Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Phá Quân Độc Tọa Dần, Thân Và Liêm Trinh, Thiên Phủ Ở Thìn, Tuất

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái17/09/202617 phút đọc7 lượt đọc
Phá Quân Độc Tọa Dần, Thân Và Liêm Trinh, Thiên Phủ Ở Thìn, Tuất

Phá Quân và Liêm Trinh đều mang mâu thuẫn bên trong, và luận hai tinh hệ này là tìm mặt đang trội. Phá Quân độc tọa ở Dần, Thân đối Vũ Khúc, Thiên Tướng. Điều cần nắm là tính phản kháng và tính thuận tòng: phản kháng càng mạnh thì đời càng biến động, thuận tòng càng mạnh thì biên độ càng nhỏ. Vận thế Phá Quân thủ mệnh lên xuống như hình yên ngựa, chìm nổi nhiều lần. Liêm Trinh, Thiên Phủ ở Thìn, Tuất đối Thất Sát, hội Tử Vi độc tọa và Vũ Khúc, Thiên Tướng. Liêm Trinh vừa là đào hoa thứ vừa là sao trinh liệt, liêm khiết, nên tinh hệ này xoay quanh xung đột và điều hòa giữa tình cảm và lý trí. Mệnh vận, xét cho cùng, là nắm bắt cơ hội để hành động hay dừng lại.


Phá Quân Độc Tọa Ở Hai Cung Dần Hoặc Thân

Phá Quân độc tọa ở hai cung Dần hoặc Thân; đối cung là "Vũ Khúc, Thiên Tướng"; cung tam phương là Thất Sát độc tọa, và Tham Lang độc tọa.

Muốn phán đoán tính chất của Phá Quân ở cung này, cần phải chú ý một đặc điểm, đó là tính phản kháng và tính thuận tòng của bản chất của Phá Quân. Nắm vững đặc điểm này mới có thể biết được bản chất của cung mệnh.

Trong các tình huống thông thường, tính phản kháng của Phá Quân mà càng mạnh thì sự biến động thay đổi trong đời người càng có biên độ lớn; còn tính thuận tòng của Phá Quân mà càng mạnh thì sự biến động thay đổi trong đời người sẽ có biên độ càng nhỏ.

Phàm người có Phá Quân thủ cung mệnh, vận thế sẽ lên xuống như hình yên ngựa, tức phải trải qua chìm nổi nhiều lần. Lúc vận thế bốc lên, bỗng nhiên sẽ gặp trở ngại, chuyển thành hướng đi xuống, sau đó lại bốc lên lần nữa. Cho nên, phán đoán được tính phản kháng và tính thuận tòng của Phá Quân thì có thể phán đoán được sự chìm nổi của vận thế.

Điểm này quan trọng khi luận đoán. Bởi vì cũng cùng là người Phá Quân độc tọa thủ mệnh ở hai cung Dần hoặc Thân, có một số người liên tiếp thay đổi công việc, nhưng lại có một số người có thể làm việc trong một cơ cấu nào đó suốt đời; đây là do biên độ chìm nổi cao thấp có sự phân biệt lớn nhỏ.

Lấy bản thân Phá Quân để nói. Phá Quân có sao lộc, không gặp các sao sát, kị, hình thì tính thuận tòng khá lớn; ngược lại, nếu Phá Quân không có sao lộc, hoặc gặp các sao sát, kị, hình nặng thì tính phản kháng khá lớn.

Gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, sẽ không làm thay đổi đặc tính của Phá Quân, mà chỉ làm mạnh thêm, tức thuận tòng thì càng thuận tòng hơn, phản kháng thì càng phản kháng hơn.

Hai sao Văn Xương, Văn Khúc đồng thời hội hợp Phá Quân, có thể làm tăng tính thuận tòng; nếu chỉ gặp một sao thì không phải vậy. Nếu như chỉ gặp một mình Xương hoặc Khúc Hóa Kị, thì trái lại, sẽ làm tăng tính phản kháng.

"Vũ Khúc, Thiên Tướng" của đối cung, phạm Vũ Khúc Hóa Lộc hay Thiên Tướng thuộc "Tài ấm giáp ấn", đều có thể làm mạnh thêm tính thuận tòng của Phá Quân. Nếu Vũ Khúc Hóa Kị, Thiên Tướng thuộc "Hình kị giáp ấn" thì có thể làm tăng tính phản kháng của Phá Quân.

Tham Lang của cung tam hợp mà Hóa Lộc hay đồng độ với Lộc Tồn, sẽ làm tăng tính thuận tòng của Phá Quân; nếu Hóa Quyền, thì cần phải xem có các sao sát, kị, hình đồng thời hội hợp hay không; nếu có, sẽ làm tăng tính phản kháng; nếu không có, sẽ làm tăng tính thuận tòng. Tham Lang Hóa Kị cũng làm tăng tính thuận tòng.

Khi Thất Sát của cung tam hợp đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, sẽ làm tăng tính phản kháng của Phá Quân; khi đồng độ với Tả Phụ, Hữu Bật thì chỉ làm mạnh thêm bản tính của Phá Quân; đồng độ với các sao khoa văn (như đồng độ với Văn Xương Hóa Khoa, hoặc gặp sao đôi Long Trì, Phượng Các), sẽ làm mạnh thêm tính thuận tòng của Phá Quân.

Phá Quân nặng tính thuận tòng ưa đến các cung hạn "Liêm Trinh, Thiên Phủ" (Hóa Lộc, Hóa Khoa), Thái Âm (Hóa Lộc, Quyền, Khoa), Tham Lang (Hóa Lộc, Quyền), "Vũ Khúc, Thiên Tướng" (Hóa Lộc, Quyền, Khoa, Tài ấm giáp ấn), "Thái Dương, Thiên Lương" (Hóa Khoa), Tử Vi (Hóa Khoa).

Phá Quân nặng tính phản kháng ưa đến các cung hạn "Liêm Trinh, Thiên Phủ" (gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt), Tham Lang (có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ), "Thiên Đồng, Cự Môn" (Hóa Lộc), "Vũ Khúc, Thiên Tướng" (Hình kị giáp ấn), "Thái Dương, Thiên Lương" (Hóa Lộc, Quyền), Thất Sát (hội Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn), Tử Vi (Hóa Quyền).

Phá Quân nặng tính thuận tòng đến các cung hạn thích hợp, tuy có biến động thay đổi trong cuộc đời, nhưng sẽ không thay đổi bản chất (như thay đổi nghề nghiệp), hơn nữa, biến động thay đổi sẽ theo chiều hướng thuận lợi, hoặc vì lợi thế mà phải thay đổi. Nếu đến các cung hạn không thích hợp, biến động thay đổi sẽ lớn, mà còn chuyển biến theo chiều hướng xấu, gian khổ.

Phá Quân nặng tính phản kháng đến các cung hạn thích hợp, tất sẽ ở vào thế không thể không biến động thay đổi, hơn nữa, phần nhiều thuộc về thay đổi có tính căn bản; và lại, lúc thay đổi phải trải qua gian khổ. Nếu đến các cung hạn không thích hợp, sẽ có biểu hiện là phản ứng sai lầm, tiến thoái không hợp thời cơ, hoặc đánh mất cơ hội tốt.

Về đại thể, những cung thích hợp với Phá Quân nặng tính phản kháng, sẽ không thích hợp với Phá Quân nặng tính thuận tòng; ngược lại, những cung thích hợp với Phá Quân nặng tính thuận tòng sẽ không thích hợp với Phá Quân nặng tính phản kháng.

Phá Quân nặng tính thuận tòng đến các cung hạn không có các sao sát, kị, hình, hao (hoặc chỉ gặp một hai sao), nhưng có các sao phụ, tá, Hóa Lộc, Hóa Quyền, tất sẽ chủ về phát triển thiếu tính đột phá. Tuy có thể giảm bớt sự chìm nổi thất thường trong đời người, nhưng nếu đang hàn vi mà gặp cung hạn này thì khó mà đột phá để phát đạt một cách nhanh chóng.

Phá Quân nặng tính phản kháng mà đến các cung hạn ít Lộc, Quyền, Khoa, lại chỉ gặp một hai sao phụ tá, tất sẽ chủ về xảy ra biến động thay đổi có tính đột ngột, nếu đã giàu có thì không nên, đang hàn vi mà gặp cung hạn thì có thể nhờ biến động mà đắc lợi, hoặc sẽ thay đổi vận trình thành khá hơn (như đến các cung hạn "Vũ Khúc, Thiên Tướng", hay Thiên Tướng có Hình Kị giáp cung). Nhưng nếu có quá nhiều sao sát, kị, hình, hao hội hợp thì cũng không tốt, là điểm ứng gian khổ, phá tán, thất bại.

Hiểu được nguyên tắc thuật ở trên, là biết được phép xu cát tị hung, "biến động thay đổi" hay không "biến động thay đổi", giữa "hành động" và "dừng lại" rất là quan trọng.

Phá Quân nặng tính thuận tòng mà gặp nhiều sao sát, hình, sẽ chủ về hơi có thành tựu thì đã lơ là, thỏa mãn; vì vậy rất kị gặp Linh Tinh, Đà La; gặp chúng thì sẽ đình trệ, không tiến bộ, khó thành đạt cao; rất nên gặp Hỏa Tinh, Kình Dương, trái lại sẽ được chúng kích thích để tiến lên.

Phá Quân nặng tính phản kháng mà gặp nhiều sao sát, hình, thì trái lại, có lúc sẽ chủ về vì đời người gập ghềnh, gặp quá nhiều chuyện bất đắc chí, mà mất hết chí khí. Lúc này phải xem xét cung phúc đức và cung thiên di của mệnh tạo. Nếu cung phúc đức tốt thì nên có nhiều trải nghiệm để tìm cơ hội thay đổi mệnh vận (vì vậy cần lưu ý đại vận hoặc lưu niên tốt), vận dụng sức mạnh tinh thần để thay đổi cảnh ngộ. Nếu cung thiên di tốt thì nên tìm cơ hội xuất ngoại để phát triển (vì vậy cần lưu ý cung thiên di của đại vận hoặc lưu niên), vận dụng sự thay đổi hoàn cảnh để cải thiện mệnh vận của bản thân.

Ở đây xin đưa ra thêm một ví dụ để tham khảo khi luận đoán thực tế.

Phá Quân thủ mệnh ở cung Canh Dần (tức người sinh năm Bính), Tham Lang và Kình Dương đồng độ đến hội hợp. "Vũ Khúc, Thiên Tướng" của cung thiên di có Thiên Đồng Hóa Lộc và Thiên Lương giáp cung, thành cục "Tài ấm giáp ấn". Một cung tam hợp khác có Thất Sát bị Kình Dương và Đà La đồng thời chiếu xạ.

Kết cấu cơ bản này, do sát tinh ảnh hưởng bản cung và cung tam hợp, nên về cơ bản Phá Quân thuộc tính phản kháng. Lúc vào đại vận Nhâm Thìn, "Liêm Trinh, Thiên Phủ" nhập cung hạn, Liêm Trinh đã Hóa Kị, đại vận lại gặp Vũ Khúc Hóa Kị, hơn nữa còn bị Kình Dương, Đà La của đại vận cùng hội chiếu cung Thìn, xem ra rất là bất lợi.

Lúc này, xem xét cung phúc đức của nguyên cục có Liêm Trinh Hóa Kị; cung thiên di của nguyên cục có "Tài ấm giáp ấn", rõ ràng cung thiên di ưu hơn cung phúc đức.

Do đó, lúc đến đại vận 10 năm của "Liêm Trinh, Thiên Phủ" cần phải lưu ý xem trong đại vận có cung thiên di của năm nào khá tốt không, chủ động lưu ý cơ hội "thiên di" (như rời khỏi chỗ ở cũ để phát triển hay đổi nghề, hoặc ít nhất cũng nên thay đổi nơi làm việc), thì cảnh ngộ có thể cải thiện.

Từ ví dụ này có thể thấy, vận dụng "Tử Vi tinh quyết" một cách linh hoạt, thường thường có thể "theo cát tránh hung". Bởi vì mệnh vận chẳng qua chỉ là sự nắm bắt cơ hội, quyết định hành động hay dừng lại mà thôi, nếu nắm vững được điều này, ít nhất cũng có thể khiến cho cuộc đời vốn đã chìm nổi bất thường chuyển sang hướng dễ đi hơn.

"Liêm Trinh, Thiên Phủ" Ở Hai Cung Thìn Hoặc Tuất

"Liêm Trinh, Thiên Phủ" đồng độ ở hai cung Thìn hoặc Tuất; đối cung tất sẽ là Thất Sát độc tọa; hội hợp với Tử Vi độc tọa, và "Vũ Khúc, Thiên Tướng" ở cung tam hợp.

Muốn luận đoán đặc tính của tinh hệ "Liêm Trinh, Thiên Phủ" ở cung này, cần chú ý sự xung đột và điều hòa giữa tình cảm và lí trí.

Bản thân Liêm Trinh đã là sao mang trong mình sự mâu thuẫn, xung đột giữa tình cảm và lí trí. Nó là sao "đào hoa thứ", nhưng nó cũng là sao "trinh" (trinh liệt), mà còn "liêm" (liêm khiết), do đó khó thành "đào hoa", cũng không thể phóng túng, hiếu dâm. Thời cổ đại, có nhiều thị tì, thê thiếp trinh liệt, tình hình này có thể lấy làm ví dụ. Cảnh ngộ của họ có thể nói là tràn đầy sự xung đột giữa tình cảm và lí trí.

Lúc Thiên Phủ đồng cung, chẳng thể khiến tình cảm hoặc lí trí định hướng, bởi vì bản thân Thiên Phủ tuy nặng về lí trí, nhưng nó có đặc điểm "ở đâu thì chỉ biết đó", ở yên trong hiện trạng, giữ mối quan hệ giao tế đã có, v.v... Cho nên chẳng thể dùng lí trí để giải quyết mâu thuẫn của Liêm Trinh.

Thiên Phủ có sao lộc, hoặc có Văn Xương, Văn Khúc hội hợp, trái lại sẽ làm nặng thêm sắc thái tình cảm của Liêm Trinh, khiến cho những tao ngộ trong cuộc đời thường tuần tự phát triển theo một quỹ tích cố định. Thiên Phủ là "kho lộ" hay "kho trống" có thể làm yếu đi mặt tình cảm của Liêm Trinh, đại khái là quan hệ giao tế dễ thay đổi.

Thất Sát ở đối cung có thể ảnh hưởng mặt lí trí của hệ "Liêm Trinh, Thiên Phủ". Có sát tinh hội hợp, hoặc gặp phải các sao Hóa Quyền, tính lí trí của Thất Sát càng mạnh, do đó ảnh hưởng đến "Liêm Trinh, Thiên Phủ" ở đối cung, cũng tràn đầy sắc thái lí trí. Nhưng giả dụ Thất Sát đồng độ với sao không thì trái lại, Thất Sát sẽ thanh hư suy nghĩ triết lí, cảm thấy đời người là hư ảo, lúc này càng làm tăng bản tính mâu thuẫn của "Liêm Trinh, Thiên Phủ".

Nếu Tử Vi của cung hội hợp được "bách quan triều củng", hoặc Hóa Quyền, thì gây ảnh hưởng làm tăng mặt lí trí của "Liêm Trinh, Thiên Phủ". Nếu là "tại dã cô quân", hoặc Hóa Khoa, thì gây ảnh hưởng làm tăng mặt tình cảm của "Liêm Trinh, Thiên Phủ".

Nếu "Vũ Khúc, Thiên Tướng" của cung hội hợp là Vũ Khúc Hóa Lộc hay Hóa Quyền, hoặc Thiên Tướng "Tài ấm giáp ấn", thì có thể làm tăng mặt lí trí của "Liêm Trinh, Thiên Phủ". Nếu Vũ Khúc Hóa Khoa, Thiên Tướng giao hội với Văn Khúc và Văn Xương cùng ở một cung, có thể làm tăng mặt tình cảm của "Liêm Trinh, Thiên Phủ".

Vũ Khúc Hóa Kị, mà Thiên Phủ trong nhóm "Liêm Trinh, Thiên Phủ" lại là "kho trống" hoặc "kho lộ", là kết cấu rất tệ, chủ về tình cảm rất dứt khoát, còn lí trí thì chăm chú vào mũi nhọn.

Sắc thái đặc biệt nhất của tính nặng tình cảm ở hệ "Liêm Trinh, Thiên Phủ" là trung với chủ. Trong lịch sử, những tì thiếp trinh liệt, nô bộc trung thành, cho tới tôi thần không thờ hai vua, và những viên chức suốt đời làm việc trong một ngành nghề, phần lớn đều thuộc hệ sao này.

Khi đến 12 cung của đại hạn hoặc lưu niên, "Liêm Trinh, Thiên Phủ" không ưa những tinh hệ có tính trở ngại, chìm nổi thất thường, vì vậy không ưa đến cung hạn Thất Sát, Phá Quân, cũng không ưa đến đại hạn hoặc lưu niên Tham Lang Hóa Kị. Mà rất ưa các cung hạn "Thái Dương, Thiên Lương" được cát hóa, Tham Lang Hóa Lộc hay Quyền, và Tử Vi có tính chất quân bình, trung hòa; được vậy có thể thoát khỏi tình trạng hiện có, hoặc nâng cao địa vị xã hội, hoặc trong vận hạn sẽ phát tài, trở nên giàu có.

"Liêm Trinh, Thiên Phủ" tình cảm quá yếu ớt, mà lí trí lại không giữ quỹ đạo chính, thường chọn hướng có lợi cho bản thân một cách tùy tiện, cũng vì vậy mà quan hệ giao tế rất tệ.

Người Quảng Đông có câu nói:

"Chỉ cần được uống một tách cà phê thì có thể làm chuyện bất lợi cho bạn bè."

Đó là tính cách của tinh hệ này.

Khi đến 12 cung hạn, "Liêm Trinh, Thiên Phủ" ưa gặp "Thái Âm Hóa Lộc", "Tham Lang Hóa Quyền", "Thiên Đồng, Cự Môn (Hóa Lộc, Quyền)", Thiên Cơ Hóa Lộc, Tử Vi Hóa Quyền. Được vậy thì có thể đắc ý, vì luôn nuôi dưỡng được tính dứt khoát về tình cảm, quan hệ giao tế cũng có khá tốt. Nếu đến các cung hạn có Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, mà không gặp cát hóa, lại không gặp sao lộc của niên vận, hoặc đến các cung hạn "Thiên Đồng, Cự Môn" Hóa Kị, "Thái Dương, Thiên Lương" Hóa Kị, Thiên Cơ Hóa Kị, chủ về có thể làm những việc gây tổn thương tình cảm.

"Liêm Trinh, Thiên Phủ" tình cảm yếu ớt, mà lí trí nặng về chính đạo, ở trong tinh bàn, thì hai cung Tử Vi, Thất Sát tọa thủ tất sẽ có kết cấu sao tốt. Khi đến 12 cung hạn, chỉ cần không gặp phải tinh hệ rắc rối về tình cảm, hoặc tinh hệ chủ về sinh hoạt vật chất thiếu, đại khái đều là vận tốt. Gặp "Thiên Đồng, Cự Môn" một cung với các sao đào hoa; hoặc Thiên Đồng Hóa Kị; Tham Lang là "Phiếm thủy đào hoa"; Thái Âm đối nhau với Thiên Cơ Hóa Kị; thảy đều chủ về gây ra rắc rối về tình cảm. Gặp Thái Âm Hóa Kị; Tham Lang Hóa Kị; "Vũ Khúc, Thiên Tướng" Hóa Kị hay thuộc "Hình kị giáp ấn"; Thiên Cơ, Phá Quân gặp các sao sát, kị, hình trùng trùng; thảy đều chủ về sinh hoạt vật chất túng thiếu. Phàm gặp những trường hợp này đều phải xem xét kĩ phi tinh của đại vận hoặc lưu niên mà định.

Tinh hệ "Liêm Trinh, Thiên Phủ" rất xem trọng sự điều hòa giữa tình cảm và lí trí. Nếu tinh hệ nguyên cục quân bình tình cảm và lí trí, là kết cấu tốt. Nếu không quân bình tình cảm và lí trí, lúc đến 12 cung hạn, càng cần phải chú ý, xem các sao của cung hạn này có làm tăng sự mâu thuẫn giữa tình cảm và lí trí hay không. Nếu có sẽ xảy ra sự cố trong vận hạn.

Ở đây xin cử một ví dụ để giúp bạn đọc hiểu rõ hơn.

"Liêm Trinh, Thiên Phủ" an mệnh ở cung Thìn, người sinh năm Ất có Kình Dương đồng độ. Tức Thất Sát của đối cung cũng có Kình Dương triều củng. Cung tam hợp có Tử Vi Hóa Khoa; tinh hệ "Vũ Khúc, Thiên Tướng" thì có Kình Dương, Đà La chiếu xạ.

Kết cấu tinh hệ này có sắc thái thiên nặng về lí trí. Nhưng nếu tinh hệ "Liêm Trinh, Thiên Phủ" lại có các sao Hồng Loan, Thiên Hỉ, Văn Xương, Văn Khúc hội hợp, đồng thời còn gặp các tạp diệu Linh Tinh, Địa Không, Âm Sát, Thiên Hư, sẽ gây ra sự xung đột giữa tình cảm và lí trí. Biểu hiện cụ thể là có thái độ nhàn nhã, không bị bức bách, thiếu quyết đoán, muốn thay đổi nhưng lại không chịu tự nguyện thay đổi (ví dụ như có cơ hội thay đổi công việc, nhưng lại có lối suy nghĩ "làm việc lạ không bằng làm việc đã quen thuộc", muốn dứt khoát với bạn tình cũ, nhưng về tình cảm vẫn còn vướng vít, chưa dứt khoát...).

Giả dụ như đến đại hạn Quý Mùi, "Thiên Đồng, Cự Môn" thủ mệnh, Cự Môn Hóa Quyền, nhưng có Kình Dương, Đà La của đại hạn hội chiếu, thành kết cấu thiên nặng về lí trí.

Nhưng đến lưu niên Bính Tuất, Thất Sát thủ cung mệnh của lưu niên, đối cung là Liêm Trinh Hóa Kị dẫn khởi sức mạnh của các sao đào hoa, lại bị Kình Dương, Đà La của lưu niên chiếu xạ, do đó giữa tình cảm và lí trí sẽ xảy ra xung đột, chủ về vì xử sự theo tình cảm nhất thời mà trong đời có thể bị tổn thất hoặc gặp trở ngại.

Lúc này, ở cung tài bạch của lưu niên có Tham Lang Hóa Kị (vận Quý), lại có Kình Dương của lưu niên bay vào cung; vì vậy xảy ra chuyện tranh đoạt tiền bạc, làm tổn thương tình cảm.

Xem xét 12 cung, cung phu thê của lưu niên bị sao quyền (Cự Môn Hóa Quyền) và sao hình (Thiên Lương) giáp cung; Phá Quân Hóa Lộc bị Kình Dương và Đà La của nguyên cục chiếu xạ; Thái Âm ở cung phu thê của đại vận, bị Kình Dương và Đà La của đại vận chiếu xạ, Kình Dương và Đà La của lưu niên giáp cung, lại thêm ở đại vận hóa làm sao khoa, vì vậy bị tổn thương tình cảm, đối tượng mâu thuẫn lợi ích có thể là người phối ngẫu, bạn tình, hoặc thân thuộc của người phối ngẫu (như anh em bên nhà vợ).

Ví dụ trên đây cần phải xem hội hợp với các sao phụ tá, sát, hình và tạp diệu nào để đoán định chi tiết phát sinh. Hơn nữa, vẫn cần phải phối hợp với tính chất của các tinh hệ quá khứ và tương lai để truy tìm căn nguyên và kết cục của sự kiện. Ví dụ nêu ra ở đây chỉ là đại cương mà thôi, nhưng biết được nguyên tắc này có thể trợ giúp cho việc luận đoán.


Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái