Bài tổng quan
Sao cô độc của người tu và ba lá số điển hình
Có người đi tu vì đời bạc, có người vì tình phụ, có người vì cả cuộc đời vốn đã lẻ bóng từ trước. Những ngôi sao Cô Thần, Quả Tú, Đẩu Quân đứng cạnh nhau trên lá số như một lời báo trước. Nhưng để biết các sao ấy hợp lại ra sao trên một đời người, phải đặt tay lên những lá số thật, từ một nguyên thủ quốc gia cho đến một vị võ tướng nằm lại chiến trường…
Những sao thất bại ở đời
Chiếu theo sách vở Tử Vi, chúng ta ghi nhận được các bộ sao dưới đây nói lên những thất bại ở đời, khiến con người xa lánh vòng trần lụy.
Những sao này thường đóng ở Mệnh, Thân, có thể là ở Phúc mang ý nghĩa tương tự:
- Tử Vi với sát tinh
- Vũ Khúc với sát tinh
- Thiên Phủ, Tuần, Triệt với sát tinh
Sự hiện diện của sát tinh bên cạnh các sao Tử, Phủ, Vũ cho thấy 3 sao này rất kỵ sát tinh, đồng thời tạo phá cách cho Tử Vi, Thiên Phủ và Vũ Khúc. Đây là phá cách gọi chung “đế ngộ hung đồ”, nghĩa là vua bị vây hãm bởi hung binh, không phát huy được quyền năng. Điều này ngụ ý một kẻ thất bại, bất đắc chí ở trường đời.
Sách vở còn nói rõ ràng các bộ sao trên là của thầy tu:
- Cơ, Lương, Kình, Đà, Linh, Hỏa, Tướng
- Cơ, Lương, Tuần, Triệt với sát tinh
- Xương, Khúc, Tuần, Triệt với sát tinh
Như ta nhận thấy dù với Tử, Phủ, Vũ hay với Cơ, Lương, Xương, Khúc sự hiện diện của sát tinh hoặc Tuần, Triệt đều tạo sự thất bại trên đường đời. Xem ra, Không, Kiếp, Tuần, Triệt và Kình, Đà, Hỏa, Linh hội hợp đều tạo nghiệp chướng ở trần gian, gieo những bất hạnh nặng nề cho kiếp sống con người, thúc đẩy thế nhân đi tìm nguồn an ủi khác trong cõi đạo. Các sách vở đều cho rằng các bộ sao trên cũng là của thầy tu.
Tử, Tham với Không, Kiếp
Các sách vở đều đồng nhất cho rằng Tử, Tham ở Mão Dậu là người yếm thế, bi quan có khiếu tu hành. Gặp thêm Không, Kiếp là bị nghiệp chướng ở đời.
Có quan điểm cho rằng riêng Tử, Tham cũng đủ chỉ cách đi tu, thêm Không, Kiếp thì càng chắc chắn. Nhưng có quan điểm lại cho rằng vì Không, Kiếp nên người tu sẽ không trọn kiếp, nửa đường phá giới, trở lại trần hoàn.
- Mệnh vô chính diệu gặp sát tinh.
- Sát tinh vây hãm các cung cường.
Hai cách này đều được xem là cách của người dễ đi tu.
Hồng loan, Thiên Không
Hồng loan chỉ ái tình, Thiên Không chỉ phá tan, thất bại. Cả hai sao lại khắc hành: Không hành Hỏa, Hồng hành Thủy. Cho nên bộ sao này chỉ kẻ thất bại vì tình, thường tìm sự đoạn tuyệt nghiệp tình để đi tu.
Ngoài các bộ sao nói lên thiện căn và thất bại ở đời còn phải kể thêm các sao chỉ đặc tính cô độc của người đi tu.
Những sao cô độc và những sao hãm địa
Có người đi tu vì trong lòng có sẵn tâm từ, có người vì đời đẩy đi, và có người vì cả cuộc đời họ vốn đã một mình.
Cô độc ở đây được hiểu theo một phạm vi rộng rãi. Chẳng những chỉ những người có cá tính cô độc mà còn chỉ cả những người có hoàn cảnh cô đơn: không vợ, không chồng hay không con cái.
Những cá tính cô đơn thường có những sao dưới đây:
- Cô thần, Quả tú
- Đẩu quân
- Vũ khúc
Bốn sao này thường điển hình cho sự cô độc, nói rộng hơn là sự đơn thân, lẻ bóng trong gia đạo, dù đóng ở Mệnh, Thân hay Phu Thê, Tử. Càng gặp nhiều, tình trạng cô đơn càng chắc chắn, nhất là đối với nữ số.
Những hoàn cảnh cô đơn đều có các sao xấu ở cung Phu Thê và Tức Tử.
Ba loại sao thiện căn, thất bại và cô độc kết hợp nhau phá hoại hạnh phúc thế tục một cách chắc chắn và là ba động lực thúc đẩy con người đi tu cho rảnh nợ trần ai. Nếu chỉ gặp 1 hoặc 2 loại, cần phải cân nhắc nặng nhẹ tùy theo cá tính, tùy theo cường độ của lãnh vực bị bất hạnh.
Đối với nữ số, cung Phu rất quan trọng, phải được xem là lãnh vực quyết định hạnh phúc của họ. Những bất hạnh gia đạo trong số phụ nữ rất dễ trở thành động lực duy nhất thúc đẩy họ vào kiếp tu hành. Nếu họ còn con cái, triển vọng tu có thể giảm nhiều. Ngược lại, nếu họ tuyệt tự càng dễ quyết đoán xu hướng xuất thế.
Các sao hãm địa
Nếu chính tinh thủ Mệnh, Thân, Phúc hay nói xa hơn ở Phu Thê mà hãm địa thì con người thường gặp bất hạnh trong lĩnh vực đó. Nếu phụ tinh cùng hãm địa theo thì bất hạnh tăng gia, không hẳn cần phải có sát tinh đi kèm.
Điều quan yếu cho người đời là tại các cung cường, không có sao hãm nói chung hoặc sát tinh xâm phạm, ngược lại nếu gặp phải thì rất dễ kết luận xu hướng thoát tục.
Giải đoán vài lá số điển hình
Sau bao nhiêu quy tắc, đến lúc đặt tay lên những lá số thật, để xem các sao ấy đứng cạnh nhau trên một đời người ra sao.
Để giúp bạn đọc làm quen với thuật giải đoán lá số, chương này trình bày một vài lá số điển hình, kèm theo đôi lời giải đoán.
Để tôn trọng đời tư của mỗi cá nhân, lá số sẽ không ghi tên họ, ngày tháng năm sinh. Và ngay trong lời giải, tác giả chỉ đứng trên phương diện kỹ thuật thuần túy, tức là suy diễn từ các sao, các cung, những nét cá tính và những đặc điểm của đời người tuyệt nhiên không xét đến khía cạnh đạo đức, nhân quyền, mỹ tục hay phân biệt nam nữ, vốn là lãnh vực mà mọi người cầm bút có ý thức phải cẩn trọng. Tác giả chỉ muốn làm công tác thuần túy và giữ cho sách này có giá trị và tác dụng văn hóa của nó. Nếu chẳng may độc giả nào tìm thấy số mình trùng hợp với một trong những lá số sau đây thì điều đó nằm ngoài ý muốn của tác giả.
Xin thưa trước rằng 12 lá số dưới đây không nói lên đủ các cách, mà chỉ là những trường hợp điển hình. Chương này cốt hướng dẫn những ai muốn thực tập xem số bước vào địa hạt thực hành trên một số vận mệnh chọn lọc mà thôi.
Lá số điển hình gồm có:
- Số nguyên thủ quốc gia
- Số võ tướng tử trận
- Số bị ám hại
- Số giàu bị vợ ngoại tình và sang đoạt
- Nữ số quý hiển
- Số yểu sinh
- Số goá bụa
- Số phụ nữ năng toàn
- Số gái giang hồ
- Số chồng chết sớm
- Số hoạn nạn
- Số người đi tu
Số nguyên thủ quốc gia
Dương nam, Bản Mệnh Hải Trung Kim, Thủy Nhị Cục.
| Cung | Các sao |
|---|---|
| Nô | Thái Dương*; Hóa Kỵ, Văn Tinh, Kiếp Sát, Thiên Trù, Phá Toái, Nguyệt Đức, Tử Phù, Địa Giải, Tiểu Hao, Tuyệt, Thiên Thương; hạn 52 |
| Di | Phá Quân*; Đường Phù, Hóa Quyền, Thiên Hư, Thái Phụ, Thiên Khốc, Thiên Giải, Tuế Phá, Tướng Quân, Thai; hạn 62 |
| Tật | Thiên Cơ°; Thiên Việt, Thiên Quan, Thiên Hình, Long Đức, Thiên Sử, Tấu Thư, Dưỡng; hạn 72 |
| Tài | Tử Vi*, Thiên Phủ*; Phi Liêm, Bạch Hổ, Tràng Sinh |
| Quan | Vũ Khúc*; Hóa Khoa, Văn Khúc, Hoa Cái, Quan Phủ, Long Trì, Thiên La, Thanh Long, Mộ, Tam Thai; hạn 42 |
| Tử | Thái Âm*; Thiên Phúc, Đào Hoa, Thiên Đức, Lưu Hà, Thiên Hỷ, Mộc Dục, Phúc Đức, Hỷ Thần |
| Điền | Thiên Đồng°; Hồng Loan, Kinh Dương, Lực Sĩ, Thiếu Âm, Thiên Quý, Tử; hạn 32 |
| Thê | Tham Lang°°; Quả Tú, Quốc Ấn, Điếu Khách, Văn Xương, Bệnh Phù, Phượng Các, Quan Đới, Giải Thần, Linh Tinh, Bát Tọa, Địa Võng |
| Phúc | Thất Sát*; Lộc Tồn, Cô Thần, Phong Cáo, Tang Môn, Tả Phù, Bệnh, Thiên Mã, Hỏa Tinh, Bác Sĩ, Đẩu Quân; hạn 22 |
| Phụ | Thiên Lương°; Đà La, Thiên Khôi, Suy, Thiếu Dương, Thiên Không, Quan Phù; hạn 12 |
| Mệnh, Thân | Liêm Trinh°°, Thiên Tướng°°; Hóa Lộc, Thái Tuế, Hữu Bật, Phục Binh, Đế Vượng, Thiên Tài, Thiên Thọ; hạn 2 |
| Bào | Cự Môn°; Địa Không, Thiên Y, Địa Kiếp, Lâm Quan, Thiên Riêu, Ân Quang, Trực Phù, Đại Hao |
1. Mệnh cục tương sinh. Mệnh Kim sinh Thủy Cục. Mệnh Kim tọa Thủy ở cung Thủy (Tý).
2. Bản Mệnh và chính tinh thủ Mệnh có tương sinh. Mệnh Kim gặp Thiên Tướng sao Thủy, nên ăn nhờ Thiên Tướng sao Thủy; chỉ bất lợi với Liêm Trinh sao Hỏa, không hợp với Mệnh Kim, nhưng có Thiên Tướng sao Thủy chế Liêm Trinh.
3. Âm dương thuận lý.
- Đàn ông, tuổi dương
- Tuổi dương được Mệnh đóng ở dương cung (Tý)
- Tuổi dương được Thân đóng ở dương cung (Tý)
- Các cung Quan, Di, Tài, Phúc đều là dương cung
4. Các ưu thế văn võ kiêm toàn. Tử Phủ Vũ Tướng các hội Liêm Phá, chỉ riêng Tử Phủ bị Triệt, các sao khác đều đắc địa hết.
- Quan Lộc có Vũ miếu địa ở Thìn, có Mộ đi với Thai tọa.
- Vũ Khúc lại đồng cung với Văn Khúc.
- Bộ Thiên Tướng, Phục Binh ở Mệnh và bộ Tướng Quân, Phá Quân ở Di chỉ võ cách cầm quân.
- Có đủ Tam Hóa: Khoa Quyền Lộc chiếu Mệnh.
- Quan Lộc lại đắc Tứ Linh, đắc Phi Hổ (hùm mọc cánh), đắc Thanh Long ở Thìn (Long cung).
- Tử Phủ có Thiên Tướng, Hữu Bật phò tá, Sinh Vượng trợ lực, Nô cung có Thái Dương sáng sủa tọa thủ.
- Tuế Binh, Khốc Hư, Hổ chỉ nghề chính trị, Tuế, Phù chỉ người làm luật, hành luật, cầm luật.
- Sát tinh đều xa lánh các cung cường.
Số võ tướng tử trận
Âm nam, Bản Mệnh Lộ Bàng Thổ, Thủy Nhị Cục.
| Cung | Các sao |
|---|---|
| Mệnh | Vũ Khúc↑, Phá Quân↑; Quốc Ấn, Điếu Khách, Thiên Phúc, Thiên Mã, Lâm Quan, Tướng Quân; hạn 2 |
| Phụ | Thái Dương*; Hóa Quyền, Trực Phù, Thiên Khôi, Tiểu Hao, Thiên Trù, Quan Đới, Thiên Thọ |
| Phúc | Thiên Phủ°; Hoa Cái, Thanh Long, Thái Tuế, Tam Thai, Mộc Dục, Bát Tọa, Linh Tinh, Địa Giải |
| Điền | Thiên Cơ°°, Thái Âm°°; Thiên Giải, Đà La, Hồng Loan, Địa Kiếp, Thiếu Dương, Kiếp Sát, Lực Sĩ, Cô Thần, Tràng Sinh, Thiên Không |
| Bào | Thiên Đồng; Lưu Hà, Tả Phù, Quả Tú, Thiên Đức, Thiên La, Phúc Đức, Đẩu Quân, Tấu Thư, Đế Vượng; hạn 12 |
| Quan | Tử Vi, Tham Lang↑; Lộc Tồn, Bác Sĩ, Thiên Hình, Dưỡng, Tang Môn, Thiên Quan |
| Thê | Phượng Các, Giải Thần, Bạch Hổ, Phi Liêm, Suy, Ân Quang, Thai Phụ; hạn 22 |
| Nô | Cự Môn↑; Kinh Dương, Hóa Lộc, Quan Phủ, Hữu Bật, Thai, Thiếu Âm, Địa Võng, Thiên Thương |
| Tử | Đường Phù, Thiên Hỷ, Địa Không, Thiên Việt, Bệnh, Long Đức, Hỷ Thần; hạn 32 |
| Tài | Liêm Trinh°, Thất Sát°; Tử, Phá Toái, Văn Xương, Hóa Kỵ, Văn Khúc, Thiên Riêu, Hóa Khoa, Thiên Hư, Thiên Y, Tuế Phá, Bệnh Phù; hạn 42 |
| Tật | Thiên Lương*; Tử Phù, Văn Tinh, Đại Hao, Đào Hoa, Thiên Sử, Nguyệt Đức, Mộ, Thiên Tài, Hỏa Tinh; hạn 52 |
| Di, Thân | Thiên Tướng°°; Thiên Khốc, Phong Cáo, Quan Phù, Long Trì, Phục Binh, Thiên Quý, Tuyệt; hạn 62 |
1. Những cách hay.
- Cung Phúc có đủ sắc địa, hợp Mệnh Thổ, đóng ở cung Âm hợp tuổi Âm
- Cung Phúc có nhiều bộ Trung Linh hội tụ: Thai tọa, Xương Khúc, Long, Phượng, Quang, Quý, Khoa, được thêm Tứ Linh (Long, Phượng, Hổ, Cái) và Phi, Hổ
- Cung Phúc giáp Nhật Nguyệt cùng sáng sủa và Khôi Quyền
- Cung Mệnh có Bình, Hình, Tướng, Ấn; có Vũ, Phá hãm địa gặp Triệt cho nên sáng sủa và hiển hách, thêm Mã, Khốc, Khách hội tụ với Thiên Quan, Thiên Phúc, Hóa Khoa, Thiên Quý, trong cách Tử Tham ở Dậu cho thấy chí hướng đi tu, vọng đạo và bản chất hiền lương
- Tuổi Âm, Mệnh, Thân, được Âm hợp vì đóng ở Âm cung
2. Những cách hiểm nguy, tai họa.
- Mệnh Cục tương khắc
- Mệnh Triệt, Thân Tuần
- Mệnh có Tướng Quân ngộ Triệt. Thân có Thiên Tướng này; bị thêm Khốc, Tử, Hư, Tuyệt, Binh, Kỵ, Riêu
- Cung Phúc có Linh lại giáp tiếp Đà, Thiên, Không, Kiếp Sát, cho thấy tai biến lúc nào cũng gần kề. Những sao dữ này lại nhị hợp với cung Mệnh
- Cung Tật bị trở lại Thiên Không, Địa Kiếp, Kiếp Sát, Đà La, Hỏa Tinh
Bấy nhiêu cái dữ phối hợp khiến cho số này vinh quang nhờ võ nghiệp mà chết cũng nhờ võ nghiệp trong một tai nạn binh đao. Những cách hay kể trên không cứu gỡ được, chỉ làm cho đương số hiển đạt mà thôi.
Số bị ám hại
Âm nam, Bản Mệnh Đại Lâm Mộc, Kim Tứ Cục.
| Cung | Các sao |
|---|---|
| Tài | Tử Vi°, Thất Sát°°; Phượng Các, Đà La, Giải Thần, Thái Tuế, Tràng Sinh, Lực Sĩ; hạn 44 |
| Tử | Lộc Tồn, Lưu Hà, Đào Hoa, Thiên Không, Thiếu Dương, Bác Sĩ, Linh Tinh, Thiên Thọ, Dưỡng; hạn 34 |
| Thê | Kinh Dương, Tả Phù, Địa Kiếp, Hữu Bật, Tang Môn, Bát Tọa, Quan Phủ, Tam Thai, Thai, Hỏa Tinh, Quan Phù; hạn 24 |
| Bào | Thiên Việt, Cô Thần, Thiên Trù, Phục Binh, Thiếu Âm, Tuyệt; hạn 14 |
| Tật | Thiên Cơ*, Thiên Lương*; Thiên Riêu, Hóa Khoa, Quả Tú, Thiên Y, Trực Phù, Thiên Hỷ, Mộc Dục, Thanh Long, Thiên Sử, Thiên La |
| Mệnh | Phá Quân↑, Liêm Trinh↑; Mộ, Văn Tinh, Phá Toái, Thiên Quan, Đại Hao, Long Trì, Quan Phù; hạn 4 |
| Di | Thiên Tướng°°; Địa Không, Quan Đới, Tiểu Hao, Điếu Khách |
| Phụ | Phong Cáo, Tử Phù, Nguyệt Đức, Bệnh Phù, Hồng Loan, Đẩu Quân, Địa Giải, Địa Võng, Tử |
| Nô | Cự Môn°°, Thái Dương°°; Quốc Ấn, Kiếp Sát, Thiên Phúc, Tướng Quân, Thai Phụ, Thiên Thương, Văn Xương, Lâm Quan, Thiên Tài, Phúc Đức, Thiên Đức |
| Thân, Quan | Tham Lang*, Vũ Khúc*; Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hoa Cái, Thiên Khốc, Tấu Thư, Bạch Hổ, Đế Vượng, Ân Quang, Thiên Quý |
| Điền | Thái Âm°°, Thiên Đồng°°; Thiên Khôi, Hóa Kỵ, Văn Khúc, Thiên Hình, Long Đức, Suy, Phi Liêm |
| Phúc | Thiên Phủ°°; Đường Phù, Tuế Phá, Thiên Giải, Thiên Hư, Thiên Mã, Bệnh, Hỷ Thần |
1. Những cách hay.
- Cách Sát Phá Liêm Tham hội Vũ, Tướng đắc địa.
- Cung Thân có các tinh chiếu, giáp và thủ: Lộc, Quyền, Quan, Quý, Cái, Tấu, được Long, Phượng, Khai, Tọa, Tả, Hữu chiếu, giáp Nhật, Nguyệt cùng sáng, Xương, Phúc, Khôi. Đây là người có đủ khoa danh, quyền tước, tiền bạc, công sự.
2. Những cách hiểm tai phối hợp nhau.
- Mệnh Mộc bị Cục Kim khắc.
- Mệnh đóng ở cung Dậu (Kim), bị khắc một lần thứ 2.
- Mệnh lại bị Triệt gặp Địa Không, Quan Đới, chủ về chết bất đắc và làm cho cuộc đời thăng trầm.
- Phúc có Phủ gặp Thuần (Phủ phùng Không) lại bị ngũ sát tinh xâm phạm: Không, Kiếp, Kinh, Đà, Hỏa, lại thêm Tả, Hữu trợ lực, Quan Đới tam chiếu.
- Thân lại gặp Kiếp, Kinh, Đà, Hỏa, được Quyền, Tả, Hữu trợ lực, gặp thêm Tang, Hổ, Khốc. Dù có Lộc, Quyền, Quang, Quý, Thái Cực, Tọa, Long, Phượng cũng không giải nổi. Cần lưu ý thêm là năm Hợi ở Thân có đủ Sát Phá Liêm Tham lẽ ra phải phối hợp với Kiếp, Kình, Đà, Hỏa mà vẫn không gỡ hết nổi tai biến.
Tai biến này có những nét đặc biệt:
- Chết vì lửa do ảnh hưởng của Không, Kiếp, Hỏa là những sao hỏa.
- Có tòng phạm ám sát vì có Tả Hữu đi với Kiếp, Hỏa, Kình, Đà.
- Chết mau chóng vì sao Hỏa, còn Không, Kiếp, Quan Đới chỉ sự bất khả kháng.
- Chết vào năm Hợi 43 tuổi. Tiểu hạn tại Quan, lưu niên đại hạn tại Tử, nơi đây có Thiên Không, Linh, Hình, Kỵ nhị hợp bởi Kiếp, Kình, Hỏa, Tả, Hữu. Nếu tính thêm sao lưu động thì vào năm Hợi có Lưu Tang, khiến cho cung Quan bị song Tang, song Hổ, song Khốc, song Hư, hội với Kiếp, Kình, Đà, Hỏa, Tả, Hữu, Quyền.
Với bấy nhiêu hiểm tai, các cách hay kể trên không hóa giải nổi.
Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp – Nguyễn Phát Lộc
