Bài tổng quan
Chín lá số đối chứng từ Khổng Tử đến một người sương phụ
Đức Khổng Tử tuyệt lương ở đất Tần năm sáu mươi mốt tuổi, còn Thạch Sùng thì đại phú nhờ đúng cách Phá Quân Tý Ngọ — một loạt lá số người thật được đem ra đối chứng lý thuyết. Còn có cả bảng chữ Hán tra tên các vì sao, và câu hỏi vì sao ngày giờ sinh không thể tách rời...
Một loạt lá số người thật để đối chứng: từ Đức Vạn Thế Sư Khổng Tử, Hán Cao Tổ Lưu Bang, vua Lê Thánh Tông, cho tới những phận đời trái ngược hẳn nhau — một bà hoàng hậu chuyên quyền, một người vợ trẻ góa chồng.
Lá số Đức Vạn Thế Sư
Dương Nam, Thủy Nhi Cục, sinh giờ Sửu, ngày hai mươi tháng bảy, năm Nhâm Tuất. Mệnh an tại cung Dần có Thiên Lương, Tướng Quân, Phượng Các, Bát Tọa, Hữu Bật, Tang Môn tọa thủ; Thân cư đồng cung. Cung Quan Lộc có Thiên Đồng, Vũ Khúc; cung Tài Bạch có Thái Âm, Thiên Cơ; cung Tật Ách có Thiên Phủ, Quả Tú.
Văn chương quán thế
Kỵ ngộ Khoa tính, Khổng Tử đắc quân dân sủng ái.
Năm sáu mươi mốt tuổi, gặp hạn Kiếp Không phùng Thiên Thương, bị tuyệt lương tại Tần. Năm bảy mươi ba, hạn Thái Tuế, Thiên Thương nhập Địa Võng, Mệnh trung Kỵ ngộ Khoa tính là năm Đức Khổng Tử quy tiên.
Lá số Hán Cao Tổ Lưu Bang
Dương Nam, Kim Mệnh, Thổ Ngũ Cục, sinh giờ Ngọ, ngày mười ba tháng mười một, năm Giáp Ngọ. Mệnh Thân đồng cung có Tử Vi, Thái Tuế, Tướng Quân, Thai tọa thủ; cung Phụ Mẫu có Thiếu Dương; cung Điền Trạch có Thiếu Âm, Hồng Loan; cung Tài Bạch có Vũ Khúc, Thiên Tướng, Bạch Hổ, Lộc Tồn, Hóa Khoa, Tả Phụ, Tam Thai.
Mệnh Thân đồng cung, Tử Vi hội Tướng Quân, song Lộc phụng nghênh cách.
Lá số vua Lê Thánh Tông
Dương Nam, Thủy Nhị Cục, sinh giờ Sửu, ngày hai mươi tháng bảy, năm Nhâm Tuất. Mệnh an tại cung Sửu có Tham Lang, Vũ Khúc, Quả Tú, Hóa Kỵ; cung Phụ Mẫu có Thái Dương, Cự Môn, Đại Hao, Thiên Mã; cung Phúc Đức Thân cư có Thiên Tướng, Văn Xương; cung Quan Lộc có Tử Vi, Thất Sát, Hóa Quyền, Thiên Không, Lộc Tồn.
Tham Vũ đồng hành hội Hình Kỵ, Thiên Nguyệt Đức, tam phương quý, Ân, Quyền, Lộc.
Sáu lá số đối chứng còn lại
Bà Lã Hậu, Dương Nữ, Hỏa Lục Cục, sinh giờ Dần, ngày bảy tháng ba, năm Giáp Dần. Mệnh an tại cung Tỵ có Liêm Trinh, Lộc Tồn, Đế Vượng, Bát Tọa, Thái Tuế; cung Phu có Thất Sát, Thanh Long.
Tử, Phủ triều viên, Giáp sinh nhân song Lộc; Lộc trùng phùng, hội Thái Tuế, chuyên quyền chi cách.
Đại Tư Bản Thạch Sùng, Dương Nam, Mộc Tam Cục, sinh giờ Dần, ngày ba tháng năm, năm Giáp Ngọ. Mệnh an tại cung Ngọ có Tham Lang, Phượng Cáo; cung Phúc có Liêm Trinh, Thiên Tướng, Hữu Bật Khúc, Lộc, Tướng Quân, Thái Tuế; cung Tài có Phá Quân, Khốc Hư, Quyền, Phục Binh.
Thạch Sùng đại phú, Phá Quân Tý Ngọ, bà Phù quyền Lộc Khốc Hư.
Sở Bá Vương Hạng Vũ, Âm Nam, Hỏa Mệnh, sinh giờ Mão, ngày mười hai tháng tám, năm Đinh Mão. Mệnh an tại cung Ngọ có Thiên Cơ, Hóa Khoa, Lộc Tồn, Hỏa Hỷ; cung Quan có Cự Môn, Hóa Kỵ, Hồng Loan, Đào Hoa, Phúc Đức, Thiên Đức.
Cự Cơ Tý Ngọ, Khoa Quyền Lộc phản vi kỳ.
Lá số Cử Nhân, Dương Nam, Mộc Mệnh, Hỏa Lục Cục, sinh giờ Tuất, ngày năm tháng mười, năm Canh Dần. Mệnh an tại cung Tý có Tử Vi, Phá Quân, Tả Phụ, Hữu Bật, Hồng Loan, Địa Không; cung Điền có Thái Âm, Thai Phụ, Tang Môn, Hóa Kỵ; cung Tài Thân có Bát Tọa, Long Đức, Hóa Quyền, Địa Kiếp.
Sát, Phá, Tham Tả Hữu Thai Tọa Hồng Hỷ hội Tấu Quyền, đãn hiềm Hồng Loan Kỵ Kiếp Không.
Lá số Điêu Thuyền, Dương Nữ, Thủy Mệnh, sinh giờ Dần, ngày hai mươi ba tháng tám, năm Nhâm Tuất. Mệnh an tại cung Ngọ có Thiên Đồng, Cự Môn, Thiên Hỷ, Phúc Đức, Tướng Quân; cung Phúc có Thái Dương, Thiên Lương, Tam Thai, Quý, Hóa Lộc, Thanh Long; cung Ách có Phá Quân, Long Trì, Đại Hao.
Nữ Mệnh bất nghi Đào Hồng Hỷ Tướng Phúc Khúc Xương.
Lá số tiểu nhi yểu mệnh, Âm Nam, Mộc Mệnh, Mộc Tam Cục, sinh giờ Tỵ, ngày hai tháng tám, năm Kỷ Mão. Mệnh an tại cung Mão có Thái Âm, Thiên Hình, Thiên Không, Thiếu Dương, Địa Kiếp, Dưỡng; cung Điền có Thiên Tướng, Phong Cáo, Kình Dương, Quan Phủ, Mộ; cung Nô có Vũ Khúc, Thất Sát, Văn Khúc, Thiên Quý, Hóa Lộc, Hóa Kỵ, Tuần Triệt.
Nhật Nguyệt phản bối, nhi hội Kiếp Không Thiên Hình Hồng Đào.
Lá số người sương phụ, Âm Nữ, Thủy Mệnh, Thủy Nhị Cục, sinh giờ Mão, ngày hai mươi sáu tháng tư, năm Quý Hợi. Mệnh an tại cung Mão có Tử Vi, Thiên Phủ, Thiếu Âm, Thanh Long, Địa Kiếp, Lực Sĩ, Kình Dương; cung Phu Thân có Phá Quân, Đào Hoa, Hóa Lộc, Thiên Hình, Thiên Không, Lộc Tồn.
Phu cung song Lộc phùng Không
Đào Hoa ngộ Thiên Hình
Mệnh đắc Tử Phủ, đảm hiềm Kiếp Không xung phá.
Tử Vi Đẩu Số chư tinh: bảng chữ Hán tra cứu
Muốn lấy một lá số bằng chữ Hán, nên nghiên cứu các chữ sau đây: Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh, Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân, Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ, Thiên Khôi, Thiên Việt, Long Trì, Phượng Các, Giải Thần, Tam Thai, Bát Tọa, Ân Quang, Thiên Quý, Thai Phụ, Phong Cáo, Thiên Quan Quý Nhân, Thiên Phúc Quý Nhân, Đường Phù, Quốc Ấn, Thiên Không, Quán Sách, Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù, Tràng Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng, Lộc Tồn, Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bạch Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ, Kình Dương, Đà La, Thiên Đức, Nguyệt Đức, Cô Thần, Quả Tú, Thiên Giải, Địa Giải, Thiên Trù, Địa Không, Địa Kiếp, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thiên Hình, Phá Toái, Kiếp Sát, Lưu Hà, Thiên Mã, Hoa Cái, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kỵ, Thiên Diêu, Thiên Y, Thiên Khốc, Thiên Hư, Thiên Thương, Thiên Sứ, Lưu Niên Văn Tinh, Triệt Lộ, Tuần Không, Thiên La, Địa Võng.
Cùng các chữ về: sinh Dương Nam Âm Nữ, sinh Âm Nam Dương Nữ; năm cục Thủy Nhị Cục, Mộc Tam Cục, Kim Tứ Cục, Thổ Ngũ Cục, Hỏa Lục Cục; mười hai cung số từ Mệnh Viên (Thân cung), Huynh Đệ, Vợ Chồng, Tử Tức, Tài Bạch, Tật Ách, Thiên Di, Nô Bộc, Quan Lộc, Điền Trạch, Phúc Đức, Phụ Mẫu, Thân; ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ; niên, nguyệt, nhật, thời; nhập thiên can Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý; thập nhị địa chi Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.
Nhận định chung môn Tử Vi Đẩu Số
Niên, nguyệt, nhật, thời sinh khắc nhau
Về môn Tử Vi Đẩu Số, không nên quan niệm sinh được năm tốt nhưng hỏng vì mùa sinh xấu, hoặc được mùa sinh tốt nhưng phải tháng sinh xấu, hay là được ngày sinh tốt nhưng phải giờ sinh xấu, thành ra số mệnh bị chiết giảm. Quan niệm như vậy là sai lạc.
Bởi vì khoa Tử Vi lấy phương vị Đẩu Số làm căn bản để luận định, chứ không giống như khoa Bát Tự, lấy ngày sinh là nhật nguyên, ví như cung Mệnh ở môn Tử Vi, và lấy hàng can của ngày sinh để tính sinh khắc với bảy chữ kia, mà năm tháng ngày giờ sinh là đại diện cho phụ mẫu, thê thiếp, huynh đệ, tử tức, trong khi bên Tử Vi, Nô Bộc có cung riêng, Phúc Đức có cung riêng. Ở Bát Tự, vì nhờ tính theo quy luật sinh khắc giữa năm, tháng, ngày, giờ mà biết được chính tài hay thiên tài, hay là huynh đệ xấu, tốt mà thôi, tuyệt không có sự luận phân tỷ mỷ như: mắt trái lé, tay phải có tỳ vết hay môi thâm, răng sứt được, vì Bát Tự không có các trung tiểu tinh đại diện cho việc luận đoán như vậy. Nhất là môn Bát Tự để tính cho các ngày quan, hôn, tang tế thì thật chính xác.
Ở môn Tử Vi phải đủ niên, nguyệt, nhật, thời mới hội đủ điều kiện để có thể an được sao Tử Vi ở một cung nào, nếu sai đi dù một giờ hay bất kể ngày tháng năm, thời sao Tử Vi đã đóng vào cung khác rồi, và đã được phân chia thành mười hai cung, thí dụ như Huynh Đệ biệt lập một cung, muốn luận xấu tốt là do các sao cư, chiếu thuộc ngũ hành mà sinh khắc nhau, và ngũ hành của sao có tương hợp với hành của bản Mệnh không, cho nên ngay hai sao chính tinh cư trong Mệnh mà nhà Tử Vi học vẫn cho là vô chính diệu, vì việc nói vô chính diệu này có nghĩa là bản Mệnh không có chính tinh nào đồng một hành với hành của bản Mệnh cả, đấy là chỗ thâm sâu của Tử Vi, bởi các tinh đẩu chỉ là tượng hình hoặc tượng tính mà thôi, và đặt như vậy để có một ước lệ cho mười hai cung số, chớ làm gì có ông Tử Vi hay ông sao Thiên Phủ thật sự.
Và căn bản tối thiết là các sao ấy thuộc hành nào mới quan trọng, và sự đoán sai Tử Vi là do chưa quy định vào ngũ hành để phân luận. Cũng một vận hành cùng cư tại một cung số, đoán cho người này thấy đúng như in, khi luận cho người khác lại sai hỏng cả, cho nên phải lấy ngũ hành của tinh đẩu theo quy luật sinh khắc là Vượng, Tướng, Hưu, Tù, Tuyệt mới có thể tìm được mức độ cát, hung ra sao được. Nếu chỉ căn cứ vào tinh đẩu thì chỉ đúng được một phần mấy mươi mà thôi, vì mỗi người bản Mệnh một hành và chịu thêm Vượng, Tướng, Hưu, Tù, Tuyệt nữa, thời đã xa cách biết bao nhiêu rồi.
Nguồn: Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử, Tử Vi Áo Bí Biện Chứng Học.
