Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Tử Vi Thất Sát ở Tị Hợi và Liêm Trinh Phá Quân ở Mão Dậu

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái21/09/202622 phút đọc4 lượt đọc
Tử Vi Thất Sát ở Tị Hợi và Liêm Trinh Phá Quân ở Mão Dậu

Một tinh hệ đã sẵn quyền lực trong mình, chỉ thêm một sao quyền nữa là uy nghiêm hóa thành ngang ngược. Một tinh hệ khác cả đời gắn với chức trách, nên chỉ cần hỏi người ấy làm vì việc chung hay vì mình là biết cả vận trình.


MỞ ĐẦU MỤC TỬ VI Ở TỊ HỢI LÀ HAI TỔ HỢP SAO MẠNH NHẤT CỦA TOÀN BỘ SÁU MƯƠI TINH HỆ, VÀ CŨNG LÀ HAI TỔ HỢP DỄ TRẬT ĐƯỜNG NHẤT. "Tử Vi, Thất Sát" ở Tị Hợi vốn đã mang sẵn quyền lực, chỉ cần thêm một sao quyền nữa là uy nghiêm hóa thành ngang ngược. "Liêm Trinh, Phá Quân" ở Mão Dậu thì cả đời gắn với chức trách, làm việc cho người khác, nên ranh giới của nó nằm ở chỗ làm vì việc chung hay vì mình.

"Tử Vi, Thất Sát" ở hai cung Tị hoặc Hợi

"Tử Vi, Thất Sát" đồng độ ở hai cung Tị hoặc Hợi, đối cung là Thiên Phủ, cung tam hợp là "Vũ Khúc, Tham Lang" và "Liêm Trinh, Phá Quân". Nhóm tinh hệ này có kết cấu thuần túy vật chất, các sao hội hợp mạnh mẽ, do đó thường thường cát hung chỉ cách nhau một đường ranh.

Muốn luận đoán tính chất của "Tử Vi, Thất Sát" ở hai cung này, cần phải phân biệt tính chất cực đoan của chúng, là thuộc loại "quyền uy" hay "hoành hành bá đạo". Trường hợp trước phần nhiều phát triển theo chính đạo, trường hợp sau thì dễ đi vào con đường lầm lạc. Nhưng thông thường người "Tử Vi, Thất Sát" thủ mệnh không có tính chất cực đoan mạnh mẽ như vậy, ở đây chỉ là so sánh hai loại khuynh hướng trong tính chất mà thôi.

Quyền uy hay hoành hành bá đạo

Bản thân "Tử Vi, Thất Sát" đã có tính chất quyền lực, vì vậy không nên làm mạnh thêm tính chất quyền lực của nó, nếu không sẽ dễ biến thành "hoành hành bá đạo". Lúc Tử Vi Hóa Quyền, cần phải có Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt hội hợp mới có thể tiêu trừ khí "hoành hành bá đạo"; lại không có các sao sát, hình tụ hội, thì đây là "Tử Vi, Thất Sát" thuộc loại "quyền uy". Nếu Tử Vi không Hóa Quyền mà có các sao phụ, tá cát hội hợp, dù gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh cũng không thành "hoành hành bá đạo", mà chủ về "quyền uy". Nhưng nếu không có các sao phụ, tá hội hợp thì tuyệt đối không nên gặp sát tinh: gặp "Hỏa Tinh, Đà La" hoặc "Kình Dương, Linh Tinh" đồng độ hay hội chiếu, thì "Tử Vi, Thất Sát" sẽ biến thành "hoành hành bá đạo", đời người cũng gặp nhiều trắc trở.

Đối cung là Thiên Phủ rất nên là can Canh Hóa Khoa; nếu không có sát tinh cùng bay đến thì có thể giải tính chất "hoành hành bá đạo" của "Tử Vi, Thất Sát". Dù không thể nhuyễn hóa thành "quyền uy", nhưng ít nhiều cũng giảm hung hiểm, cảnh ngộ đời người do đó cũng nhiều thuận lợi hơn.

Cung tam hợp là "Vũ Khúc, Tham Lang", trường hợp Tham Lang Hóa Lộc là tốt nhất, Vũ Khúc Hóa Lộc tốt kế đó; Vũ Khúc Hóa Lộc vẫn khiến "Tử Vi, Thất Sát" gặp nhiều vất vả và khổ lụy, không bằng Tham Lang Hóa Lộc chủ về được hưởng thụ. Cùng một lí, "Liêm Trinh, Phá Quân" cũng ưa Liêm Trinh Hóa Lộc hơn là Phá Quân Hóa Lộc, vì Phá Quân Hóa Lộc còn vất vả hơn cả Vũ Khúc Hóa Lộc.

