Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Tử Vi Thủ Mệnh: Sáu Tinh Hệ Và Cổ Quyết Bát Hỉ Sao Lâu

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái19/09/202630 phút đọc14 lượt đọc
Tử Vi Thủ Mệnh: Sáu Tinh Hệ Và Cổ Quyết Bát Hỉ Sao Lâu

Cùng một ngôi đế tinh độc tọa, ở cung Ngọ thì nhập miếu, tài lãnh đạo lớn hơn hẳn khi ở cung Tí; nhưng nếu thành tại dã cô quân mà gặp Thiên Không, Địa Không, người ấy lại đi tìm chân lí. Đồng cung Phá Quân ở Sửu Mùi thì trải vất vả mà có thành tựu; gặp Thiên Phủ ở Dần Thân thì hai chủ tinh kềm chế nhau, chỉ còn vẻ thanh cao; gặp Tham Lang ở Mão Dậu thì bị cổ nhân gọi là đào hoa phạm chủ. Cổ quyết hứa người sinh năm Giáp, Kỉ, Đinh có Tử Vi ở Ngọ không hình kị sẽ làm quan tới bậc công khanh, song cũng cảnh báo Tử Vi, Phá Quân thiếu phụ tá chỉ là quan lại nhỏ hung ác. Ngôi vua giữa tinh bàn cần những gì để không thành vị vua giữa đồng hoang?


Cung Mệnh Và Cung Thân

Trong Đẩu Số, dùng cung mệnh để luận đoán mệnh cách của người đó cao hay thấp, nó chủ về thực chất của vận thế. Nếu cung mệnh trong tinh bàn hiển thị cách cục cao, thì khó gặp đại hạn và lưu niên quá xấu. Trái lại, nếu cung mệnh trong tinh bàn hiển thị cách cục thấp, thì sẽ khó gặp đại hạn và lưu niên quá tốt, bất quá chỉ thuận lợi nhất thời mà thôi. Do đó có thể thấy sự quan trọng của cung mệnh.

Cung mệnh tất nhiên đối nhau với cung thiên di, và tương hội với cung sự nghiệp và cung tài bạch ở tam phương. Cũng chính là nói, chúng có thể ảnh hưởng đến thực chất của vận trình, những tao ngộ như xuất ngoại, và mối quan hệ với người ngoại quốc hoặc người ở nơi khác; và các yếu tố như sự nghiệp phát triển có thuận lợi, toại ý hay không, tài phú có được như ý hay không, v.v...

Do đó, cung mệnh trong tinh bàn Đẩu Số là then chốt chủ yếu để luận đoán. Xem xét tổ hợp các sao của cung mệnh, hầu như đã có thể định được đại khái vận thế của một đời người.

Còn cung thân, theo thuyết thông thường là dùng để luận đoán sự phát triển hậu thiên của người đó. Nếu cung mệnh cát, cung thân cũng cát, đương nhiên cuộc đời nhiều thuận lợi, toại ý. Nếu cung mệnh cát, nhưng cung thân không cát, thì giống như khối ngọc đẹp, nhưng lúc điêu khắc đã xảy ra sai sót, do đó làm giảm đẹp. Nếu cung mệnh không cát, nhưng cung thân lại cát, thì giống như đá đẹp mà gặp người thợ điêu khắc giỏi, khiến đá thành vật quý. Nếu cung mệnh không cát, cung thân cũng không cát, thì cũng giống như gỗ xấu không được điêu khắc, đời người đương nhiên giảm sắc, chỉ có thể khéo vận dụng đại hạn và lưu niên, lấy nỗ lực hậu thiên để bổ cứu.

Thông thường người mới học Đẩu Số chỉ lấy tính chất các sao của cung mệnh để làm đối tượng quan sát tinh bàn. Thực ra không phải vậy, đại hạn có cung mệnh của đại hạn, lưu niên có cung mệnh của lưu niên. Thảy đều căn cứ vào những điều được thuật ở tiết này để luận đoán.

Ví dụ, cung mệnh của tinh bàn ở cung Sửu (can Đinh), có các sao "Tử Vi miếu, Phá Quân vượng":

CungĐịa chiSao
MệnhSửu (can Đinh)Tử Vi miếu, Phá Quân vượng (2-11 tuổi)
Huynh đệTí (can Bính)Thiên Cơ miếu
Phu thêHợi(không có chính diệu)
Tử nữTuất (can Giáp)Thái Dương hãm (32-41 tuổi)
Tài bạchDậuVũ Khúc vượng, Thất Sát nhàn
Tật áchThânThiên Đồng vượng, Thiên Lương hãm
Thiên diMùiThiên Tướng nhàn
Giao hữuNgọCự Môn vượng
Sự nghiệpTịLiêm Trinh hãm, Tham Lang hãm
Điền trạchThìnThái Âm nhàn
Phúc đứcMãoThiên Phủ bình
Phụ mẫuDần(không có chính diệu)

Khi luận đoán, đương nhiên sẽ căn cứ tính chất của các sao ở tam phương tứ chính hội hợp với "Tử Vi, Phá Quân" của cung mệnh để luận định. Lúc 2-11 tuổi, cũng dùng các sao của cùng một cung để luận đoán; nhưng còn phải thêm vào các lưu diệu thuộc cung này. Như cung can của bản cung là Đinh, cho nên Lưu Lộc ở cung Ngọ; Lưu Dương ở cung Mùi; Lưu Đà ở cung Tị; Lưu Khôi ở cung Hợi; Lưu Việt ở cung Dậu; Lưu Hóa Lộc là Thái Âm; Lưu Hóa Quyền là Thiên Đồng; Lưu Hóa Khoa là Thiên Cơ; Lưu Hóa Kị là Cự Môn. Lại vì, cung chi là Sửu, cho nên Lưu Mã ở cung Hợi.

Lúc 32-41 tuổi, đại hạn đến cung Giáp Tuất, tuy là cung tử nữ của tinh bàn, nhưng lúc này không phải xem con cái, mà là lấy nó làm cung mệnh của đại hạn, tức Thái Dương đóng ở cung mệnh của đại hạn. Lần lượt theo thứ tự đi nghịch mà sắp xếp 12 cung đại hạn: lấy cung Dậu làm cung huynh đệ của đại hạn; cung Thân làm cung phu thê của đại hạn; cung Mùi làm cung tử nữ của đại hạn... Căn cứ can chi của cung Giáp Tuất mà tìm Lưu diệu. Như Lưu Lộc ở cung Dần; Lưu Dương ở cung Mão; Lưu Đà ở cung Sửu... cho đến Lưu Mã ở cung Thân. Rồi mang các lưu diệu kết hợp với các sao vốn bài bố ở tinh bàn nguyên cục để luận đoán.

Luận đoán lưu niên cũng vậy. Như lưu niên năm Giáp Tí, mượn sao của cung Tí trong tinh bàn, tức lấy Thiên Cơ làm chính diệu của cung mệnh của lưu niên. Đồng thời cũng từ cung Tí bài bố nghịch chiều, lấy cung Hợi làm cung huynh đệ của lưu niên... đến cung Sửu làm cung phụ mẫu của lưu niên.

Nhưng khi tìm các lưu diệu, do là lưu niên Giáp Tí, cho nên phải dựa vào can Giáp để tìm các lưu diệu, mà không dùng "Bính Tí" của tinh bàn, điểm này cần đặc biệt chú ý.

Tóm lại, do cung mệnh có thể "phi động", cho nên khi luận đoán vận thế của đại hạn, lưu niên, cần phải theo những điều vừa thuật ở trên để nhận thức tính chất của cung mệnh sau khi đã "phi động".

Tử Vi Độc Tọa Cung Mệnh

Tử Vi độc tọa, ở cung Tí không bằng ở cung Ngọ, bởi vì khi ở cung Ngọ là nhập miếu, tài lãnh đạo và lực điều hòa chế hóa đều lớn hơn khi độc tọa ở cung Tí, vì vậy địa vị và tài phú cũng đều hơn hẳn.

Tử Vi độc tọa, ngoài việc ưa "bách quan triều củng" ra, còn ưa Tả Phụ, Hữu Bật giáp mệnh; Văn Xương, Văn Khúc giáp mệnh; Long Trì, Phượng Các giáp mệnh; thảy đều có thể làm tăng khí thế và giảm bớt vất vả.

Nếu là "tại dã cô quân", còn gặp các sao không như Thiên Không, Địa Không, thì thích hợp làm người truy tìm chân lí, thành nhân vật tôn giáo, cũng có thể thành nhân vật lãnh đạo. Gặp Hoa Cái, khuynh hướng tôn giáo tín ngưỡng càng sâu, hơn nữa còn thích tìm hiểu sự việc thần bí.

Tử Vi độc tọa mà gặp đủ các sao phụ, tá, sát, hóa, thì cần phải xét xem các sao cát hung nhiều ít thế nào, sức mạnh của chúng ra sao, để định tốt xấu. Thông thường, phần lớn trường hợp đều chủ về có lí tưởng cao nhưng sức mạnh hành động không đủ, cần phải dùng hậu thiên để bổ cứu, nỗ lực thực hiện lí tưởng.

Nếu như không có sao cát hội hợp, mà chỉ gặp sát tinh, thì rất dễ cảm thấy có tài mà không gặp thời, nên làm việc ở lãnh vực kinh doanh thương mại. Chỉ cần sát tinh nhập miếu, mà sát tinh không nhiều, thì vẫn có thể hoạt động trong lãnh vực kinh doanh thương mại mà trở nên giàu có. Tốt nhất là được Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn hội hợp, dễ giàu có mà còn có địa vị trong xã hội, nhất là, càng dễ phát triển trong giới thương nghiệp. Nếu theo lãnh vực chính trị, văn hóa giáo dục, thì trái lại, sẽ gặp nhiều trắc trở, bất đắc chí.

Sát tinh nặng, thông thường đều chủ về bất hòa, tranh chấp thị phi. Nhất là gặp phải Kình Dương lạc hãm, càng chủ về kiện tụng, hoặc phẫu thuật ngoại khoa.

Tử Vi độc tọa cũng ưa Hóa Quyền, Hóa Khoa. Hóa Quyền có thể làm tăng tài lãnh đạo và sức cạnh tranh; Hóa Khoa thì có tiếng tăm, hơn nữa, theo ngành nghiên cứu học thuật có thể dung hợp các thuyết mà sáng tạo ra cái mới; nhưng đều khiến mệnh tạo tăng mạnh tính chủ quan, khó tiếp thu ý kiến của người khác.

Trường hợp Tử Vi chỉ gặp một hai sao sát, kị thì lại chủ về dễ nghe lời nói xấu, dèm pha, thị phi.

Phàm Tử Vi độc tọa, đối cung ắt sẽ gặp Tham Lang, chủ về hiếu sắc, có các sao đào hoa hội hợp thì càng nặng; nếu chỉ hội hợp Thiên Hình thì chủ về tự kềm chế; gặp Đà La cũng có thể tự kềm chế.

Trong đại hạn hoặc lưu niên, Tử Vi độc tọa ở cung hạn, cần phải xét kĩ các sao hội hợp để định cát hung. Gặp cát tinh thì chức vị thăng tiến, thương vụ phát triển, phúc lộc đều hậu hĩ; nếu gặp Địa Không, Địa Kiếp, sao hao thì chủ về kinh tế khó khăn hoặc phá tài; có sát tinh tương hội thì chủ về bất hòa, tranh chấp, trong làm ăn có thể dẫn đến đình trệ, trong chức vụ có thể bị giáng chức hoặc bị truất phế.

Tử Vi, Phá Quân Đồng Cung Mệnh

Tử Vi ở hai cung Sửu hoặc Mùi, luôn luôn có Phá Quân đồng độ. Đây là kết cấu tinh hệ rất có lực khai sáng. Phá Quân vốn là chiến tướng tiên phong, được Tử Vi cầm cương điều khiển, lực phá hoại của nó sẽ nhờ vậy mà giảm thiểu, sức sáng tạo trái lại sẽ tăng. Tuy đời người không tránh được vất vả, nhưng nhờ có tài lãnh đạo, có tính quyết đoán, nên cũng chủ về trải qua vất vả mà có thành tựu.

Nhưng lúc Phá Quân Hóa Quyền sẽ làm tăng tính chất biến động của Phá Quân, vì vậy mà đời người càng thêm thay đổi. Nếu có Tả Phụ, Hữu Bật hội hợp, có thể giảm thiểu vất vả; nếu gặp tứ sát, thì chỉ thích hợp làm việc trong lãnh vực kinh doanh thương mại, và cần phải chú ý tính chất sáng tạo cái mới trong kinh doanh.

Nếu Phá Quân Hóa Lộc, đồng thời với sự khai sáng là cơ hội kiếm tiền, khiến cho sinh hoạt vật chất của người này được sung túc, để bù đắp những vất vả đã trải qua. Nhưng như vậy, đồng thời cũng sẽ chủ về tình cảm gặp nhiều tình huống rắc rối khó xử, hơn nữa, sẽ khiến mệnh tạo thiên về hưởng thụ nhục dục. Bởi vì lúc này sẽ gặp "Liêm Trinh, Tham Lang" ở cung Tị, do hội hợp với Phá Quân Hóa Lộc mà phát huy tác dụng.

Bất kể Phá Quân Hóa Quyền hay Hóa Lộc, cũng đều có thể khiến mệnh tạo thành phú quý. Nhưng nếu đồng thời hội hợp với các sao sát, hình, kị, thì tuy giàu có sung túc nhưng lại dễ chuốc điều tiếng thị phi. Gặp Kình Dương, Thiên Hình, Hóa Kị, còn dễ vướng vào tranh chấp kiện tụng; thích hợp theo binh nghiệp hoặc ngành pháp luật.

Tinh hệ "Tử Vi, Phá Quân" chủ về biến động, cho nên trong kinh doanh làm ăn cần phải chú ý cơ hội đến bất ngờ, hơn nữa, có khả năng sẽ đồng thời kinh doanh hai ba lãnh vực có liên quan với nhau. Nếu là nhân viên làm thuê, thì chủ về kiêm ngành, kiêm chức, hoặc làm tăng ca, nhưng nhất định sẽ một mình đảm trách công việc.

"Tử Vi, Phá Quân" đóng ở cung mệnh, là người thẳng thắn. Cổ nhân nói: "Tử Vi Phá Quân, làm tôi thần bất trung, làm con bất hiếu"; còn nói "Tử Vi Phá Quân đồng cung mà không có Tả Hữu, không có cát tinh, là phường quan lại hung ác", tức đã chỉ ra bản tính tự tư, ích kỉ, và khuynh hướng hay lo toan nghĩ ngợi của mệnh tạo. Nhưng chỉ cần có cát tinh hội hợp, thì những tính cách không lành này sẽ giảm nhẹ, thậm chí tiêu trừ.

Đại hạn hoặc lưu niên mà gặp "Tử Vi, Phá Quân", chủ về "khử cựu canh tân" (bỏ cũ để đổi mới). Được sao cát hội hợp, đương nhiên biến động sẽ cát lợi. Nếu gặp sát tinh, thì nên suy nghĩ kĩ, không được vội vã thay đổi. Nếu cát tinh và sát tinh đều có, thì phải xem đến vận hạn sau coi có cát hay không để quyết định làm hay dừng.

Tử Vi, Thiên Phủ Đồng Cung Mệnh

Hai sao "Tử Vi, Thiên Phủ" đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân. Tử Vi là chủ tinh của Bắc Đẩu, tính thích hợp khai sáng; Thiên Phủ là chủ tinh của Nam Đẩu, tính lợi về bảo thủ, cho nên khi hai chủ tinh gặp nhau, không những xung đột "một núi không thể có hai cọp", mà tính chất còn kềm chế nhau, sẽ khó phát huy. Thông thường, chỉ chủ về thanh cao, thậm chí có khả năng phát triển thành tự sùng bái mình. Kết cấu tinh hệ kiểu này rất nên theo sự nghiệp giáo dục, làm công chức cũng được; không nên theo nghiệp kinh doanh, nếu không, sẽ phản ứng sai lầm, hành động không mang lại hiệu quả tốt cho bản thân, thường đánh mất cơ hội, hoặc khéo quá mà thành vụng.

Khi "Tử Vi, Thiên Phủ" đồng cung, nếu Tử Vi Hóa Quyền hoặc Hóa Khoa, thì vầng hào quang của Tử Vi càng lớn, khí quý phái cũng lớn; nếu Thiên Phủ Hóa Khoa thì chỉ có khuynh hướng giữ uy tín, xem trọng lời hứa, nhưng sẽ quá khiêm cung hiền lành, thiếu năng lực lãnh đạo và khai sáng mọi thứ từ thực tế.

Kết cấu tinh hệ kiểu này rất nên có "Lộc Mã giao trì" đến hội hợp, chủ về phú quý song toàn; kế đến là "Lộc văn củng mệnh", tức có Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc, và Văn Xương Văn Khúc hội hợp, cũng chủ về phú quý; kế đó nữa là các sao phụ tá hội hợp, chủ về quý mà không chủ về giàu có.

Nếu các sao phụ tá không hội hợp, mà có đủ tứ sát Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, thì trái lại, sẽ chủ về bề ngoài trung thành mà bên trong gian trá, phần nhiều hay tráo trở thị phi. Nếu gặp sao không, hoặc không vong, là người cô độc, tầm thường, kiếm sống qua ngày.

Nữ mệnh "Tử Vi, Thiên Phủ", nếu Tham Lang của cung phúc đức hội hợp với các sao đào hoa Hồng Loan, Thiên Hỉ, Hàm Trì, Thiên Diêu, thì nên xem trọng sinh hoạt tình cảm; nếu cung mệnh có các sao sát, hình tụ tập đủ, thì có thể làm kế thất, hoặc do quá tự sùng bái mình mà suốt đời không kết hôn.

Cung mệnh của đại hạn hoặc lưu niên gặp "Tử Vi, Thiên Phủ" thì cát lợi hơn so với gặp ở cung mệnh của nguyên cục, chủ về được quý nhân trợ lực, dễ phát đột ngột. Nếu gặp Thiên Khôi, Thiên Việt, hoặc Lưu Khôi, Lưu Việt, thì có thể nhờ thay đổi mệnh lệnh, hoặc công ti thay đổi quy tắc mà được lợi; trong làm ăn phần nhiều cũng không cầu mà bỗng nhiên gặp may mắn.

Tử Vi, Tham Lang Đồng Cung Mệnh

"Tử Vi, Tham Lang" đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu, cổ nhân gọi cách cục này là "Đào hoa phạm chủ", cho rằng chủ về dâm loạn. Cho nên gặp "Tử Vi, Tham Lang" đồng cung, rất kị gặp thêm các sao đào hoa Hồng Loan, Thiên Hỉ, Hàm Trì, Đại Hao, Thiên Diêu, Mộc Dục; nếu không, sẽ chủ về dễ mất kềm chế trước sức hấp dẫn của người khác giới; nếu gặp thêm sát tinh, thì vì sắc đẹp mà gặp họa; dù không gặp sát tinh, cũng ảnh hưởng đến sự nghiệp.

Nếu Tử Vi Hóa Quyền, được "bách quan triều củng", thì giống như thiên tử phong lưu ở thời thái bình, chủ về phú quý đa tình; Tử Vi Hóa Khoa gặp sao cát, tuy có tiếng tăm, và học có thành tựu, nhưng vẫn thiên nặng về dục tình và ham muốn vật chất.

Nếu Tham Lang Hóa Lộc, thì chủ về giao tế thù tạc nhiều, thiên nặng về ham muốn vật chất, nhưng lại có tài vận hanh thông; Tham Lang Hóa Quyền, ham muốn vật chất cũng nặng, nhưng phải trải qua cạnh tranh mới thành tựu; Tham Lang Hóa Kị, tuy giảm sắc thái đào hoa, nhưng tài nghệ của người này cũng khó phát triển, có ham muốn vật chất nhưng lại khó được như nguyện.

Tinh hệ "Tử Vi, Tham Lang" ưa Tả Phụ, Hữu Bật đồng cung, mà không ưa Văn Xương, Văn Khúc. Nếu Văn Xương, Văn Khúc đồng cung, thì khuynh hướng hấp dẫn người khác giới càng lớn, mà còn chú trọng trang điểm, chải chuốt và biểu hiện bề ngoài hoàn mĩ, cho nên hành sự giả nhiều mà thực ít. Nhưng nếu Tả Phụ và Văn Xương, hoặc Hữu Bật và Văn Khúc giáp cung mệnh, thì trái lại, sẽ dễ phát huy tài chí, sự nghiệp có thành tựu. Cổ nhân nói "Tả Hữu Xương Khúc giáp chế", theo bí truyền của phái Trung Châu, đây là nói "giao thoa nhau mà giáp cung mệnh", bởi vì "Tử Vi, Tham Lang" vĩnh viễn không có khả năng được "Tả Hữu giáp mệnh", hay "Xương Khúc giáp mệnh".

"Tử Vi, Tham Lang" gặp sát tinh, chỉ nên hoạt động trong lãnh vực kinh doanh thương mại, nhưng sát tinh nặng thì cũng có thị phi tranh chấp. Nếu lại gặp sao không và Hoa Cái, trái lại sẽ sinh nhai bằng hoạt động tôn giáo.

Nữ mệnh "Tử Vi, Tham Lang", gặp đào hoa và sát tinh, dễ rơi vào chốn phong trần; kị nhất là gặp Kình Dương, nếu có các sao đào hoa tụ tập, nguy cơ rơi vào chốn phong trần càng lớn, đồng thời cũng vì vậy mà ham muốn vật chất có khuynh hướng trụy lạc. Nhưng nếu cung mệnh ở Dậu, mượn "Tử Vi, Tham Lang" của cung Mão để an cung, thì càng nên chú ý.

Cung mệnh của lưu niên hay đại hạn mà gặp "Tử Vi, Tham Lang", tính chất đào hoa sẽ nhẹ hơn khi gặp ở cung mệnh của nguyên cục. Thông thường, nếu hội hợp với sao cát, thì chủ về ít thay đổi, khó tiến bộ; nhưng nếu các sát tinh cùng tụ tập, mà không gặp các sao hình, kị, thì có thể tiến bộ; còn nếu các sát tinh cùng tụ tập, lại gặp thêm các sao hình kị, thì có thể vì sắc mà phá tài, chuốc họa, hoặc vì thù tạc mà chuốc điều tiếng thị phi.

Tử Vi, Thiên Tướng Đồng Cung Mệnh

"Tử Vi, Thiên Tướng" đồng độ ở hai cung Thìn hoặc Tuất. Tử Vi là đế diệu, Thiên Tướng là sao "ấn", thoạt nhìn thì có vẻ là một kết cấu rất lí tưởng; nhưng khi hai sao này đồng cung, thì lại vì Phá Quân của đối cung mà thay đổi tính chất. Phái Trung Châu xem trọng đặc tính của toàn bộ kết cấu của các tinh hệ, đây là một ví dụ.

Tinh hệ "Tử Vi, Thiên Tướng", rất ưa được Lộc Tồn hội chiếu, có thể giàu có, nhưng thành kiến chủ quan cực sâu, mà còn thích tranh quyền, nên dễ bị người ta gạt bỏ, chèn ép. Nếu không có Lộc Tồn, mà Tử Vi Hóa Quyền, thì tính thích tranh quyền càng kịch liệt; còn nếu Hóa Khoa, tính thích tranh quyền tuy hơi giảm, nhưng lòng tự tôn và trọng danh dự càng nặng, dễ bị người ta úy kị.

Nếu không gặp Lộc, Quyền, Khoa, thì tinh hệ này ưa được "bách quan triều củng", mà không ưa các sao sát, kị hội hợp. Nếu được Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc hội chiếu, thì sự nghiệp có thể thành tựu, là nhân vật lãnh đạo, tính tình ôn hòa đôn hậu. Nhưng vì ảnh hưởng của Phá Quân ở đối cung, trong đời người ắt phải trải qua một lần sóng gió, trắc trở.

Nếu không gặp cát tinh, mà có tứ sát hội hợp, thì lấy trường hợp Kình Dương, Đà La là khá tốt, thích hợp hoạt động trong lãnh vực thương mại. Nếu gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, do Tử Vi phải hao phí sức lực hóa giải nên tăng thêm vất vả, gian khổ. Giả dụ như gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh mà còn gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, thì có thể gặp bất hạnh, tinh thần bị kích thích, hoặc mắc bệnh tim. Phàm "Tử Vi, Thiên Tướng" thủ mệnh, dù không gặp sát tinh, cũng nên chú ý sức khỏe tim mạch, và tu dưỡng tinh thần.

Nếu có nhiều sát tinh hội hợp, chủ về phát lên một cách nhanh chóng rồi suy sụp cũng rất nhanh chóng, mà còn dễ có biểu hiện vô tình vô nghĩa. Nếu có sao cát tương hội, thì chủ về đời người trải qua nhiều sóng gió, trắc trở, hoặc cuộc đời có sự thay đổi đặc biệt, hoặc gặp bất hạnh bất ngờ, hoặc gặp cơ hội tốt. Nhưng trong ngẫu nhiên vô tình vẫn có biểu hiện tình nghĩa lạnh nhạt.

Nữ mệnh "Tử Vi, Thiên Tướng", cần chú ý sinh hoạt tình cảm, đồng thời cũng cần lưu ý đặc tính vô tình vô nghĩa của tinh hệ này mà biết tự kềm chế thì mới tốt lành, nhưng trong tình yêu ắt sẽ thường nổi sóng.

Cung mệnh của lưu niên hay đại hạn có "Tử Vi, Thiên Tướng", nếu gặp các sao sát, kị, ắt sẽ bị nhiều trở ngại rồi sinh lòng thay đổi, như mong muốn thay đổi việc làm, nhưng lại không được; gặp cát tinh thì vận hạn thuận lợi toại ý, sự nghiệp có thành tựu.

Tử Vi, Thất Sát Đồng Cung Mệnh

"Tử Vi, Thất Sát" đồng độ ở hai cung Tị hoặc Hợi. Tử Vi là đế diệu, Thất Sát là tướng tinh, hai sao này mà đồng cung sẽ có uy thế không ai so bì được. Cho nên chủ về giàu tính khai sáng, hơn nữa còn có tư tưởng độc đáo.

Thông thường, "Tử Vi, Thất Sát" có thể xem là tượng trưng của quyền lực, cho nên Tử Vi không nên Hóa Quyền, vì như vậy sẽ chủ về có lòng ham muốn quyền lực quá cao, biểu hiện khí bá đạo khiến cho người ta khó mà nhịn được.

Rất nên được các sao cát hội chiếu. Như có Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Lộc Tồn, Thiên Mã hội hợp, thì tính cương dũng của Thất Sát có đất dụng võ. Cái gọi là "hóa sát làm quyền", là cách cục này. Nhưng giả dụ không có sao cát hội chiếu, thì giống như anh hùng thảo dã làm giặc cướp, khó tránh có biểu hiện tàn nhẫn bá đạo, chủ về phát lên một cách nhanh chóng rồi suy sụp cũng rất nhanh chóng.

Nếu như không có sao cát, mà còn có sát tinh hội hợp, thì khó tránh "hình thương, khắc hại".

Nữ mệnh "Tử Vi, Thất Sát", về phương diện sinh hoạt hôn nhân sẽ không có trở ngại gì lớn; nhưng nếu có các sát tinh hội chiếu, thì chủ về cô độc.

Đại vận hoặc lưu niên gặp "Tử Vi, Thất Sát", nếu gặp sát tinh thì tuy có cơ hội thay đổi, nhưng lại khó được như nguyện. Nếu có sao cát tụ hội thì chủ về trải qua thay đổi mà được ích lợi.

Bát Hỉ Sao Lâu Bản Cổ Quyết

Bộ phận "cổ quyết" là chỉ khẩu quyết cổ xưa, xuất hiện rất sớm trong giang hồ, vào đời Minh các nhà Đẩu Số đã dựa vào những luận đoán này. Nhưng toàn bộ khẩu quyết chắc không có thể xuất hiện cùng một lúc, trong quá trình lưu truyền, các đời đều có tăng bổ và san định. Về niên đại lưu truyền bản chép tay cổ quyết Bát Hỉ Sao Lâu, có thể định là vào khoảng cuối đời Minh, đầu đời Thanh. Cổ quyết này hoàn thành chậm nhất cũng vào những năm Khang Hi đời Thanh.

Bản cổ quyết Bát Hỉ Sao Lâu không thấy chép trong Tử Vi Đẩu Số toàn tập, trong Tử Vi Đẩu Số toàn thư có chép nhưng không đầy đủ. Nội dung cổ quyết, có một số đã thấy trong Thái Vi phú, Cốt Tủy phú, nhưng phần chưa thấy xuất hiện trong các cổ phú vẫn chiếm phần lớn. Theo Vương Đình Chi, đây có thể là bí quyết khẩu truyền của phái Trung Châu, về sau được truyền vào giang hồ, vì nội dung cổ quyết có rất nhiều chỗ tương đồng với những cổ quyết mà Vương Đình Chi được truyền dạy.

Toàn bộ cổ quyết chỉ nói phần chứng nghiệm, mà không nói về nguyên tắc luận đoán, cũng không nói về các tinh hệ và sự biến hóa của các tinh hệ lúc đến các vận hạn. Nhưng đây cũng là tư liệu quý giá, bạn đọc có thể tham khảo đối chiếu với Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa của Lục Bân Triệu mà chúng tôi đã trình bày trong bộ sách Nghiên cứu Tinh Mệnh học, kết hợp hai thứ gần như là toàn bộ những điều cổ nhân đã chứng nghiệm.

Cổ quyết là bộ phận cấu tạo thành những cách cục mà cổ nhân đã tổng kết từ thực tiễn. Vì vậy nghiên cứu cổ quyết là điều không thể thiếu trong việc tìm hiểu Tử Vi Đẩu Số. Chứng nghiệm của cổ nhân đương nhiên là căn cứ vào bối cảnh xã hội đương thời, nên khi ứng dụng vào thời hiện đại sẽ có nhiều chỗ khác nhau, bạn đọc cần phải hiểu cái lí chứng nghiệm của cổ nhân để hiện đại hóa, mới ứng nghiệm khi luận đoán. Vương Đình Chi sau khi được sư phụ truyền thụ toàn bộ bí quyết của phái Trung Châu, suốt 10 năm không bàn luận về Đẩu Số, chỉ đóng cửa nghiên cứu mới sở đắc cái lí của Đẩu Số, bèn hiện đại hóa những chứng nghiệm cổ nhân, rồi công bố trong các tác phẩm của ông. Những chú giải theo quan điểm của phái Trung Châu dưới đây cũng là của Vương Đình Chi.

Cổ Quyết Bát Hỉ Sao Lâu Về Sao Tử Vi

Sáu tinh hệ đã cho thấy Tử Vi mạnh hay yếu đều tùy bách quan triều củng; những câu cổ quyết truyền đời lại ghi thẳng các trường hợp đã ứng nghiệm, từ bậc công khanh cho tới phường quan lại hung ác.

紫微居午无刑忌,甲己丁人至公卿。
Tử Vi cư Ngọ vô hình kị, Giáp Kỉ Đinh nhân chí công khanh.

Dịch nghĩa: Tử Vi ở Ngọ không có các sao hình, kị, người sinh năm Giáp Kỉ làm quan đến bậc công khanh.
Chú giải: Sao hình là chỉ Kình Dương.

紫微居子午,科禄权照最为奇。
Tử Vi cư Tí Ngọ, Khoa Lộc Quyền chiếu tối vi kì.

Dịch nghĩa: Tử Vi ở Tí Ngọ, được tam cát hóa Khoa Lộc Quyền hội chiếu thì rất là đặc biệt.
Chú giải: Tử Vi ở hai cung Tí hoặc Ngọ là cách cục tốt.

紫微男亥女寅宫,壬甲生人富贵同。
Tử Vi nam Hợi nữ Dần cung, Nhâm Giáp sinh nhân phú quý đồng.

Dịch nghĩa: Tử Vi, nam mệnh ở cung Hợi, nữ mệnh ở cung Dần, người sinh năm Nhâm hay Giáp đều phú quý. (Xem hình 149)
Chú giải: Ở đây lấy trường hợp được Lộc Tồn cùng bay đến là phú quý.

Hình 149: ví dụ 1, nam mệnh sinh năm Nhâm, mệnh ở Hợi có Tử Vi Thất Sát Lộc Tồn, chủ về phú quý song toàn
H. 149

紫微卯酉劫空煞,多为脱俗出家人。
Tử Vi Mão Dậu Kiếp Không Sát, đa vi thoát tục xuất gia nhân.

Dịch nghĩa: Tử Vi ở hai cung Mão hoặc Dậu gặp Kiếp, Không, sát tinh, phần nhiều là người xuất gia thoát tục.

(Nguyên bản thiếu hai trang in ngay sau câu quyết này, nên phần Chú giải cùng hai hình minh họa 150, 151 không còn.)

紫府日月居旺地,定出公侯器。
Tử Phủ Nhật Nguyệt cư vượng địa, định xuất công hầu khí.

Dịch nghĩa: Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương, Thái Âm ở cung vượng, là có địa vị đến bậc công hầu.
Chú giải: Tử Vi ở cung Ngọ, là cung vượng của Thái Dương; Thiên Phủ ở cung Tí, là cung vượng của Thái Âm; thảy cũng phải không có sát tinh mà gặp sao lộc.

紫府武曲临财宅,更兼权禄富奢翁。
Tử Phủ Vũ Khúc lâm tài trạch, cánh kiêm Quyền Lộc phú xa ông.

Dịch nghĩa: Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc đến "tài trạch", có cả Quyền lẫn Lộc, là người giàu có xa hoa.
Chú giải: "Tài trạch" là chỉ cung tài bạch hoặc cung điền trạch, gặp ba chính diệu cùng tụ hội, được Hóa Quyền và Hóa Lộc.

紫微辅弼同宫,一呼百诺居上品的。
Tử Vi Phụ Bật đồng cung, nhất hô bách nặc cư thượng phẩm.

Dịch nghĩa: Tử Vi, Tả Phụ, Hữu Bật đồng cung, làm quan đến thượng phẩm nhất hô bách ứng.
Chú giải: Đây là nói Tử Vi và Phá Quân cùng ở hai cung Sửu hoặc Mùi.

紫府擎羊主巨商。
Tử Phủ Kình Dương chủ cự thương.

Dịch nghĩa: Tử Vi, Thiên Phủ, Kình Dương chủ về là nhà buôn lớn. (Xem hình 153, 154)
Chú giải: Cũng cần phải gặp sao lộc, cung thiên di Hóa Lộc càng tốt.

Hình 153: ví dụ 1, nam mệnh sinh năm Mậu, mệnh ở Ngọ có Tử Vi Kình Dương, cung thiên di mà Hóa Lộc thì càng đẹp
H. 153
Hình 154: ví dụ 2, nam mệnh sinh năm Giáp, mệnh ở Mão có Thiên Phủ Kình Dương, cung tài bạch mượn sao được Hóa Quyền
H. 154

紫府夹命为贵格。
Tử Phủ giáp mệnh vi quý cách.

Dịch nghĩa: Tử Vi, Thiên Phủ giáp mệnh là quý cách.
Chú giải: Đây là nói "Thiên Cơ, Thái Âm" ở hai cung Dần hoặc Thân.

紫禄同宫日月照,贵不可言。
Tử Lộc đồng cung Nhật Nguyệt chiếu, quý bất khả ngôn.

Dịch nghĩa: Tử Vi và Lộc Tồn đồng cung, có Thái Dương, Thái Âm chiếu, quý không thể nói hết được.
Chú giải: Đây là nói đến vận hạn Thái Dương, Thái Âm chiếu mà đột nhiên thành quý cách.

紫微昌曲,富贵可期。
Tử Vi Xương Khúc, phú quý khả kì.

Dịch nghĩa: Tử Vi, Văn Xương, Văn Khúc, có thể phú quý trong hạn này.
Chú giải: Đây là nói được Văn Xương, Văn Khúc cùng bay đến hoặc ở tam phương hội chiếu.

紫微七杀,化权反作祯祥。
Tử Vi Thất Sát, Hóa Quyền phản tác trinh tường.

Dịch nghĩa: Tử Vi, Thất Sát, Hóa Quyền thì trái lại, sẽ cát tường.
Chú giải: Cần phải có sao lộc, không cần được Hóa Quyền.

紫破太阴煞曜逢,一生曹吏逞英雄。
Tử Phá Thái Âm sát diệu phùng, nhất sinh tào lại trình anh hùng.

Dịch nghĩa: Tử Vi, Phá Quân, Thái Âm gặp sát tinh, một đời làm thư lại mà anh hùng.
Chú giải: Tử Vi, Phá Quân thủ mệnh gặp sát tinh, đến vận hạn Thái Âm là làm viên thư lại.

紫破无辅佐,凶恶胥吏之徒。
Tử Phá vô phụ tá, hung ác tư lại chi đồ.

Dịch nghĩa: Tử Vi Phá Quân không có sao phụ tá, là quan lại cấp nhỏ mà hung ác.
Chú giải: Đây ý nói không có "bách quan triều cùng".

紫武破军会羊陀,欺公祸乱。
Tử Vũ Phá Quân hội Dương Đà, khi công họa loạn.

Dịch nghĩa: Tử Vi, Vũ Khúc, Phá Quân hội Kình Dương, Đà La, là họa loạn lấn át chủ.
Chú giải: Đây cũng là nói Tử Vi và Phá Quân thủ mệnh.

紫微权忌会羊陀,虽获吉而无道。
Tử Vi quyền kị hội dương đà, tuy hoạch cát nhi vô đạo.

Dịch nghĩa: Tử Vi Hóa Quyền Hóa Kị hội Kình Dương, Đà La, tuy được cát nhưng vô đạo. (Xem hình 155, 156)
Chú giải: Đây là nói Tử Vi Hóa Quyền, hội Vũ Khúc Hóa Kị.

Hình 155: ví dụ 1, nam mệnh sinh năm Nhâm, Tử Vi tại cung Ngọ (hay Tí)
H. 155
Hình 156: ví dụ 2, nam mệnh sinh năm Nhâm, Tử Vi tại cung Thìn (hay Tuất)
H. 156

紫微贪狼为至淫。
Tử Vi Tham Lang vi chí dâm.

Dịch nghĩa: "Tử Vi, Tham Lang" là rất dâm.
Chú giải: Đây là chỉ cách "Phiếm thủy đào hoa" (xem hình 157); cũng nói về "Tử Vi, Tham Lang" ở hai cung Mão hoặc Dậu (xem hình 158).

Hình 157: nam mệnh sinh năm Nhâm, mệnh ở Ngọ có Tử Vi, là cách Phiếm thủy đào hoa
H. 157
Hình 158: nam mệnh sinh giờ Tí, ngày 10 tháng 2 năm Canh Tí, mệnh ở Mão có Tử Vi Tham Lang Hồng Loan
H. 158

紫微于辰戌丑未加吉曜,富贵堪期。
Tử Vi vu Thìn Tuất Sửu Mùi gia cát diệu, phú quý kham kì.

Dịch nghĩa: Tử Vi ở các cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, có thêm sao cát, phú quý có hạn kì.
Chú giải: Tử Vi kị Tứ Mộ, kị nhất là hai cung Thìn và Tuất "Thiên La, Địa Võng". Đây là nói có thêm sao cát cũng sau trung niên mới phát.

紫相辰戌,君臣不义。
Tử Tướng Thìn Tuất, quân thần bất nghĩa.

Dịch nghĩa: "Tử Vi, Thiên Tướng" ở hai cung Thìn hoặc Tuất, vua tôi bất nghĩa.
Chú giải: Chủ về phản bội.

紫微禄存同宫,贵不可言。
Tử Vi Lộc Tồn đồng cung, quý bất khả ngôn.

Dịch nghĩa: Tử Vi Lộc Tồn đồng cung, quý không thể nói hết được. (Xem hình 159, 160)
Chú giải: Ở cung mệnh mới đúng, hễ Tử Vi có sao lộc là quý.

Hình 159: nam mệnh sinh năm Nhâm, mệnh ở Hợi có Tử Vi Thất Sát Lộc Tồn, chủ về phú quý song toàn
H. 159
Hình 160: nữ mệnh sinh năm Giáp, mệnh ở Dần có Tử Vi Thiên Phủ Lộc Tồn, chủ về suốt đời hưởng phước
H. 160

紫微诸煞同宫合诸吉,是为小人在位,君子在野,主人奸诈伪善。
Tử Vi chư sát đồng cung hợp chư cát, thị vi tiểu nhân tại vị, quân tử tại dã, chủ nhân gian trá ngụy thiện.

Dịch nghĩa: Tử Vi đồng cung với sát tinh và cát tinh, tiểu nhân thì có địa vị, quân tử thì ở nơi hoang dã, chủ về người gian trá, giả lương thiện.
Chú giải: Nếu cát tinh và sát tinh cùng bay đến thì không đúng.

女命紫微在子酉及巳亥,美玉瑕玷。
Nữ mệnh Tử Vi tại Tí Dậu cập Tị Hợi, mĩ ngọc hà điếm.

Dịch nghĩa: Nữ mệnh Tử Vi ở cung Tí, Dậu, Tị, Hợi, là ngọc đẹp có tì vết.
Chú giải: Ở cung Tí là đào hoa; ở cung Dậu là "Tử Vi, Tham Lang"; ở cung Tị và Hợi là "Tử Vi, Thất Sát"; có thêm sát tinh thì không tốt.

Cốt Tủy Của Sao Tử Vi

Mọi biến hóa của Tử Vi xoay quanh một trục: đế tinh cần bách quan triều củng. Có Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt cùng sao lộc hội hợp thì tài lãnh đạo được phát huy; đồng cung Phá Quân thành lực khai sáng, đồng cung Thất Sát thì hóa sát làm quyền. Thiếu phụ tá mà chỉ gặp sát tinh thì thành tại dã cô quân, lí tưởng cao mà sức hành động không đủ, hoặc sa vào cảnh quan lại nhỏ hung ác mà cổ quyết đã nêu.

Khi luận Tử Vi thủ mệnh, trước hết xét sao phụ tá và sao lộc ở tam phương tứ chính, sau mới xét Tứ Hóa và sát tinh; Hóa Quyền, Hóa Khoa làm tăng khí thế nhưng cũng làm tăng tính chủ quan. Cung mệnh của đại hạn, lưu niên gặp Tử Vi cũng luận theo cùng một lẽ ấy.


Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái