Bài tổng quan
Khoa Minh Lộc Ám và những cách cục công hầu qua câu phú cổ
Cùng một Vũ Khúc miếu ở Thìn Tuất, nhưng thượng cách hay chỉ thứ cách còn tùy đúng vị trí. Thay vì giảng theo cung theo sao, phú cổ dẫn qua hàng loạt câu phú cổ, mỗi câu một số phận: từ Chu Bột bỗng được phong tướng đến Nhan Hồi yểu mệnh vì một sao Văn Xương hãm địa...
Mục lục · 1 phần
Phú cổ không chia theo sao, theo cung mà chia theo từng câu phú cổ nối tiếp nhau, mỗi câu một cách cục, mỗi cách cục một mảnh đời được đem ra minh họa. Phú mở đầu bằng chính bộ Vũ Khúc, sao tài tinh vẫn được ví là thỏi vàng ròng của lá số.
Từ Vũ Khúc đến Khoa Minh Lộc Ám
Mệnh có Vũ Khúc tọa thủ tại cung Thìn hoặc Tuất là thượng cách, tại cung Sửu hoặc Mùi là thứ cách. Nếu gặp Quyền Lộc Tả Hữu Xương Khúc thì cũng đoán theo ý như vậy.
Khoa minh Lộc ám vị liệt tam đài
Nhật Nguyệt đồng lâm quan cư hầu bá.
Người Tử Vi Giáp Mệnh lập tại Hợi có Khoa tọa thủ tại cung Dần có sao Thiên Lộc, và vì cung Dần cung Hợi là cung hợp của nhau, do thế thành cách Khoa Minh Lộc Ám chủ được quan vị về Hình Bộ (Tư Pháp). Cung Mệnh tại Sửu, Nhật Nguyệt ở Mùi, hoặc Mệnh an Mùi, Nhật Nguyệt tại Sửu là cách Nhật Nguyệt đồng lâm, chủ đắc phong tước vị (Công Hầu Bá Tử Nam). Vậy có câu quyết rằng: "Nhật Nguyệt đồng lâm luận đối cung, Bính Tân nhân ngộ phúc, hưng, long."
Thân Mệnh đồng cung tối hiềm nhập Mộ, hoặc cư Tuyệt xứ, vô chính diệu, hoan phùng Tả Hữu Sinh Vượng, hóa chung vi cát, chung thân vượng hưởng phúc tài. Cách Thân Mệnh đồng cung không có chính tinh, nếu cư tứ Mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi) hoặc Hợi cung là tối kỵ, nên rất cần gặp Sinh Vượng phụ bật là cách phản hung vi cát, người Thổ Mệnh là cách hợp được một đời phú quý song toàn.
Mệnh Tuần, Thân Triệt tu cần vô hữu chính tinh, vãn niên vạn sự hoàn thành khả đãi. Cung Mệnh có Tuần án ngữ, Thân cung ngộ Triệt thời không nên có chính tinh, gặp cách này về già sẽ được vạn sự hanh thông, tạo thành cơ nghiệp.
Cự Cơ đồng cung, công khanh chi vị
Tham ngộ Linh tinh chủ tướng tướng chi danh.
Người tuổi Dần, tuổi Ất, Mệnh an Mão, có Cự Cơ đồng thủ Mệnh và ngộ Xương Khúc, đắc thượng cách làm đến bậc công khanh; người tuổi Bính được thứ cách, người tuổi Đinh chỉ bình thường. Cung Mệnh an tại Thìn Tuất Sửu Mùi có Tham Lang và Linh Tinh tọa thủ, chắc chắn sẽ thành vị tướng uy quyền hiển hách.
Thiên Khôi Thiên Việt các thế văn chương
Thiên Lộc Thiên Mã kinh nhân giáp đệ.
Như cung Thân hoặc Mệnh có sao Thiên Khôi, tam hợp chiếu có Thiên Việt, hoặc Thân Mệnh cung có Thiên Việt, tam hợp chiếu có Khôi, là cách tọa Quý hướng Quý, chủ văn tài tuyệt vời, xuất chúng. Cung Mệnh có Thiên Lộc, Thiên Mã tọa thủ tại các cung Dần Thân Tỵ Hợi là cách lộc mã giao trì, nếu tam hợp lại có nhiều cát tinh thủ hoặc chiếu, tất cả là bậc sĩ tử có tài học làm kinh động người đồng khoa mà cao chiếm bảng vàng.
Tý Ngọ Tham Đào, Ất Kỷ Âm Nam, lập nghiệp do thê, kiêm năng sát diệu, hành sự dụng thê. Người sinh Âm Nam, tuổi Ất, Kỷ, Mệnh cung lập tại Tý Ngọ hội với Tham, Đào, có vợ là người đảm lược, lập thành cơ nghiệp. Trái lại rất kỵ hội với sát tinh, là người có thể quên điều chính nghĩa, dùng vợ vào các công việc mưu cầu danh lợi.
Tả Phụ Văn Xương hội cát tinh, tôn sư bát tọa
Tham Lang Hỏa tinh miếu vượng danh chấn chư bang.
Hai sao Tả Phụ Văn Xương tọa thủ Thân Mệnh cung, tam hợp cát tinh củng chiếu, chủ đắc cao vị nơi đài cao gác tía. Tham Lang và Hỏa Tinh đồng tọa Mệnh cung tại Thìn Tuất Sửu Mùi là thượng cách, chủ nổi danh, khiến quốc gia lân bang phải kiêng nể. Nếu tam phương có cát tinh củng chiếu thì càng thập phần tốt đẹp, nhưng nếu Mệnh an tại Mão dù không gặp sao hung sát cũng chỉ được thứ cách, gặp Dương Đà Không Kiếp là bị phá cách.
Cự Nhật đồng cung, quan phong tam đại
Tử Phủ triều viên, thực lộc vạn chung.
Sao Cự Môn Thái Dương thủ Mệnh tại cung Dần không gặp Kiếp Không Tứ Sát Tinh là thượng cách, ba đời kế tiếp làm quan. Nếu Mệnh an tại cung Thân chỉ là thứ cách. Thái Dương thủ Mệnh ở cung Tỵ, tại cung Hợi có Cự Môn cũng được thượng cách; nhưng nếu Thái Dương thủ Mệnh tại cung Hợi, cung Tỵ có Cự Môn lại là không đẹp. Mệnh tại cung Dần, cung Ngọ có Tử Vi, cung Tuất có Thiên Phủ, hoặc Mệnh tại cung Thân, tại cung Thìn và Tý có Tử Vi Thiên Phủ, đều được cách Tử Phủ triều viên, chủ "vi nhân quân phỏng thần chi tượng", tức là bậc phụ chính thân thần. Nếu lưu nhị hạn ngộ Lộc, tất vị chí công khanh.
Thìn cung thượng khởi Cơ Lương, Giáp Nhâm dương nữ, lợi tử thương phụ
Âm Nam Ất Quý, duy thê khắc hại, do phú thành vinh.
Dương Nữ tuổi Giáp Nhâm, Mệnh lập tại cung Thìn hội với hai sao Thiên Cơ Thiên Lương là người đảm lược, nhiều con nhưng khắc chồng, tất trung niên phải phòng không chiếc ảnh. Người Âm Nam tuổi Ất Quý, nhờ phú cách mà sau thành danh, nhưng khắc vợ.
Khoa Quyền đối củng, dược tam cấp ư Vũ Môn
Nhật Nguyệt tịnh minh, tá cửu trùng ư kim điện.
Sao Hóa Khoa, Hóa Quyền đóng tại các cung Tài Bạch, Thiên Di hay Quan Lộc, tam phương cũng đối chiếu, hoặc cung Mệnh có Hóa Khoa, hai sao Quyền Lộc tại tam phương chiếu lại, chủ sự vượt qua được ba kỳ khảo thí, cao chiếm bảng vàng, hoặc rồng mây hội được tiến cử và được trọng dụng, hiển đạt. Người tuổi Tân tuổi Ất an Mệnh tại Sửu gặp Thái Dương tại cung Tỵ, Thái Âm tại cung Dậu triều lai là đắc cách, tất được bậc anh quân trọng dụng (làm quan tại điện nhà vua); người tuổi Bính được quý cách, người tuổi Đinh chỉ được phú cách.
Phủ Tướng đồng lai hội Mệnh cung, toàn gia thực lộc
Tam hợp minh châu sinh vượng địa, ổn bộ thiềm cung.
Thân Mệnh cung an tại miếu vượng địa, Thiên Phủ Thiên Tướng tại tam hợp cung chiếu lại, và hội nhiều cát tinh là được cách Phủ Tướng triều viên, phú quý song toàn. Có câu rằng: "Phủ Tướng triều viên cách tối lương, xuất sĩ vi quan đại cát xương." Như Mệnh viên an tại Mùi cung, gặp Thái Dương tại cung Mão, Thái Âm tại cung Hợi triều lai, là hợp cách "minh châu xuất hải", tất được tài quan song mỹ. Hoặc Thái Dương thủ Mệnh tại cung Thìn và Thái Âm ở cung Tuất đối chiếu, cũng như Thái Âm thủ Mệnh tại cung Tuất, sao Thái Dương tại cung Thìn đối chiếu, tất chủ quý hiển, bệ vệ ở chốn thiềm cung vậy.
Thất Sát, Phá Quân nghi xuất ngoại
Cơ Nguyệt Đồng Lương tác lại nhân.
Thất Sát hoặc Phá Quân thủ Thân Mệnh, dù ở miếu địa đắc cách, vẫn nên ly hương tạo nghiệp, có như vậy mới hoàn toàn ứng hợp với vận mạng, hầu tránh được những bất trắc, gây trở ngại trong đời (sao Thất Sát đóng các cung Dần Thân, sao Phá Quân đóng cung Tý và Ngọ, đúng vào cách như trên). Bốn sao Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng và Thiên Lương thuộc một tinh bộ, tất phải đóng vào Thân Mệnh và các cung tam hợp mới là "khúc toàn", chủ có biệt tài về văn án, văn từ, làm quan, làm lại. Nếu gặp sát tinh hay Hóa Kỵ là hạ cách. Có câu quyết rằng: "Dần Thân hội Đồng Lương Cơ Nguyệt tất định tác lại nhân, nhược vô tứ tinh, tam giả nan thành", nghĩa là nếu không hội đủ Đồng Lương Cơ Nguyệt bốn sao mà chỉ có ba sao, tất không thành cách được.
Tử Phủ Nhật Nguyệt cư vượng địa, đoán định công hầu khí
Nhật Nguyệt Khoa Lộc Sửu cung trung, định thị phương bá công.
Sao Tử Vi đóng cung Ngọ, Thiên Phủ tại Tuất, Thái Dương tại Mão, Hợi lại được tam Hóa đóng tại Thân Mệnh cung, là cách Tử Phủ Nhật Nguyệt cư vượng địa, thành bậc công hầu. Nếu ngộ Sát Kiếp Không Kỵ là ngọc quý có vết, "mỹ ngọc hà điểm" bị phá cách. Mệnh viên an tại Sửu Mùi có Thái Dương, Thái Âm và Khoa Lộc tọa thủ là đắc cách, chủ được phong tước vị công hầu bá. Nhưng nếu không gặp cát tinh và sao Hóa thì tuy Nhật Nguyệt đồng cung cũng không cát lợi. Có câu quyết rằng: "Nhật Nguyệt Sửu Mùi mệnh trung phùng, tam phương vô cát phúc vô sinh, nhược hoàn cát hóa phương vi mỹ, phương diện uy quyền, phúc lộc tăng."
Thiên Lương, Thiên Mã hãm phiêu đãng vô nghi
Liêm Trinh Sát bất gia thanh danh viễn bá.
Sao Thiên Lương thủ Mệnh thất hãm tại các cung Thân, Tỵ, Hợi, có Thiên Mã đồng hãm với Hỏa Không Kiếp, chắc thành người phiêu đãng, không phải nghi ngờ. Sao Liêm Trinh thủ Mệnh tại cung Mão, chủ quý hiển, hoặc có cát tinh tại tam hợp chiếu cũng được quý, nếu ngộ sát tinh chỉ bình thường. Hoặc Liêm Trinh thủ Mệnh tại cung Mùi hay cung Thân, không ngộ sát tinh, cũng được đại cát, tên tuổi được vang dội đến cả nơi xa.
Tuất cung tương tâm Tử Tướng, Âm Nam Tân Ất, thê vinh phú hoạch
Giáp Canh Dương Nữ, hoạch đạt tự thành.
Người sinh Âm Nam, tuổi Tân Ất, Mệnh lập tại Tuất cung có hai sao Tử Vi Thiên Tướng, Thủy Mệnh hợp đệ nhất cách sẽ hoạch phát tiền tài và thê vinh tử ấm. Cũng tại Tuất cung, người Dương Nữ, tuổi Giáp Canh thời tự mình bôn ba, tần tảo kinh doanh thương mại đảm lược, gây dựng được cơ nghiệp.
Lương Đồng viên ngộ Khôi Quyền, gia hội Kỵ Linh giao lai song Lộc
Doanh thương dị đạt phú cường.
Hai sao Thiên Lương Thiên Đồng thủ Mệnh, rất mừng gặp được Khôi Quyền, nếu gia thêm Kỵ Linh cùng với song Lộc, là người kinh doanh thương mại không phải lao lực mà thành triệu phú.
Nhật xuất lôi môn, phú quý vinh hoa
Nguyệt lãng thiên môn, tiến tước phong hầu.
Mệnh an tại cung Mão có Thái Dương tọa thủ, tam phương có Tả Hữu Khôi Việt Xương Khúc phụ chiếu, tất phú quý không thể nhỏ. Người tuổi Giáp Ất Canh Tân là hợp cách, nếu gặp tứ sát cũng được ấm no. Thái Âm thủ Mệnh tại cung Hợi, tam phương được cát tinh củng chiếu, chủ đại phú quý; nếu không có cát tinh phù củng, chỉ được công danh, chức vị nhỏ. Người tuổi Bính Đinh được quý hiển, người tuổi Nhâm Quý vượng về tiền bạc.
Dần phùng Phủ Tướng, vị đặng nhất phẩm chi vinh
Mộ phùng Tả Hữu, tôn cư bát tọa chi quý.
Mệnh viên an tại Dần có Thiên Phủ ở Ngọ, Thiên Tướng ở Tuất triều lai, người tuổi Giáp gặp cách này tất nhất phẩm vinh hoa. Sao Tả Phụ Hữu Bật thủ Mệnh tại các cung Thìn Tuất Sửu Mùi, hoặc tại ba cung Thiên Di, Quan Lộc, Tài Bạch có hai sao Tả Hữu, cũng chủ được đại phúc, đại thọ.
Lương cư Ngọ vị quan tư thanh hiển
Khúc ngộ Lương tinh vị chí đài cương.
Sao Thiên Lương thủ Mệnh tại cung Ngọ, chủ công danh quý hiển và là người liêm chính. Người tuổi Đinh là thượng cách, người tuổi Tỵ thứ cách, người tuổi Quý dù gặp cách này cũng chỉ vượng phát về tiền bạc. Mệnh viên tại cung Ngọ có Thiên Lương tọa thủ, gia hội Vũ Khúc miếu địa là thượng cách; Mệnh viên an tại cung Dần là thứ cách, nhưng quan vị cũng được tới chức Ngự Sử.
Khoa Lộc Tuần phùng Chu Bật, hân nhiên nhập tướng
Văn tinh âm củng Cổ Nghị, duẫn hĩ đăng khoa.
Như Mệnh viên có cát tinh tọa thủ, tam phương có Tam Hóa cùng cát tinh củng chiếu, là cách ông Chu Bật bỗng được phong tướng. Cung Mệnh có cát tinh tọa thủ, ba cung Thiên Di, Quan Lộc, Tài Bạch có Xương Khúc và Hóa Khoa triều củng, ông Cổ Nghị được cách này, đã cao chiếm bảng vàng.
Kình Dương, Hỏa tinh uy quyền xuất chúng
Đồng hành Tham Vũ, uy yếm biên đình.
Mệnh viên an tại tứ Mộ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) ngộ Hỏa Tinh và Kình Dương miếu vượng, chủ văn võ song toàn và đường công danh sẽ thành người chấp chưởng binh quyền vạn lý. Hoặc sao Tham Lang, Vũ Khúc ngộ Hỏa Tinh tại miếu vượng địa, cũng chủ người có tài kiêm văn võ và là bậc võ tướng có quyền uy áp chúng, trấn ngự được những bộ lạc, nước nhỏ lân cận.
Lý Quảng bất phong, Kình Dương phùng ư Lực Sĩ
Nhan Hồi yểu triết, Văn Xương hãm ư yểu thương.
Ông Lý Quảng tuy là đại danh tướng nhà Hán mà không được phong tước vị, vì cung Mệnh của ông có Kình Dương gặp Lực Sĩ. Ông Nhan Hồi chết non cũng bởi cung Mệnh có sao Văn Xương lạc hãm địa.
Trọng Do mãnh liệt, Liêm Trinh nhập miếu ngộ Tướng Quân
Tử Vũ tài năng, Cự tú Đồng Lương xung thả hợp.
Ông Trọng Do mãnh liệt vì cung Mệnh có Liêm Trinh tọa thủ tại cung Thân và hội với sao Tướng Quân. Ông Tử Vũ có tài năng vì cung Mệnh lập tại Tỵ, cung Tý có Thiên Đồng, cung Dần có Cự Môn, cung Thìn có Thiên Lương, và lại được Khoa Quyền Lộc Tả Hữu củng xung chiếu.
Dần Thân tối hỷ Đồng Lương hội
Thìn Tuất ứng hiềm hãm Cự Môn.
Sao Thiên Đồng Thiên Lương hội với nhau tại cung Dần hoặc cung Thân là cách rất tốt. Sao Cự Môn đóng ở cung Thìn Tuất là cách bị hãm, rất xấu.
Lộc đảo Mã đảo kỵ Thái Tuế chi hợp Kiếp Không
Vận suy, hạn suy hỷ Tử Vi chi giải hung ách.
Lưu hành nhị hạn dù gặp cách Lộc Mã, nếu ngộ Thái Tuế, Không Kiếp thành phá cách. Hạn và vận xấu cần phải được sao Tử Vi mới hóa giải được tai hung.
Điếu Khách Tang Môn, Lộc Châu hữu truỵ lâu chi ách
Quan Phù, Thái Tuế Công Dã hữu tiết luy chi ưu.
Người Lộc Châu bị nạn rơi từ lầu xuống vì hạn gặp phía trước sao Tang Môn, phía sau sao Điếu Khách và sao Thái Tuế hội với hung tinh. Người Công Dã bị trăn trối vì cung Mệnh và Thân có Quan Phù, Thái Tuế tọa thủ, nhị hạn lại cũng ngộ Quan Phù hội với sát tinh.
Đế tinh tại Tý, nan giải hung nguy, lưu hạn sát tinh La Võng lao hình khôn vị thoát
Mệnh nãi Dương Đà Kiếp hội vi thành thọ giảm.
Mệnh cung có Tử Vi tại Tý, khi tới vận hành hạn xấu thời không giải cứu được tai ương (Mệnh khi có Tử Vi có thể giảm thiểu được hung nguy, nhưng ở cách Tử Vi đóng tại Tý cung là Đế vô sở quyền, không giải được hạn hung ác nữa, vì Tử Vi cư Tý này là hãm địa). Lưu nhị hạn ở hai cung Thìn Tuất (La Võng) nếu gặp sát tinh, tất thị hung nguy, khó thoát lao tù. Nếu cung Mệnh có Dương Đà Địa Kiếp hội, đến hạn La Võng có hung sát tinh, thời phải quan phòng đến thân mạng, muốn quy hồi tiên quốc.
Phụ Cáo hoan ngộ Tướng Ấn, ố Kỵ, Cự Đồng
Nhược hội Khôi Xương, cử khoa ngao đầu tất chiếm.
Hai sao Thai Phụ, Phong Cáo rất ưa Tướng Ấn, trái lại rất ghét gặp Cự Môn và Thiên Đồng. Nếu Thai Cáo đồng cung với Khôi Xương tại Mệnh cung, tất thị đăng khoa chiếm đầu vị.
Hạn chí Thiên La, Địa Võng, Khuất Nguyên nịch thủy nhi vong
Vận ngộ Địa Kiếp Thiên Không, Nguyễn Tịch hữu bần cùng chi khổ.
Ông Khuất Nguyên tự trầm vì nhị hạn tới cung Thìn Tuất gặp Vũ Khúc Tham Lang và Thái Tuế, Tang Môn, Điếu Khách, Bạch Hổ ngộ hung tinh chiếu lại thành tối hung chi hạn. Ông Nguyễn Tịch lâm cảnh bần cùng khốn khổ vì nhị hạn gặp Kiếp Không tọa thủ, lại tính hạn lưu niên cũng có sát tinh củng chiếu, dĩ nhiên phải chịu cảnh nghèo khổ. Hạn gặp Không Kiếp, dù được cát tinh phù trì, thời cũng không thể tránh được "tiền bạc tới, tiền bạc đi".
Văn Xương Văn Khúc hội Liêm Trinh, táng mệnh yểu niên
Mệnh Không, hạn Không vô cát tấu, công danh thặng đặng.
Sao Xương Khúc thủ Mệnh viên tại cung Tỵ Hợi, nếu ngộ Liêm Trinh tất bị chết yểu. Người tuổi Tân tối kỵ gặp cách này, nhưng nếu được Vũ Khúc Thiên Tướng tùy hội lại phản vi đắc quý, chủ hữu quyền uy. Mệnh và nhị hạn phùng Không gia Kiếp, dù được chư cát tinh phù trì, đường công danh vẫn phải lận đận, cheo leo, không thể đạt thành như ý. Hoặc có chính tinh hội tam Hóa và cát tinh mà gặp Không Kiếp ở tại Mệnh và hạn, dù có tàn cần gắng cong đèn sách cũng chỉ đạt được nửa vời.
Sinh phùng Thiên Không, do như bán thiên triết sí
Mệnh trung ngộ Kiếp hợp, như lãng lý hành thuyền.
Mệnh viên có Thiên Không tọa thủ, về trung vận tất phải suy giảm, nếu đắc hoạnh phát, sau đó tất chết dữ. Người tuổi Tý Mệnh viên tại Hợi, người tuổi Ngọ Mệnh viên tại Tỵ hay gặp cách này. Cung Mệnh có sao Địa Kiếp, gia Sát, Kỵ, thực thậm hung, chẳng khác con thuyền nhỏ đi trên mặt đại dương vậy.
Hạng Vũ anh hùng, hạn ngộ Thiên Không nhi táng quốc
Thạch Sùng hào phú, hạn hành Địa Kiếp dĩ vong gia.
Anh hùng như Sở Bá Vương, hạn gặp Thiên Không cũng phải mất nước và chết. Giàu có định quốc như Thạch Sùng, hạn phùng Địa Kiếp, tư cơ cũng tan nát.
Lã Hậu chuyên quyền, lưỡng trùng Thiên Lộc Thiên Mã
Dương Phi hiếu sắc, tam hợp Văn Khúc Văn Xương.
Bà Lã Hậu chuyên quyền vì Mệnh viên có Lộc Tồn, Hóa Lộc và Thiên Mã. Dương Quý Phi dâm dật bởi cung Mệnh, Tài Bạch, Thiên Di có Xương Khúc chiếu cùng với Thái Âm Thiên Cơ, là cách chủ sự dâm ô cực kỳ.
Tử Phủ đồng cung, Đế vô quyền sở, nan giải tai ương, do như Tuần Không xâm nhập
Sát tinh hung diệu, Triệt đẩu cư lai, bất cập a hành, nan phùng tai ách vận lai.
Tử Phủ lâm Mệnh hay Dần hoặc Thân là hai sao giải cứu được hung nguy khi đáo nhị hạn, nhưng nếu bị Tuần Không án ngữ, ví như hai ông vua bị mất hết quyền hành nên không giảm thiểu được tai kiếp khi hạn ngộ ác sát tinh, cũng như trường hợp Tử Vi đóng ở cung Tý vậy. Cung Mệnh viên dù có tứ sát, tứ hung, lục bại đi nữa, nếu được Triệt tinh án ngữ tại bản cung, cũng không e sợ lũ hung ác sát tinh kia hoành hành hại chi được, vì sao Triệt đủ ảnh hưởng khắc chế được mọi hung nguy.
Mệnh Tuần, Thân Triệt, hủ đắc văn đoàn tương hội
Phú quý văn tài cánh phát chung niên.
Mệnh có Tuần, Thân cung có Triệt án ngữ, vô chính tinh, rất mừng gặp được văn tinh như Khôi Việt, Xương Khúc, Long Phượng, gặp như vậy là người có văn tài, học vấn và khi đứng tuổi tất sẽ được an nhàn phú quý.
Thiên Lương ngộ Mã, nữ Mệnh tiện nhi thả dâm
Xương Khúc giáp trì, nam Mệnh quý nhi thả hiển.
Mệnh viên an tại Dần Thân Tỵ Hợi ngộ Thiên Mã tọa thủ, tam phương ngộ Thiên Lương hợp chiếu là cách nghèo hèn và dâm dật. Sao Thái Dương gọi là Đan Trì và Thái Âm là Quế Trì, Mệnh an Sửu, Mùi ngộ Âm Dương, cung phía trước và cung phía sau có Tả Hữu Xương Khúc lai giáp, đắc cách này, chủ sự quý hiển.
Nguồn: Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử, Tử Vi Áo Bí Biện Chứng Học.
