giữ chức cao. Cha mẹ đức cao vọng trọng trong gia tộc. Còn phòng gia tộc quá khắt khe. Phụ Mẫu phi Quyền nhập Điền Trạch: gia giáo của trưởng bối quá nghiêm. Cha mẹ tài sản thịnh, thành tựu tốt, có trọng lượng trong gia tộc. Trưởng bối thành tựu cho ta tài sản. Vay tiền tạo tài sản. Gia tộc từng có người làm quan. Nhà bên ngoại tốt.
Khoa: Điền Trạch phi Khoa nhập Phụ Mẫu thì nhà yên tĩnh, thư hương, mát mẻ, môn đệ danh tiếng tốt, tông thân nhiều nhã sĩ. Phụ Mẫu phi Khoa nhập Điền Trạch thì quanh nhà có không khí thư hương, trong nhà ít cãi vã to tiếng.
Điền Trạch phi Kỵ nhập Phụ Mẫu: phần nhiều chuyển nhà, rời nghiệp, bất ổn, thối tài. Kinh tế không yên, chi quá mức hoặc thu không đủ chi. Ở với trưởng bối khó lâu, ít khi phụng dưỡng được cha mẹ, hoặc gia đình làm trưởng bối bận tâm. Cuộc sống phập phồng. Thiếu tiền vay ngân hàng. Chỗ ở không phải địa chỉ hộ tịch, tức ở trọ. Không hợp đứng tên bất động sản. Phòng vỡ nợ, không đứng ra vay bảo đảm. Môn đệ danh tiếng kém, trước cửa đìu hiu. Phụ Mẫu phi Kỵ nhập Điền Trạch: cha mẹ kiệm ước lo việc nhà. Trưởng bối khiến ta bận tâm. Phải tận hiếu, nuôi dưỡng. Có vay tiền ngân hàng. Cách cục kém thì tông môn suy đồi, nhà cửa dột nát. Bên ngoại sống kiệm ước.
Điền Trạch với Tử Nữ
Điền Trạch phi Lộc nhập Tử Nữ: tài sản che chở con cháu, tổ nghiệp truyền lại. Dễ mua bán bất động sản. Phần nhiều ở trọ bên ngoài, đổi nhà. Nhà lớn. Hợp việc dạy dỗ trẻ con. Tử Nữ phi Lộc nhập Điền Trạch: con cái ấm gia, kinh tế thành công, tạo tài sản. Sinh nhiều con, sống chung hòa hợp, cả cha lẫn con đều vui. Phòng đào hoa nếu có sao đào hoa. Họ hàng lui tới nhiều. Hợp nghề giữ trẻ.
Quyền: Điền Trạch phi Quyền nhập Tử Nữ thì tài phú thành tựu cho con cháu, gia đình coi trọng dạy dỗ, tổ nghiệp thành tựu hậu bối, nhà rộng lớn. Tử Nữ phi Quyền nhập Điền Trạch thì con có tài năng, có thể mở rộng sản nghiệp, rạng danh tông tổ; con cái nắm quyền trong nhà, còn phòng tranh giành không thuận hòa. Khoa: gia đình thư hương, trẻ nhu thuận văn nhã, cách dạy dân chủ, sản nghiệp truyền cho con không nhiều; trẻ tú tuệ, khôn khéo, ít mang phiền toái vào nhà.
Điền Trạch phi Kỵ nhập Tử Nữ: con phải chia sẻ gia kế, cha nợ con trả. Ta ở nhà không sống được. Ít dạy dỗ con hoặc không chú trọng. Phòng dọn nhà, rời nghiệp, thối tài, phá kho; kinh tế nguy cơ. Gia đình ly tâm, tông thân phân ly. Tử Nữ phi Kỵ nhập Điền Trạch: con tính độc lập tốt, cần kiệm giữ nhà, tách môn hộ. Cách cục không đẹp thì phòng con tư tâm, nội đấu, so đo; hoặc con ngấp nghé sản nghiệp, bên ngoài kẻ gian dòm ngó, tai họa vào nhà.
Huynh Đệ hóa với tam phương Giao Hữu
Kho tiền của mình đối chiếu với cánh cửa mở ra thiên hạ, cho thấy ta đang giữ hay đang rộng tay.
Huynh Đệ với Giao Hữu
Huynh Đệ phi Lộc nhập Giao Hữu: anh em có người nhân duyên tốt, giỏi kết duyên, phần nhiều qua lại giao dịch. Kinh tế tốt, bình thường chi nhiều. Hợp buôn bán, kinh doanh thời thượng, bán sỉ, bán buôn. Giao Hữu phi Lộc nhập Huynh Đệ: không tịch mịch, bên cạnh có nhiều bạn, không phải ai cũng quen thuộc. Gần xa lui tới, hợp quản lý quán trọ, du lịch, nghề nhàn. Tám phương tiền tới, hợp cà phê, ăn uống. Bạn đời thể chất tốt.
Huynh Đệ phi Quyền nhập Giao Hữu: giỏi nắm chắc, sáng tạo cơ hội làm ăn. Năng lực kinh tế tốt, chi tiêu lớn, phòng chiêu họa. Anh em có người mạnh. Có thể bán sỉ, bán buôn, dẫn đầu xu hướng, thời trang. Giao Hữu phi Quyền nhập Huynh Đệ: bên cạnh nhiều bạn thành công, bạn giúp ta kiếm tiền. Bốn phương vượng tài, có thể làm hàng tinh phẩm giá trị cao. Bạn đời thể chất cường.
Khoa: Huynh Đệ phi Khoa nhập Giao Hữu thì thu chi cân bằng, liệu cơm gắp mắm. Giao Hữu phi Khoa nhập Huynh Đệ thì từng giọt tích lại cũng không vô ích.
Huynh Đệ phi Kỵ nhập Giao Hữu: thối tài, thu không đủ dùng, không giỏi quản lý tài sản. Cách cục kém thì phòng nợ nần mệt mỏi, cuộc sống phập phồng. Cho người khác mượn tiền khó thu về. Sức khỏe sụt giảm, nên dưỡng sinh, vận động. Giao Hữu phi Kỵ nhập Huynh Đệ: bạn tư chất kém thì phòng bạn bè dây dưa nhiều hao tổn. Giao du không phòng vệ, tiểu nhân biết rõ tình trạng tài chính của ta. Bạn bè có người kinh tế căng thẳng, cẩn thận bị kéo vào mệt mỏi. Kiểm điểm kế toán, phòng dẫn sói vào nhà, tiểu nhân bên cạnh.
Huynh Đệ với Phụ Mẫu
Huynh Đệ phi Lộc nhập Phụ Mẫu: anh em biết lấy lòng, trưởng bối hân hoan. Anh em bạn bè cung kính nhưng chỉ ở bên ngoài. Anh em có người học tập tốt. Kinh tế bản thân dư giả, chữ tín tốt. Thể chất tốt, thần thanh khí sảng. Phụ Mẫu phi Lộc nhập Huynh Đệ: trưởng bối kinh tế tốt, sức khỏe tốt. Bạn của cha chú lui tới nhiều. Cha mẹ thân cận anh em ta. Giao dịch ngân hàng nhiều, chữ tín tốt. Bên ngoại kinh tế tốt. Lợi đọc sách, thi cử.
Huynh Đệ phi Quyền nhập Phụ Mẫu: anh em có người vô lễ, ngạo mạn; cách cục tốt thì có người học giỏi. Bản thân ta kinh tế tốt, chi tiêu căn chỉnh, chữ tín tốt. Phụ Mẫu phi Quyền nhập Huynh Đệ: cha mẹ thành tựu cao, kinh tế tốt, quản thúc anh em. Chữ tín tốt, vay được khoản lớn hoặc trưởng bối giúp đỡ. Lợi đọc sách, khảo thí.
Khoa: Huynh Đệ phi Khoa nhập Phụ Mẫu thì quản lý tài sản có ghi chép, thu chi có căn cơ, hợp trả tiền theo kỳ hạn. Phụ Mẫu phi Khoa nhập Huynh Đệ thì ít qua lại với người có tiền; cho vay thường cho nhiều và thu lại từng phần nhỏ.
Huynh Đệ phi Kỵ nhập Phụ Mẫu: anh em hiếu thuận hoặc vui giận hiện ra mặt. Bản thân chi tiêu nhiều, không giỏi quản lý, phòng thu không đủ chi, nợ nần, cuộc sống phập phồng. Chơi hụi, vay tiền chịu áp lực. Cho vay khó đòi. Phụ Mẫu phi Kỵ nhập Huynh Đệ: cha mẹ thương anh em ta, lo lắng cho ta. Cha mẹ sống kiệm ước, an định. Ta có vay ngân hàng. Phòng vỡ nợ, không nên đứng ra bảo lãnh vì Phụ Mẫu là cung văn thư. Bên ngoại kinh tế không tốt.
Huynh Đệ với Tử Nữ
Huynh Đệ phi Lộc nhập Tử Nữ: anh em thích trẻ con. Ta kinh tế tốt, chi nhiều, ít quan niệm quản lý. Cho trẻ nhiều tiền tiêu vặt. Sức khỏe tốt, cuộc sống mỹ mãn. Trẻ thích chạy ra ngoài. Có cơ hội hợp tác, chưa chắc là cát. Tử Nữ phi Lộc nhập Huynh Đệ: trẻ thân cận anh em ta, thu nhập nhiều, kinh tế tốt, thể chất tốt. Hợp tác kiếm tiền.
Quyền: Huynh Đệ phi Quyền nhập Tử Nữ thì anh em dạy con nghiêm, kinh tế ta tốt, chi mạnh, tiền thành tựu cho con, trẻ tiêu rất khẳng khái; hợp tác thành tựu. Tử Nữ phi Quyền nhập Huynh Đệ thì trẻ có tiền đồ, lớn lên giúp ta kinh tế, thể chất tốt; chuyện chăn gối nên tiết chế, kẻo đèn cạn dầu. Khoa: quản lý tài sản có thu chi, chuyện chăn gối trọng điều chế; chuyện chăn gối nhiều thú vị.
Huynh Đệ phi Kỵ nhập Tử Nữ: anh em mỗi người một môn hộ. Kho rò rỉ, khó giữ tiền, không giỏi quản lý, phòng nợ nần, phập phồng. Sức khỏe xuống dốc, phòng đèn cạn dầu. Phòng trẻ ở nhà khó sống. Tử Nữ phi Kỵ nhập Huynh Đệ: trẻ kiệm ước, thủ thành, công việc ổn định. Chuyện phòng the không vui, như họa mi không hót.
Tật Ách hóa với tam phương Giao Hữu
Thân thể và tâm tình cũng là một cánh cửa: ta tiếp người ra sao thì thân ta hiện ra như vậy.
Tật Ách với Giao Hữu
Tật Ách phi Lộc nhập Giao Hữu: sức khỏe trong sáng, dễ ở chung, ngôn ngữ cơ thể thân thiết, ôn hòa, có sức hút. Với khác phái phòng quấn quýt mà thương tổn, nếu có sao đào hoa. Mặt tiền nhiều người qua lại, hợp bán buôn, quán ăn, trà, ẩm thực. Giao Hữu phi Lộc nhập Tật Ách: dễ kết thân, dễ ở chung, nhiều nhân duyên. Dễ lui tới bạn ôn hòa. Hợp quần áo trang sức, cà phê tinh phẩm, nghệ thuật uống trà, ẩm thực, nghề nhàn.
Quyền: Tật Ách phi Quyền nhập Giao Hữu thì sức khỏe tốt, sống chung chủ động, rộng rãi, có thể bán sỉ, bán buôn. Giao Hữu phi Quyền nhập Tật Ách thì đối phương chủ động, rộng rãi, dễ gần bạn hiếu động. Khoa: sống chung lịch sự, kín đáo; như gần như xa, một mối tình thầm kín.
Tật Ách phi Kỵ nhập Giao Hữu: sống chung không thích vui vẻ kết thân, cũng không thích bằng hữu lâu dài. Cẩn thận sức khỏe tụt dốc. Phòng vợ chồng đồng sàng dị mộng, nên phân giường, chia phòng. Có thói xấu khiến người khác không vui. Giao Hữu phi Kỵ nhập Tật Ách: bạn đời kiểu theo đuôi. Sợ tịch mịch, không chọn lựa bạn bè. Phòng kết bè kết đảng, tiểu nhân dây dưa: lúc đầu tình bạn ngọt như mật, sau cây đổ chồn cáo đều tan, vì xung Phụ Mẫu nên ít nhân nghĩa. Cung Phụ Mẫu là cung chuẩn mực đạo đức xã hội; người xung Giao Hữu tam phương thì ít nhân nghĩa, đạo đức.
Tật Ách với Phụ Mẫu
Tật Ách phi Lộc nhập Phụ Mẫu: tính khí tốt, tâm tình vui. Ôn hòa, nói hay, hài hước. Gần bậc trưởng giả; phòng nịnh bợ. Phụ Mẫu phi Lộc nhập Tật Ách: cha mẹ thích tự tại. Trưởng bối duyên tốt, dễ sống chung. Tu dưỡng tốt, tâm cảnh buông hạ, ung dung.
Tật Ách phi Quyền nhập Phụ Mẫu: cử chỉ thô lỗ, ngạo mạn, dễ xung động; thêm Kỵ thì không kín miệng, nói gở. Nên đọc sách thánh hiền để nói thẳng có nghĩa, hoặc được đào tạo chuyên môn thì biện thuyết thao thao. Phụ Mẫu phi Quyền nhập Tật Ách: cha mẹ sức khỏe tốt, hay vận động. Ta kháng áp cao, ý chí rất mạnh. Đọc sách thánh hiền, quy tắc rõ ràng.
Khoa: văn nhã, lễ độ, cử chỉ ôn hòa; tu dưỡng tốt, tâm cảnh thản nhiên.
Tật Ách phi Kỵ nhập Phụ Mẫu: trực tính, vui giận lộ ra mặt, thêm Quyền thì xung động dễ giận. Miệng ác mà lòng không ác, thiếu chịu đựng, thiếu kiên nhẫn, cuộc sống phập phồng. Cách cục kém thì khi bệnh phát, thuốc hết công hiệu hoặc chết rất nhanh, thường bị tàn phế. Phụ Mẫu phi Kỵ nhập Tật Ách: không thích đọc sách, ghét lễ nghi phiền phức, nhưng lại thích tuân quy củ. Cha mẹ lúc nào cũng cấp bách, lắm lời, cá tính lao lực.
Tật Ách với Tử Nữ
Tật Ách phi Lộc nhập Tử Nữ: thân cận trẻ con, hòa nhã nhẫn nại với trẻ nhỏ. Đa dục nếu có sao đào hoa, thích đi dạo bên ngoài. Tử Nữ phi Lộc nhập Tật Ách: trẻ duyên tốt, gần gũi ta. Có trẻ nhõng nhẽo, con cái bị động, lệ thuộc. Dễ thành đào hoa.
Quyền: Tật Ách phi Quyền nhập Tử Nữ thì hiếu động, thiếu kiên nhẫn, thích lưu đáp; sức khỏe, năng lực chăn gối mạnh; dạy trẻ thô bạo. Tử Nữ phi Quyền nhập Tật Ách thì trẻ hiếu động, dễ ngã đụng; con khỏe; chuyện chăn gối nên tiết chế, kẻo đèn cạn dầu. Khoa: là tấm gương tốt, với trẻ như gần như xa, nói nhỏ nhẹ hòa nhã; trẻ thư sinh, dạy dỗ tốt, có quy củ.
Tật Ách phi Kỵ nhập Tử Nữ: là tấm gương không tốt hoặc không thích trẻ con dây dưa. Không kiên nhẫn, thích đi dạo bộ. Cá tính không ổn định, cuộc sống phập phồng. Chuyện phòng the công thức hóa, thiếu gợi cảm. Phòng suy sớm, vận hạn kém dễ tử vong. Tử Nữ phi Kỵ nhập Tật Ách: trẻ dây dưa, bám lấy ta. Trẻ nhỏ thì yếu, thiếu kiên nhẫn nhưng lớn lên độc lập, có sức chịu đựng. Ta không có phúc về chuyện chăn gối. Phòng ngoại ý, nghiệp lực bệnh nếu từ song Kỵ trở lên. Hợp tác mệt người hoặc không như ý.
Nguồn: Lương Nhược Du, Phi Tinh Tử Vi Đẩu Số 12 cung 672 tượng.