Bản thân "Tử Vi, Thất Sát" dù không có tính chất "hoành hành bá đạo" cũng không nên hội sao khác Hóa Quyền. Tham Lang Hóa Quyền ảnh hưởng ít hơn Phá Quân Hóa Quyền, vì có Liêm Trinh Hóa Lộc điều hòa nên cũng không xấu mấy; nếu Vũ Khúc Hóa Quyền thì không nên kèm sát tinh, kèm sát tinh sẽ khiến "Tử Vi, Thất Sát" thành "hoành hành bá đạo", dù Thiên Phủ Hóa Khoa cũng khó điều hòa.

Bản thân Tử Vi Hóa Khoa thì chỉ cần có một hai sao phụ, tá cát hội hợp là có tính chất "quyền uy" chứ không phải "hoành hành bá đạo"; các sao hội hợp là "văn tinh" thì lại chủ về phong thái nho nhã. Lúc này gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh cũng hóa thành khí "tường hòa", khiến cách cục "Hỏa Tham", "Linh Tham" mới thành hữu dụng; nếu không, sau khi hoạnh phát sẽ rất dễ bị hoạnh phá. "Tử Vi, Thất Sát" có tính chất "quyền uy" dễ thành công, đời người cũng khá thuận lợi toại ý, dù gặp trắc trở cũng không hung hiểm; nếu thành tính chất "hoành hành bá đạo" thì dễ lên dễ xuống, nạn tai, bệnh tật cũng nhiều.

Các cung hạn của "Tử Vi, Thất Sát"

Cung hạn "Liêm Trinh, Phá Quân" đồng độ thích hợp với "Tử Vi, Thất Sát" có tính chất "quyền uy", mà không thích hợp với loại "hoành hành bá đạo". Loại "quyền uy" đến cung hạn này có chỗ để tạo dựng cơ nghiệp; còn loại "hoành hành bá đạo" đến, dù được cát hóa, ở vận hạn thì bất lợi, ở lưu niên thì lập tức bị trắc trở hoặc phá tán, thất bại. Nhất là lúc hội "Hỏa Tham", "Linh Tham", suy bại thường xảy ra rất nhanh, trong đại vận mười năm có thể xảy ra nhiều sự cố dồn dập.

Nếu gặp các sao sát, kị, hình tụ hợp, hoặc bị Thiên Tướng thuộc loại "Hình kị giáp ấn" xung chiếu, "Tử Vi, Thất Sát" có tính chất "quyền uy" đến cung hạn này chủ về bị áp lực cạnh tranh, lúc này nên xem xét hậu vận để định thời cơ tiến thoái; còn loại "hoành hành bá đạo" đến cung hạn này thì tuyệt đối không nên gây ra thị phi, nếu không ắt sẽ xảy ra sóng gió lớn. Nếu Liêm Trinh Hóa Kị của nguyên cục xung Vũ Khúc Hóa Kị của đại vận, hoặc Vũ Khúc Hóa Kị của nguyên cục xung Tham Lang Hóa Kị của vận hạn, còn xung Liêm Trinh Hóa Kị của lưu niên, lại gặp Kình Dương, Đà La trùng điệp xung hội, còn có Thiên Hình, Đại Hao mà không có sao lộc giải cứu, hoặc sao lộc nhẹ mà sao đào hoa nặng, thì đây là năm có nhiều nguy cơ, thường thường vì thất bại mà có ý niệm coi thường mạng sống, nhất là nữ mệnh.

Cung hạn Thiên Phủ độc tọa mà là "kho lộ", "kho trống", thì bất kể "Tử Vi, Thất Sát" thuộc tính chất nào cũng đều không nên đến; dù là lưu niên phần nhiều cũng bị phá tán, thất bại, loại "hoành hành bá đạo" đến cung hạn này còn chủ về suy sụp nhanh chóng. Nếu Thiên Phủ là "kho đầy", lại không có sát tinh tụ hội, loại "quyền uy" đến mới chủ về bình hòa, thuận lợi toại ý, còn loại "hoành hành bá đạo" đến thì cần phải giữ mình. Thiên Phủ Hóa Khoa, có sao lộc, còn gặp Ân Quang, Thiên Quý, Đài Phụ, Phong Cáo, Tam Thai, Bát Tọa, thì "Tử Vi, Thất Sát" có tính chất "quyền uy" đến cung hạn này sẽ chủ về được vinh dự đặc biệt. Do khí chất không tương thích, nguyên tắc thông thường là khi "Tử Vi, Thất Sát" đến lưu niên Thiên Phủ thủ mệnh thì không nên tiến thủ.

Cung hạn "Thiên Đồng, Thái Âm" đồng độ thông thường là "Tử Vi, Thất Sát" ưa đến. "Tử Vi, Thất Sát" chủ về vất vả, đến cung hạn này thì có thể được yên tịnh, vì vậy được xem là vận trình hưởng thụ của loại "quyền uy"; nhưng Thiên Đồng không nên Hóa Kị, sẽ chủ về muốn yên mà không được yên, thường thường là điểm tượng sức khỏe không tốt, nhất là cần lưu ý bệnh tim mạch. Loại "hoành hành bá đạo" đến đại hạn "Thiên Đồng, Thái Âm" thì gặp nhiều sóng gió nhưng vận thế vẫn tốt, Thiên Đồng cũng không nên Hóa Kị, nếu không cần phải đề phòng bệnh tim mạch và bệnh hệ thần kinh. Thái Âm Hóa Kị ở nguyên cục, nếu xung hội Thiên Cơ Hóa Kị ở đại hạn, đây là cung hạn "Tử Vi, Thất Sát" không ưa đến, chỉ nên ở yên, phòng thủ, không nên hành động; có điều sống ở đời cũng có lúc bị phỉ báng, nói xấu, bêu rếu hay oán trách, hoặc bị người dưới quyền xâm phạm tài vật.

Cung hạn "Vũ Khúc, Tham Lang" đồng độ thích hợp với loại "quyền uy" mà không thích hợp với loại "hoành hành bá đạo". Loại "quyền uy" đến cung hạn này thường thường là vận thế hưng thịnh, được cát hóa và có sao cát hội thì càng tốt, chỉ cần không gặp các sao sát, kị thì làm ăn bình thường; nhưng loại "hoành hành bá đạo" đến cung hạn này, dù là lưu niên, cũng chủ về nhiều cạnh tranh, thị phi, rối rắm, thành cách "Hỏa Tham" cũng phải lo nghĩ, một phen hú vía mới kiếm được tiền. Nếu được cát hóa và có sao cát, loại "quyền uy" đến sẽ phát lâu dài, còn loại "hoành hành bá đạo" thì không được lâu. Nếu Tham Lang Hóa Kị xung khởi Liêm Trinh Hóa Kị, gặp sát tinh hội hợp, cần đặc biệt chú ý vì tửu sắc mà gây ra thị phi.

Cung hạn "Thái Dương, Cự Môn" đồng độ, "Tử Vi, Thất Sát" có tính chất "hoành hành bá đạo" không ưa Thái Dương quá vượng, cho nên đến cung hạn Dần thường dễ chuốc thị phi và gây họa, đến cung hạn Thân thì tốt hơn; đối với loại "quyền uy" thì ngược lại, ưa cung hạn Dần mà không ưa cung hạn Thân, ở cung hạn Dần sẽ phát khá lớn. Nếu cung hạn có các sao sát, kị, hình tụ tập, đối với loại "quyền uy" sẽ chủ về phần nhiều hình khắc lục thân, hợp tác với người khác rất bất lợi; còn đối với loại "hoành hành bá đạo" thì cần phải đề phòng phạm pháp, kiện tụng. Đối với loại "quyền uy", Cự Môn Hóa Lộc là "hiệu lệnh" nên ưa hơn Thái Dương Hóa Lộc; còn đối với loại "hoành hành bá đạo", Thái Dương Hóa Lộc là danh vọng nên ưa hơn Cự Môn Hóa Lộc.

Cung hạn Thiên Tướng độc tọa bị "Hình kị giáp ấn" là vận trình bị áp lực và trắc trở của loại "hoành hành bá đạo"; lúc này rất ngại Phá Quân Hóa Lộc đến xung, chủ về cơ hội nhiều mà trắc trở cũng nhiều, thường thường việc sắp thành lại hỏng. Nhưng loại "quyền uy" mà gặp hạn "Hình kị giáp ấn" thì càng dễ phát đạt, thường thường là vận trình có tính đột phá, ở lưu niên cũng chủ về cát lợi, chỉ vất vả nhiều và có nhiều oán trách mà thôi. Gặp hạn "Tài ấm giáp ấn", loại "hoành hành bá đạo" cần phải an phận giữ mình thì sẽ tiến bộ, nếu vận dụng cơ tâm sẽ chuốc thị phi, thành nhân tố khiến hậu vận phá tán, thất bại. Thiên Tướng có sao lộc mà bị Kình Dương, Đà La giáp cung, nếu không có sao cát phù trợ, "Tử Vi, Thất Sát" đến cung hạn này đều nên tĩnh mà không nên động, động sẽ gây ra tổn thất.

Cung hạn "Thiên Cơ, Thiên Lương" đồng độ cũng có lợi đối với loại "quyền uy" mà bất lợi đối với loại "hoành hành bá đạo", thường thường bất lợi đối với lục thân, đời người cảm thấy cô lập. Cung hạn được cát hóa và có sao cát thì loại "quyền uy" đến sẽ chủ về tự lập, còn loại "hoành hành bá đạo" đến thì có thể đi vào con đường lầm lạc; nếu cung hạn có các sao sát, kị, hình, hao hội hợp, loại "hoành hành bá đạo" đến càng dễ vì cuộc đời chuyển biến mà gặp cảnh khốn khó, lưu lạc, rời xa người thân. Thiên Cơ Hóa Lộc bất lợi hơn đối với loại "hoành hành bá đạo", chủ về dễ thành người hay dùng thủ đoạn bất chính để tranh đoạt; loại "quyền uy" thì ưa Thiên Cơ Hóa Quyền, lại gặp cát tinh thì không có gì bất lợi. Thiên Cơ Hóa Kị thì bất kể thuộc tính chất nào cũng đều không nên đến: đối với loại "quyền uy" có thể xem đây là thời kì tôi luyện bản thân, còn đối với loại "hoành hành bá đạo" thì thường vì ảnh hưởng đến tâm lí, dẫn đến làm càn mà gây ra họa.

Một lá số "Tử Vi, Thất Sát" ở cung giao hữu

Có một lá số "Thiên Đồng, Thái Âm" tọa mệnh ở cung Tí, người sinh năm Nhâm, hội Thiên Lương Hóa Lộc, có Kình Dương đồng độ. Cung giao hữu là "Tử Vi, Thất Sát" mà Tử Vi Hóa Quyền, còn Vũ Khúc Hóa Kị, có Linh Tinh đồng độ, thuộc tính chất "hoành hành bá đạo".

Đến đại vận Ất Tị, cung giao hữu của đại vận mượn "Thiên Cơ, Thiên Lương" của cung Thìn để an sao, mà Thiên Cơ Hóa Lộc và Thiên Lương Hóa Quyền, hội "Thái Dương, Cự Môn" và mượn "Thiên Đồng, Thái Âm", mà Thái Âm Hóa Kị, còn có Đà La của nguyên cục. Trong vận hạn này, mệnh tạo bị chính người do mình nâng đỡ gây lụy, không những xâm phạm tài vật mà còn liên kết hợp tác với người khác, đoạt khách của mệnh tạo. Đây là do cung giao hữu của nguyên cục có khí "hoành hành bá đạo", nên lúc "Tử Vi, Thất Sát" đến cung hạn "Thiên Cơ, Thiên Lương" thì đi vào con đường lầm lạc.

"Liêm Trinh, Phá Quân" ở hai cung Mão hoặc Dậu

Cũng là một tổ hợp cực mạnh, nhưng tinh hệ này lại gắn chặt với chức trách và bổng lộc, nên chỗ phân định của nó không nằm ở quyền lực mà nằm ở động cơ.

"Liêm Trinh, Phá Quân" đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu, đối cung là Thiên Tướng, cung tam hợp là "Tử Vi, Thất Sát" và "Vũ Khúc, Tham Lang"; đây là tổ hợp sao cực kì mạnh mẽ. Hễ "Liêm Trinh, Phá Quân" thủ mệnh thì rất thích hợp làm công chức, lấy làm việc cho người khác làm tính chất, lấy khai sáng làm chức trách. Cho nên muốn phân biệt tính chất của tinh hệ này, nên chú ý xem chúng thiên về "việc công" hay thiên về "tư lợi".

Việc công hay tư lợi

Liêm Trinh Hóa Lộc là lí tưởng cao, có chính kiến; Liêm Trinh Hóa Kị thì thuần vì tư lợi. Cho nên "Liêm Trinh, Phá Quân" thủ mệnh mà Liêm Trinh Hóa Kị, phần nhiều chủ về hoạnh phát hoạnh phá, tức là do tính tư lợi gây ra. Phá Quân Hóa Lộc không bằng Liêm Trinh Hóa Lộc, vì Phá Quân Hóa Lộc thường thường chủ về vất vả, người có chức quyền càng vào sinh ra tử; còn Liêm Trinh Hóa Lộc sẽ khiến "Liêm Trinh, Phá Quân" thành thiên về "việc công", chủ về vất vả và khổ lụy hơn người.

Liêm Trinh Hóa Kị thì có tính chất "tư lợi", nhưng nếu không có các sao sát, hình hội hợp cũng chủ về tư tâm không nặng; nếu lại có các sao phụ, tá cát hội hợp thì chưa chắc không thể phát đạt, nhưng dễ xuôi theo dòng nước, chỉ biết xu phụ quyền thế, cho nên đây là vận hạn không cát tường, phá tán, thất bại cũng theo đó mà đến. Vũ Khúc Hóa Kị là tinh hệ có kết cấu không lành, theo võ nghiệp thì tốt hơn nhưng cũng dễ xảy ra bất trắc; lúc Liêm Trinh vào đại hạn hoặc lưu niên Hóa Kị cũng cần đặc biệt chú ý. Do Vũ Khúc Hóa Kị cũng chủ về dựa thế mà được tiến, nên cũng là thiên về "tư lợi".

Liêm Trinh có sát tinh đồng cung là thiên về "tư lợi", rất ghét gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, chủ về dùng thủ đoạn bất chính để tranh đoạt nhưng cũng dễ thất bại; dù có Văn Xương, Văn Khúc đồng độ cũng không thể thay đổi tình hình trên. Liêm Trinh có Kình Dương hội hợp chủ về thị phi kiện tụng; lại hội Hỏa Tinh, Linh Tinh, có Thiên Hình đồng độ, thì cuộc đời ắt sẽ trải qua mấy lần kiện tụng, hoặc nạn tai chảy máu, nữ mệnh thì hơi tốt hơn, mức độ nguy hiểm nhẹ hơn. "Vũ Khúc, Tham Lang" đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh chủ về hiểm hách; trừ phi "Liêm Trinh, Phá Quân" hóa cát hoặc có các sao phụ, tá tụ tập, nếu không vẫn thiên về "tư lợi". "Tử Vi, Thất Sát" không ưa Hóa Quyền, chủ về dựa quyền thế để tranh đoạt, là kết cấu sao thiên về "tư lợi"; có Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật hội hợp thì tăng tính thiên về "việc công".

Các cung hạn của "Liêm Trinh, Phá Quân"

Cung hạn Thiên Phủ độc tọa thông thường là vận trình ổn định của "Liêm Trinh, Phá Quân". Nhưng nếu Thiên Phủ là "kho lộ", "kho trống", thì chỉ thích hợp cho loại thiên về "việc công" đến, xem đây là thời kì tôi luyện bản thân; nếu loại thiên về "tư lợi" đến cung hạn này, thì vận trình này thường thường sẽ gây ảnh hưởng đến hậu vận. Tử Vi Đẩu Số của phái Trung Châu Vương Đình Chi nhấn mạnh đạo "xu cát tị hung", xem trọng sự tác động của hành động hậu thiên đối với vận trình. Thiên Phủ có sao lộc hoặc Hóa Khoa ở đại hạn hay lưu niên, nếu là loại thiên về "việc công" đến thì mệnh tạo cần phải định hướng đi cho bản thân; nếu là loại thiên về "tư lợi" đến thì thường vì kết bè kết phái để mưu lợi cá nhân mà gây ảnh hưởng không tốt cho hậu vận.

Vận hạn "Thiên Đồng, Thái Âm" đồng độ, nếu là "Liêm Trinh, Phá Quân" thiên về "tư lợi" đến, thường có thể phát lên một cách đột ngột. Có hóa cát và hội sao cát thì sau khi phát lên đột ngột có thể giữ được thời gian khá dài; nếu Hóa Kị, hoặc hội các sao sát, hình, hao, thì sau khi phát lên đột ngột liền suy sụp nhanh chóng, ở lưu niên sẽ chủ về vì phát lên đột ngột mà ngấm ngầm chuốc tai họa. Loại thiên về "việc công" đến cung hạn này, dù được cát hóa và có sao cát, mức độ phát lên vẫn không lớn bằng loại thiên về "tư lợi", nhưng không có hậu hoạn, thời gian giữ vận tốt cũng dài hơn. Nếu gặp Hóa Kị và các sao sát, hình, nữ mệnh cần đề phòng hôn nhân có sự thay đổi, nam mệnh thì là vận hạn gian khổ. "Liêm Trinh, Phá Quân" của nguyên cục hội các sao sát, kị, hình, hao khá nặng, nếu gặp Thái Dương Hóa Kị xung hội Thái Âm Hóa Kị thì đây là năm xảy ra tai họa nghiêm trọng; Thái Dương Hóa Kị xung hội Cự Môn Hóa Kị thì đây là năm xảy ra kiện tụng nghiêm trọng.

Vận hạn "Vũ Khúc, Tham Lang" đồng độ có lợi đối với loại thiên về "việc công", mà bất lợi đối với loại thiên về "tư lợi". Trong vận hạn này, loại thiên về "việc công" có thể lập nên thành tích thì tài lộc và tiếng tăm đều có đủ; nếu là loại thiên về "tư lợi" đến, dù có Vũ Khúc Hóa Lộc cũng không chủ về "tài khí", chỉ cần có Thiên Hình và Hỏa Tinh, Linh Tinh hội chiếu thì dễ gây ra thị phi cực lớn, hoặc vì tiến thủ mà gặp bất trắc, ví như vì ra nước ngoài hay đi xa bàn chuyện làm ăn mà xảy ra sự cố giao thông; cần phải xem xét nguy cơ "cát xứ tàng hung" của chúng. Cung hạn "Vũ Khúc, Tham Lang" có Hỏa Tinh, Linh Tinh hội hợp, không có Thiên Hình, cũng không có các sao sát, kị khác ở tam phương tứ chính xâm phạm, đều chủ về phát một cách đột ngột; có điều nếu là loại thiên về "tư lợi" đến thì không được lâu dài, cần xem xét hậu vận để biết nhân tố gây ra phá tán, thất bại mà đề phòng.

Cung hạn "Thái Dương, Cự Môn" đồng độ mà Thái Dương nhập miếu thì lợi cho loại thiên về "việc công" đến; Thái Dương lạc hãm thì loại thiên về "tư lợi" đến có lợi hơn, thích hợp kinh doanh. Loại thiên về "tư lợi" gặp cung hạn Thái Dương được cát hóa, còn gặp thêm cát tinh, cũng chủ về phát đạt nhưng không được lâu dài; nếu gặp Thái Dương Hóa Kị, hội Thiên Hình, còn gặp sát tinh bị lưu sát xung khởi, thì chủ về thị phi phiền phức, hoặc bị bậc trên trước gây lụy. Loại thiên về "việc công" gặp cung hạn Thái Dương được cát hóa, còn gặp thêm cát tinh, thì phú quý đều có thể giữ lâu dài; Thái Dương Hóa Kị, còn gặp thêm sát tinh, thì nên giữ mình trong sạch, không được sinh lòng cạnh tranh. Trong các tình huống thông thường, cung hạn "Thái Dương, Cự Môn" đã có tính chất thị phi, cho nên bất kể "Liêm Trinh, Phá Quân" thuộc tính chất nào cũng đều không nên lộ sự sắc sảo, không khoe tài, không cố xuất đầu lộ diện.

Cung hạn Thiên Tướng độc tọa, nếu bị "Hình kị giáp ấn" thì đây là vận xấu nghiêm trọng của loại thiên về "tư lợi"; loại thiên về "việc công" cũng nên minh triết bảo thân, lùi bước để giữ mình, ở lưu niên cũng có tính chất này. Nếu là "Tài ấm giáp ấn" thì loại thiên về "việc công" có thể hưởng bổng lộc cao, hoặc suốt đời được ưu đãi; loại thiên về "tư lợi" chỉ cần không vọng động làm càn, không cố xuất đầu lộ diện, cũng có được ngày tháng thanh nhàn. Nếu Thiên Tướng bị lưỡng trùng Kình Dương, Đà La giáp cung, lại có sát tinh đến xung, thì bất kể thuộc tính chất nào cũng đều dễ bị phẫu thuật, ở lưu niên cũng vậy.

Cung hạn "Thiên Cơ, Thiên Lương" đồng độ, nếu có cát hóa và có sao cát, loại thiên về "việc công" đến không tốt bằng loại thiên về "tư lợi" đến, chủ về thu hoạch ít hơn, chỉ nên làm tham mưu hay cố vấn kế hoạch; loại thiên về "tư lợi" đến thì có thể đắc hoạnh tài. Nhưng nếu có các sao sát, kị, hình, hao cùng bay đến, thì loại thiên về "tư lợi" sẽ gặp hung hiểm lớn hơn, chủ về hung hiểm bất trắc; còn loại thiên về "việc công" đến cung hạn này thì chỉ là kế hoạch bị trắc trở, hoặc vì hoàn cảnh khách quan biến thiên mà người quen biết không cách nào đề bạt, nâng đỡ. Ở lưu niên cũng có tính chất như vậy.

Cung hạn "Tử Vi, Thất Sát" đồng độ chỉ lợi cho loại thiên về "việc công", mà bất lợi đối với loại thiên về "tư lợi". Nếu cung hạn được cát hóa, có sao cát, loại thiên về "việc công" đến sẽ chủ về nắm quyền bính, còn loại thiên về "tư lợi" đến thì sẽ lạm quyền; nếu có sát tinh đồng độ thì dễ vì lạm quyền mà chuốc họa. Tử Vi Hóa Quyền ở nguyên cục, lúc ấy Vũ Khúc ắt sẽ Hóa Kị, bị Phá Quân Hóa Lộc ở đại vận xung hội, Tham Lang ắt sẽ đồng thời Hóa Kị; nếu loại thiên về "tư lợi" đến sẽ chủ về tham ô, lộng quyền, không làm tròn chức trách mà trở nên giàu có, cần phải quan sát hậu vận xem có ảnh hưởng xấu hay không. Trong các tình hình thông thường, cung hạn "Tử Vi, Thất Sát" chỉ lợi đối với loại thiên về "việc công", ở lưu niên tình hình này càng nặng.

Một lá số "Liêm Trinh, Phá Quân" ở cung tài bạch

Có một lá số cung mệnh là "Vũ Khúc, Tham Lang" ở cung Sửu, có Linh Tinh, Đà La, Thiên Khôi đồng độ, đối cung là Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc; sức mạnh của các sao phụ, tá không nhỏ, chỉ ngại có Đà La đồng độ. Người sinh năm Giáp nên Vũ Khúc lại Hóa Khoa; cung tài bạch là "Liêm Trinh, Phá Quân", chia ra một sao Hóa Lộc, một sao Hóa Quyền, thành cục "Lộc Quyền Khoa hội". Thiên Tướng kèm Kình Dương ở đối cung đến hội, lại hội Hỏa Tinh đồng độ với "Tử Vi, Thất Sát" ở cung sự nghiệp, thành cục tứ sát tinh cùng chiếu, mà tính chất của "Liêm Trinh, Phá Quân" cũng biến thành thiên về "tư lợi".

Ở đại vận Mậu Thìn, "Thiên Cơ, Thiên Lương" tọa mệnh; cung tài bạch của đại vận là "Thiên Đồng, Thái Âm" mà Thái Âm Hóa Quyền, hội Thái Dương Hóa Khoa và Thiên Cơ Hóa Kị. Trong vận hạn này, mệnh tạo cấu kết với người khác âm mưu lũng đoạn thị trường, vì vậy mà gần như phá sản. Đây là do "Liêm Trinh, Phá Quân" thiên về "tư lợi" đến cung hạn "Thiên Đồng, Thái Âm" nên bị phản ứng của sao kị. May mà "Thiên Đồng, Thái Âm" hội "Cự Môn, Thái Dương" mượn sao an cung, có kèm Lộc Tồn, Thiên Mã, cho nên sau việc này chỉ xảy ra chuyện phải ra nước ngoài làm ăn, không đến nỗi thất bại hoàn toàn.

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái