Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Người xưa trọng quý hơn phú và cách làm quan qua các cung

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề30/09/202614 phút đọc4 lượt đọc
Người xưa trọng quý hơn phú và cách làm quan qua các cung

Lã Bất Vi giàu có mà thiếu khoa bảng, nên phải bỏ tiền ra tạo phẩm hàm — người xưa quý chức tước đến thế. Khoa Tử Vi thừa hưởng nguyên quan niệm ấy và dành hẳn một cung cho công danh, nhưng cung Quan không đứng một mình. Còn những cung nào cùng lên tiếng…


Quan niệm quý trong khoa Tử Vi

Có tiền chưa chắc đã có chỗ đứng: người xưa muốn được kính trọng phải có chức, và muốn có chức phải có học.

Trong xã hội Trung Hoa, Phú, Quý là hai tiêu chuẩn thành công của nam giới. Phàm làm trai hiển đạt phải có danh, có tiền, có địa vị xã hội. Giữa Phú và Quý, người xưa trọng quý nhiều hơn. Điểm này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân.

Trước hết, xã hội Trung Hoa theo chế độ quân chủ, phong kiến. Chế độ này đã tạo ra một giai cấp quan lại đông đảo, có quyền hành, có thế lực, rất hấp dẫn cho những ai muốn tiến thân.

Mặt khác, cái gốc triết học và đạo học của nền quân chủ là nho giáo, vì nho giáo đề cao nghĩa vụ tôn trọng quân (trọng vua). Nho giáo cũng đề cao nghề làm quan, được xem như một thiên chức, một sứ mạng cao cả của kẻ sĩ. Khổng Tử, Mạnh Tử và nhiều nho gia đời sau đều coi trọng quan chức là phương tiện để hành đạo, để làm cho xã hội có trật tự, làm cho nước thịnh, dân cường. Chính Khổng Tử là người dấn thân cầu quan, và sau thời gian chu du, trở về làng để dạy học trò làm quan, tham gia chính trị và hành chánh. Nền giáo dục của Ngài là giáo dục chính trị. Sau này, Mạnh Tử cũng tiếp tục công trình đó. Cả hai cùng có viết sách để quảng bá sở học và hoài bão của mình.

Uy tín và ảnh hưởng của Khổng Tử hết sức rộng lớn, không những trong các vương triều mà còn trong dân chúng nữa. Vương triều thì cổ võ nho giáo để ung đúc nghĩa vụ trung quân và dùng khoa cử nho học để tuyển quan lại. Còn dân chúng môn đệ của Ngài rất đông, chẳng những chia sẻ quan niệm của Ngài, mà còn noi theo hành động dấn thân tham chính của Ngài nữa. Vì vậy, giai cấp quan lại, sĩ phu ngày càng bành trướng.

Điều quan trọng là sự bành trướng của một hệ thống giá trị mới, lấy học vấn, khoa bảng làm gốc để tiến tới quan trường. Để mong được làm quan, ai ai cũng cầu học. Từ chỗ trọng quan trường và khoa bảng, người ta trọng cả ông thầy và kẻ sĩ. Thầy được nho giáo xếp sau vua. Còn sĩ thường đứng đầu các giai cấp trong xã hội. Ông quan, ông thầy và kẻ sĩ rất được tôn vinh. Những bậc phú thương, vì thiếu khoa bảng để đắc quan, thường bỏ tiền ra tạo phẩm hàm: đó là trường hợp của Lã Bất Vi, kẻ phú đắc quý nhờ bỏ tiền ra xây dựng Tần Thủy Hoàng.

Khoa Tử Vi đã tiếp nhận hết những quan niệm văn hóa và nhân sinh của thời đó. Lá số Tử Vi dành riêng cung Quan Lộc để tìm hiểu công danh của người đời. Khoa Tử Vi cũng hiểu danh từ Quan Lộc theo nghĩa làm quan. Chữ quan trong Tử Vi trước tiên chỉ nghề chính trị, nghề hành chánh. Chỉ mãi về sau này, chữ quan mới được người ta hiểu rộng là nghề nghiệp nói chung chớ trong khái niệm nguyên thủy, nghề thương mại, kỹ nghệ, nông nghiệp hay nghề tự do (y, lý số) không thuộc quan trường.

Theo ý niệm đó, những sao quý cách trình bày dưới đây chỉ địa vị xã hội, chức quyền, tước phẩm của những viên chức công quyền, trong các ngành hành pháp, luật pháp, tư pháp.

Lẽ dĩ nhiên, quan cách nói dưới đây liên quan đến nam số nhiều hơn nữ số vì lý do giản dị là, thời xưa, hầu như chỉ có phái nam mới có công danh, sự nghiệp. Phái nữ chỉ thủ vai nội trợ mà thôi. Ngày nay, quan niệm này không còn đúng lắm đối với vài phụ nữ có khoa bảng và chức nghiệp. Vì vậy, xem số những bà có chức phận, tất phải lưu tâm đến cung Quan.

Cách làm quan qua các cung

Công danh không nằm gọn trong một ô của lá số; nó kéo theo cả những cung ở xa, từ nhà chồng vợ cho tới đám thuộc hạ.

Quan cách trong số Tử Vi rất phong phú, thể hiện qua nhiều cung và qua rất nhiều sao. Có đến tám cung liên quan đến quý cách: Quan, Phúc, Mệnh, Thân, Di, Tài, Phu Thê, Nô. Duy chỉ có cung Quan là có ý nghĩa trực tiếp nhất.

Cung Quan

Trong cung này có những chi tiết về:

  • cách làm quan, cụ thể như quan văn hay quan võ
  • cấp làm quan, cụ thể như phẩm trật cao, thấp.
  • đặc tính của quan trường, cụ thể như đắc quan sớm hay chậm, có thực quyền hay hư quyền v.v…
  • thành tích trong quan trường, cụ thể như khả năng hành nhiệm, sự tín cẩn, sự hậu thuẫn trong quan trường, sự nâng đỡ của thượng cấp, sự phò tá của thuộc hạ, uy tín trong dân chúng, sự đắc thời hay không đắc thời, tư cách của người làm quan v.v…
  • bổng lộc kiếm được, giàu hay nghèo, lương bổng, nhà cửa, tiện nghi.
  • những thăng trầm, những biến cố trong công danh, những bệnh họa vì nghề nghiệp.

Mặc dù không chứa hết các điều đó, song cung Quan bao giờ cũng quan trọng, cần phải tham khảo trước tiên để tìm những nét quyết định và nổi bật. Sau đó, người xem số phải tìm nơi cung khác những điểm bổ túc.

Cần lưu ý là có rất nhiều người không làm quan mà vẫn có quan cách được kể. Gặp trường hợp này, phải tính theo nghề tư và hiểu cung Quan theo nghĩa nghề nghiệp nói chung.

Cung Phúc

Vì chi phối cả cung Quan cho nên cung Phúc có thêm ý nghĩa quan lộc. Điều này càng đúng với nam số.

Một cung Phúc tốt có thể quân bình ít nhiều cái xấu nơi cung Quan. Đặc biệt, nếu cung Phúc có nhiều quan cách thì càng lợi cho công danh.

Nếu cung Phúc xấu, cái xấu đó không bắt buộc chỉ xấu cho quan lộc, mà có thể xấu cả những lãnh vực khác, chỉ khi nào hai cung đều xấu đập mạnh vào quan lộc nhiều hơn. Dù sao, cung Phúc cũng chỉ có tác dụng gia giảm nhiều hơn là quyết định. Quyết định là ở cung Quan.

Cung Mệnh, cung Thân

Vì chiếu cung Quan, nên cung Mệnh còn ảnh hưởng trực tiếp hơn là cung Phúc.

Cung Thân còn quan trọng hơn nữa vì Thân là thời kỳ lập công danh. Chính vào thời kỳ này, sự nghiệp cá nhân mới rõ ràng hơn: con người có một nghề tương đối vững chãi và sẽ sống với nghề đó lâu dài. Thân là cung Quan thứ hai.

Trong trường hợp Thân đóng ở cung Quan thì nhất định ý nghĩa quan lộc của Thân càng mạnh mẽ hơn nữa: quan trường lúc bấy giờ sẽ là yếu tố quyết định chung cuộc con người, con người theo đuổi nghiệp quan cho đến lúc chết.

Nếu Thân đóng ở cung khác, sắc thái của quan lộc cũng tùy theo đó mà biến đổi. Ví dụ như Thân cư Di thì làm việc lưu động hoặc công việc thay đổi thường, có thể sống tha phương: nếu Thân cư Tài thì đương số hành nghề có liên quan đến tài chính, kinh tế, nếu Thân cư Thê thì ảnh của vợ trong quan trường cụ thể hơn, đương số có thể nhờ vả bên vợ để tiến thân hoặc cả hai vợ chồng có chung một nghề…

Cung Tài

Cung Tài, về mặt quan lộc có nghĩa là sinh kế trong quan trường, mô tả cách phú trong quý cách tức là mức độ giàu nghèo khi làm quan. Nếu đương số chỉ làm quan mà thôi thì qua cung Tài có thể đoán được lợi lộc của quan trường mang lại. Cung Tài xấu có nghĩa là làm quan mà không giàu. Cung Tài tốt có nghĩa là có bổng lộc cao, hoặc nắm giữ chức vụ tài chính, kinh tế của nhà nước, hoặc biết lợi dụng quan chức để tạo ra tiền. Như vậy, nhờ cung Tài, có thể biết được ngành làm quan, sinh kế trong thời gian hành nhiệm, hung họa, khả hữu liên quan đến tiền bạc và có hệ lụy đến quan trường.

Cung Di

Thời thế, hoàn cảnh có tiếng dội lớn đối với quan trường. Một người có năng tài, đạo đức mà không gặp thời vận tốt thì tài năng đó dễ mai một hoặc chậm phát, đương số dễ trở thành người bất đắc chí. Cung Di chỉ ngoại cảnh, thời vận của quan lộc. Mặc dầu cung Di không chiếu vào cung Quan, cũng không giáp cung Quan, nhưng sự chi phối của cung Thiên Di rất lớn. Một cung Di tốt làm tăng tiến quan lộc, mang lại cơ hội phát triển tài năng, những may mắn đặc biệt của sự đắc thời.

Cung Phu Thê

Cung này trực chiếu vào cung Quan nên ý nghĩa Quan lộc rất rõ và rất mạnh. Cung Phu Thê nói lên vai trò của người phối ngẫu trong sự nghiệp, nghề nghiệp riêng của người phối ngẫu, có khi là nghề nghiệp thứ hai của mỗi người.

Những quý tinh tọa thủ ở cung Phu Thê có nghĩa là người phối ngẫu hoặc có nghề nghiệp riêng hoặc đóng góp vào sự nghiệp của người bạn trăm năm: đó là số vượng phu, vượng thê. Nếu nam số có Thân cư Thê thì ý nghĩa quan lộc của cung Thê càng cụ thể: cung Quan và cung Thê hầu như đồng hóa với nhau một cách khăng khít, có nghĩa là cả vợ chồng cộng lực vun bồi cho sự nghiệp chung.

Cung Nô

Cung Nô chỉ tôi tớ, bạn bè, đồng nghiệp, người dưới quyền, nói chung là yếu tố nhân sự trong quan trường, sự trợ giúp của bạn bè, thuộc cấp trong công danh sự nghiệp. Cung Nô tốt thì chức vụ quan trọng, người giúp việc đông và có khả năng. Có người cho rằng cung Nô tốt thì có nghĩa đương số làm công cho bạn bè. Nhưng ý nghĩa này chỉ đúng khi cung Mệnh và Quan đều xấu, khiến cho đương số phải nhờ vả vào bạn bè để tiến thân. Nếu hai cung này tốt, nhất định phải đoán rằng đương số có ít nhiều viên chức cộng sự đắc lực, nhiều thuộc quyền dưới trướng. Đó là trường hợp sĩ quan cầm quân, thầy giáo có nhiều học trò giỏi, chủ nhân có nhiều công nhân phục vụ.

Cách làm quan qua các sao

Cung mới cho biết chỗ đứng; còn người ngồi ở chỗ ấy quyền lớn hay nhỏ là do những vì sao tọa thủ.

Chính tinh nào đắc địa ở cung Quan đều có quý cách, hoặc về văn hoặc về võ.

Nhưng riêng có một số sao có ý nghĩa quan lộc nổi bật hơn những sao khác. Đó là những quyền tinh, quý tinh, đóng ở Quan hay Mệnh, Thân, Di, Tài.

Chính tinh có nghĩa quan lộc trực tiếp: Tử Vi

Tử Vi đắc địa ở cung Quan bao giờ cũng có nghĩa quyền quý. Vốn là đế tinh, Tử Vi là đế tinh quan trọng bậc nhất, chỉ sự hiển đạt công danh trong các ngành văn võ hay kiêm nhiếp cả văn lẫn võ.

Đắc địa ở Quan, Tử Vi chỉ người có dịp chỉ huy, điều khiển, giữ vững những chức vụ quan trọng trong công quyền, có nhiều thuộc hạ cao cấp, có tài lãnh đạo, có bản lĩnh chế phục người khác. Ngôi thứ quan lộc cao thấp tùy thuộc vị trí miếu vượng hay đắc địa: cách đắc địa thì ngạch trật càng cao. Trong trường hợp này, Tử Vi chỉ công chức hay quân nhân cao cấp, công chức thì hạng A, quân nhân thì cấp tá, cấp tướng.

Nếu Tử Vi được nhiều quyền tinh, dũng tinh đi kèm thì chức quyền càng lớn, có nhiều thuộc hạ đông đảo trợ lực, như một ông vua có lương thần, hảo tướng: người xưa gọi đây là cách quân thần khánh hội. Cách này ứng với những viên chức điều khiển chính trị, cầm đầu hành chánh ở trung ương hay ở địa phương, hoặc các quân nhân cầm quân, cầm quyền. Càng có nhiều trợ tinh, uy quyền càng hiển hách: quan văn thì phải có văn tinh, quan võ thì phải có võ tinh.

Nếu thiếu trợ tinh, Tử Vi chỉ loại viên chức hay sĩ quan cao cấp làm việc tham mưu, phục vụ trong ngành chuyên môn, ít có dịp cầm quyền, cầm quân, hoặc nếu có, thì chỉ điều khiển một số thuộc hạ giới hạn và thời gian chỉ huy không lâu. Đây có thể là hạng mưu sĩ, chuyên viên, đóng vai trò tham vấn, góp phần cho việc quyết định công vụ.

Có người cho rằng Tử Vi chỉ mạnh yếu nếu có Tả Phù, Hữu Bật đi kèm, giống như vua có “tiền hô hậu ủng”. Quan điểm này có hơi đề cao Tả, Hữu, chớ kỳ thật những phò tinh khác cũng tăng thêm uy lực cho Tử Vi không kém gì (ví dụ như Binh, Hình, Tướng, Ấn, Mã, Thiên Quan, Thiên Phúc…).

Thái Dương

Mặc dầu Thái Dương chủ về quan lộc, nhưng ý nghĩa này chỉ rõ rệt khi Thái Dương sáng sủa, đắc địa, miếu địa hay vượng địa ở cung Quan.

Sao này phù trợ cho phái nam nhiều hơn phái nữ, vì trong đa số trường hợp, phụ nữ ít có chức vụ quan trọng trong công quyền. Nam số có Thái Dương sáng sủa ở quan lộc đều quý hiển, cụ thể là có phẩm trật cao, có chức vụ lớn, thành công trong sự nghiệp, nhờ sự thông minh, tài năng và đạo đức của mình.

Lẽ dĩ nhiên, muốn có thực quyền, Thái Dương phải có trợ tinh đi kèm, bằng không thì chỉ diễn đạt trong ngành chuyên môn, trong các chức vụ tham mưu, cố vấn phụ tá.

Thông thường, Thái Dương chỉ ngành văn hơn là ngành võ, chỉ viên chức chính trị, hành chánh hơn là quân nhân. Tuy nhiên, thực tế cho thấy có nhiều biệt lệ: có trường hợp Thái Dương chỉ võ nghiệp, nhất là trong thời buổi chiến tranh, sự phân biệt văn võ không mấy khi rõ rệt, có thể là quân nhân mà làm việc văn, có thể là dân chính mà làm việc võ, hay bán văn bán võ.

Có người đi xa hơn, muốn phân biệt quan cách của Tử Vi và của Thái Dương để tìm sự hơn kém giữa hai sao. Vì vậy, có quan niệm cho rằng Tử Vi vì là đế tinh nên quan chức phải cao hơn Thái Dương. Họ cho rằng Tử Vi lãnh đạo toàn diện, còn Thái Dương chỉ xuất sắc trong một lãnh vực.

Có quan niệm khác cho rằng Tử Vi chỉ cả quý, phú, phúc, cho nên hiệu lực về mặt quan lộc không bằng Thái Dương chỉ riêng về Quan lộc.

Thật ra, vấn đề rất khó giải cho thỏa đáng, vì trong thực tế, Tử Vi hay Thái Dương không đứng riêng một mình. Mỗi sao đều có trợ tinh đi kèm. Tùy theo số lượng và vị trí trợ tinh, phẩm trật của quan lộc sẽ cao hay thấp. Không bao giờ có hai lá số giống nhau về số lượng và vị trí trợ tinh để làm căn bản so sánh rõ rệt. Mặt khác, quan chức cao thấp còn lệ thuộc phúc đức. Về mặt này, hẳn sự chênh lệch càng nổi bật, sự so sánh càng khó khăn và thiếu căn bản đồng nhất.

Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề