Bài tổng quan
Người Đức đào tạo dài hơi, nhà máy thép cứu vốn và chuyện tiền không xấu
Một nhà máy thép tám mươi năm tuổi, nộp thuế hơn sáu chục tỷ, vẫn lỗ liền tám tháng vì tiền vốn chảy đi khắp nơi mà không ai biết chảy vào đâu. Cùng lúc, một người thầy dạy làm giàu nói rằng tiền không xấu, chỉ có cách người ta dùng nó mới xấu hay tốt. Hai câu chuyện ấy gặp nhau ở một chữ vốn...
Người Đức nuôi người chậm mà bền
Xí nghiệp ở Đức xưa nay cố giữ cho nhân viên ít mà tố chất tốt, hiệu suất cao. Ai vào xí nghiệp cũng được lập hồ sơ nhân sự, từ giám đốc, kỹ sư đến nhân viên kỹ thuật đều phải kiểm tra định kỳ: người có năng lực thì tăng lương, thăng chức; người tầm thường thì được khuyên rút khỏi chức vụ; người vi phạm kỷ luật hay pháp luật thì bị khai trừ. Cách làm là định người, định chỗ. So với lối cất nhắc nhanh của người Mỹ, nhân viên ở xí nghiệp Đức lên cấp khá chậm.
Người Đức thường cho rằng từ ba mươi lăm tuổi trở lên mới đủ tư cách đảm nhận việc quản lý. Khi thăng người quản lý, họ lấy kỹ thuật làm tiêu chuẩn hàng đầu. Xí nghiệp lớn có quy định viên chức các cấp trước hết phải được đào tạo kỹ thuật truyền thống, có kỹ năng cơ bản vững ở trường đại học hay trường dạy nghề. Người quản lý phải tốt nghiệp chuyên ngành kỹ thuật; vào làm rồi, xí nghiệp thường cho đến bộ phận nghiên cứu vài năm, rồi xuống các bộ môn thực tế học kiến thức và kinh nghiệm quản lý. Vì thế việc lên chức rất chậm, dù là người giỏi nổi bật cũng không được chiếu cố, thường phải bốn mươi, thậm chí năm mươi tuổi mới đứng ra làm tổng giám đốc.
Cách này bảo đảm người quản lý cấp cao đều được giáo dục đại học, có học vị, và về cơ bản do chính chuyên gia quản lý của xí nghiệp rèn luyện tại chỗ. Có ba điểm lợi: viên chức giữ được lòng trung thành với xí nghiệp; các tầng lãnh đạo dễ hòa hợp với nhau; trình độ kỹ thuật của người làm không ngừng nâng cao. Sự phát triển kinh tế của nước Đức mấy chục năm sau chiến tranh cho thấy người làm có trình độ văn hóa cao và năng lực chuyên môn mạnh sẽ giành được ưu thế cạnh tranh cho xí nghiệp.
Ở Đức, xí nghiệp đặt việc đào tạo nghề nghiệp ở tầm chiến lược, cho rằng đó là trụ cột phát triển của xí nghiệp và cũng là nền để một dân tộc có tồn tại hay không. Nhờ quan niệm ấy, việc đào tạo được mở rộng, dồn rất nhiều tiền của và sức người. Theo điều tra của một viện kinh tế ở Tây Đức cũ năm 1988 trên 1.505 xí nghiệp, chi phí các xí nghiệp dùng để đào tạo nhân viên là 27 tỷ mác, vượt cả khoản chính phủ liên bang đầu tư cho các trường đại học, cao đẳng cùng năm (khoảng 25,9 tỷ mác); bình quân mỗi người được đào tạo lại tốn 1.766 mác, đứng đầu thế giới. Khoản đầu tư ấy đã được đền đáp: nước Đức giữ được thế thắng giữa cạnh tranh gay gắt trên thị trường thế giới là nhờ có nhiều người lao động tố chất cao, mà tố chất ấy dựa vào việc đào tạo nghề.
Tiền vốn là máu: nhà máy thép hết lỗ
Một xí nghiệp gần năm chục vạn người, tám mươi năm tuổi, nộp thuế hơn sáu chục tỷ, vẫn có thể lỗ liền tám tháng vì máu của nó chảy đi mà không ai biết chảy vào đâu.
Sức mạnh vạn năng của đồng tiền ở một mức nào đó không thể coi thường. Nhà máy gang thép An Sơn từng nổi tiếng thế giới với bản hiến pháp quản lý của mình, là xí nghiệp quốc doanh cực lớn với gần năm mươi vạn công nhân viên, tám mươi năm lịch sử, nộp cho nhà nước hơn sáu mươi tỷ tệ. Nhưng làn sóng kinh tế thị trường đặt cơ chế quản lý vốn của nó trước thử thách nghiêm trọng. Một mặt, hàng tồn kho tăng, thu hồi vốn khó, các nơi trong nước nợ nhà máy tới năm tỷ tệ. Mặt khác, điều chỉnh cơ cấu sản phẩm đòi cải tạo kỹ thuật mà thiếu vốn; vay ngân hàng thì một là không có khoản lớn như thế, hai là có vay được thì lãi quá cao, xí nghiệp không gánh nổi. Nhà máy rơi vào thế bí. Tháng một và tháng hai năm 1995 lỗ hai trăm triệu tệ, và tình cảnh lỗ ấy kéo dài suốt tám tháng.
Phân tích ra thì gốc của thế bí là tiền vốn, vì tiền vốn là máu của xí nghiệp. Trước kia do coi nhẹ quản lý tài vụ và vốn, một mặt vốn căng thẳng nghiêm trọng, mặt khác vốn chạy thoát, bốc hơi, rò rỉ ngày càng nhiều. Vốn phân tán, sổ nợ có đến tám trăm khoản, hiệu suất dùng vốn thấp, các đơn vị chỉ lo giành vốn bất kể giá thành, đầu tư lung tung, dựng những hạng mục rối rắm, vốn có hạn không dùng vào chỗ cần nhất. Có hạng mục cải tạo không đạt hiệu quả dự định, một phần vốn khá lớn rơi vào điểm chết không kiểm kê được.
Nhà máy bèn dựng cơ chế quản lý lấy tài vụ làm trọng tâm: đưa cơ chế thị trường vào vốn, khống chế tổng hạn ngạch, thống nhất thu tiền bán hàng, tính chênh lệch lãi suất, dùng vốn có thưởng, vốn chiếm dụng trong hạn mức tính lãi cơ bản, vượt hạn mức thì tính lãi theo thời kỳ quá hạn và theo tỷ lệ tăng dần, phạt lãi hoặc thu hồi vốn với chỗ chiếm vốn dồn vào một lúc, dùng vốn làm việc khác hay chiếm dụng trái quy định. Cùng lúc họ nắm chắc khâu giá thành. Công ty đặt giá thành mục tiêu cho từng loại đơn vị; với đơn vị sản xuất chính, thống nhất lấy mức hao phí tiên tiến nhất trong lịch sử công ty, rồi dùng phương pháp suy ngược: bắt đầu từ giá thị trường chấp nhận được, đẩy ngược từ sau về trước, tính giá thành mục tiêu cho từng công đoạn rồi phân nhỏ đến từng nguyên công, đến từng người, thành cục diện gánh nặng của xí nghiệp ai cũng cùng gánh, mỗi người đều có chỉ tiêu. Chẳng hạn xưởng luyện gang lấy giá quặng làm cơ sở, cộng thêm tiêu hao quạt gió, điện, nước, ô-xy, than cốc, công lao động gia công để ra giá nội bộ giao cho xưởng luyện thép; xưởng luyện thép lại tính giá mô phỏng thị trường cho mỗi tấn thép giao tiếp cho công đoạn sau.
Cuối năm 1995, cơ chế nội bộ ấy vận hành xong, toàn công ty xoay chuyển tình thế, hạ được 320 triệu tệ giá thành. Qua quản lý giá thành nghiêm ngặt, ép chi phí rất mạnh, việc cải tạo bỏ vốn thấp mà sản xuất ra cao. Một hạng mục kỹ thuật của xưởng luyện thép số ba vốn dự tính 900 triệu tệ, tính chi li ép xuống 760 triệu mà vẫn bảo đảm chất lượng. Mục tiêu cải cách là làm cho các đơn vị tách ra tự làm ông chủ giỏi, buộc họ trăm phương ngàn kế tìm điểm tăng trưởng mới, kinh doanh đa dạng. Sau khi chia nhỏ bếp ăn, cán bộ và công nhân có sức ép và cảm giác cấp bách phải phát triển, từ đó chuyển đổi và dựng cơ chế mới: nguy cơ chính là chuyển đổi cơ chế, sức ép chính là tiềm lực. Đến tháng tám năm 1995 nhà máy chặn được đà lỗ, sau khi nộp lãi và thuế cho nhà nước còn lãi 330 triệu tệ. Tiền vốn là máu, giá thành là trái tim của xí nghiệp. Nhà máy cải cách trong lúc vốn căng, hàng bán chậm, nợ cải tạo kỹ thuật chất chồng, gánh nặng xã hội lớn; họ bắt đầu từ chỗ nắm chắc vốn, tác động vào khâu then chốt là giá thành, lấy việc chuyển lỗ thành lãi làm đột phá, dựng nên hệ thống hạch toán, tài vụ, hệ thống kiểm tra làm tiền đề cho chuyển biến thể chế và phương thức tăng trưởng kinh tế.
Xếp tiền vốn mua nhà sao cho khéo
Với xí nghiệp, tiền vốn là máu; với một gia đình bình thường, khoản tiền mua nhà cũng quan trọng không kém.
Cùng với cải cách mở cửa, hiểu biết của người dân về đồng tiền ngày càng sâu. Cơn sốt mua xe riêng và mua nhà những năm gần đây cho thấy đời sống nâng cao, đồng thời qua tiêu dùng cũng kéo kinh tế phát triển. Với dân thường, mua nhà có lẽ là khoản chi lớn nhất, cần đến vài chục vạn tệ, nên lập kế hoạch quản lý vốn mua nhà từ trước là việc rất cần. Hiện nay nhà chung cư bán sẵn có ba cách thanh toán phổ biến: trả một lần; trả góp theo tiến độ thi công; và trả bằng thế chấp ngân hàng. Người mua nên căn cứ thực lực vốn, độ ổn định thu nhập, cộng với mức ưu đãi của từng cách mà chọn phương án lý tưởng, theo khả năng kinh tế của mình để mua xong khỏi rơi vào thế bị động.
Bước đầu của kế hoạch là xác định thực lực vốn hiện có và tính chất công việc của mình. Người có thực lực tốt, không cần dùng vốn vào việc khác, nên chọn trả một lần vì thường được chiết khấu lớn hơn và khỏi trả lãi vay. Nhưng trả một lần chiếm nhiều vốn, kém linh hoạt, không hợp với người có nhiều đường đầu tư. Trả góp theo tiến độ hay thế chấp thì tỷ lệ trả lần đầu thấp, chu kỳ trả dài, vốn linh hoạt hơn, hợp với người không muốn chi quá nhiều tiền mặt một lúc. Bước hai là sắp các điều khoản cụ thể trong cách đã chọn. Trả một lần thường là lần đầu 90 đến 95 phần trăm tổng giá, phần còn lại thanh toán khi giao nhà; chiết khấu thường tính theo lãi gửi tiết kiệm không kỳ hạn dài ngắn tùy thời gian từ lúc mua đến lúc giao nhà, nên hiện nay trả một lần chỉ chiết khấu rất ít, thậm chí không, nếu ưu đãi không tốt thì chẳng còn ý nghĩa mấy.
Trả theo tiến độ thi công cũng đòi chuẩn bị đủ tiền mua nhà, thường trả từng tháng hay từng quý, vốn tương đối linh hoạt; những lúc thị trường nhà đất nóng, với nhà trả góp trong một năm rưỡi hay hai năm, người đầu cơ hy vọng sau khi ký hợp đồng vài tháng giá nhà bỗng tăng thì bán lấy lời mà mình bỏ vốn không nhiều. Với người mua thường, nếu cân nhắc thấy chiết khấu hai cách không khác nhiều lại không muốn trả lãi vay thì trả theo tiến độ là hợp, vì rủi ro nhỏ, trong tay còn tiền ứng. Còn thế chấp là chi phí tín dụng, thực chất vay ngân hàng mua nhà. Những năm gần đây đây đã thành xu thế chính: năm 1998, trong số người mua nhà cá nhân ở Bắc Kinh, hơn tám phần mười chọn thế chấp. Người chọn cách này trước hết xác định tỷ lệ trả lần đầu, tức tỷ lệ vay, theo thực lực vốn và nhu cầu dùng vốn; hiện ngân hàng cho vay tối đa đến 80 phần trăm giá nhà, nhưng phải tính đến nghĩa vụ trả nợ nên cần xét kỹ.
Tiếp đó là chọn thời hạn trả nợ, vì lãi suất đổi theo thời hạn. Thời hạn dài nhất ngân hàng quy định hiện nay là hai mươi năm: trả từ một đến năm năm có ba mức lãi từ 6,12 đến 6,67 phần trăm mỗi năm; từ sáu đến mười năm là 7,2 phần trăm; từ mười một đến hai mươi năm là 7,56 phần trăm. Người mua nên chọn niên hạn dài nhất trong cùng một mức lãi, như vậy mỗi tháng trả nhẹ; khi điều kiện cho phép có thể trả trước mà không thiệt lãi, vì phần đã trả vẫn theo lãi cũ, phần còn lại theo lãi suất của niên hạn còn lại khi trả trước.
Tiền không xấu: từ Napoléon Hill đến Carnegie
Có câu nói rằng chỉ cần tưởng tượng được và vững tin thì nhất định làm được, và người nói câu ấy đã dạy cả triệu người cách nghĩ về của cải.
Câu nói ấy là của Napoléon Hill, được gọi là người thầy khích lệ ý chí thành công vĩ đại nhất của nước Mỹ và cũng của thế giới. Ông không phải vị hoàng đế Pháp mà là ông vua không vương miện; ảnh hưởng của ông trên thế giới không kém vị hoàng đế cùng tên. Triết học thành công do ông lập ra, mười bảy nguyên tắc thành công và ngọn lửa nhiệt tình của ông đã cổ vũ hàng tỷ người; ông được tôn là người tạo ra những nhà triệu phú. Khi Thế chiến thứ nhất nổ ra, Tổng thống Wilson từng dùng bí quyết khích lệ ý chí của ông để huấn luyện và cổ vũ binh sĩ, tiết kiệm không ít quân phí. Bộ giáo trình làm giàu của ông gồm ba tập: Con đường thành công, Con đường làm giàu và Của cải của một đời, trong đó có cuốn Suy nghĩ và làm giàu. Carnegie đánh giá thành công học của ông là một môn triết học kinh tế, không chỉ giúp người nghèo thoát nghèo mà còn là học vấn lớn giúp người ta dựng nhân cách hoàn thiện và hưởng một đời sung túc.
Ông sinh năm 1883 trong một gia đình nghèo, từ thị trấn nhỏ xa xôi ở Virginia đi lập thân. Ông tìm mọi cơ hội bồi bổ cho mình, làm đủ nghề từ kinh doanh mỏ than, luật sư, cuối cùng là người viết bài tin tức thương mại. Ông mất hơn hai mươi năm tổng kết bí quyết thành công, đến thăm các nhân sĩ thành đạt như Carnegie, Edison, Wilson, Ford, Taft để thu những kiến giải quý từ chính trải nghiệm của họ. Ngày nay quỹ mang tên ông vẫn tiếp tục truyền bá triết học ấy qua một cơ quan từ thiện.
Nhiều người nói tiền là nguồn gốc của mọi điều ác, nhưng trong Kinh Thánh là yêu tiền mới là nguồn gốc của mọi điều ác, chỉ khác một chữ mà nghĩa khác hẳn. Có người tỏ ra tiêu cực với cuốn Suy nghĩ và làm giàu, nhưng người viết cho rằng nhiều người chỉ cần đổi thái độ là trong một năm ngắn có thể kiếm được số của cải vượt cả mức họ phải mất một đời mới có. Tiền là môi giới giao dịch, là sức mạnh có thể dùng vào việc thiện hay việc ác; cuốn sách khuyến khích dùng thái độ tích cực mà theo đuổi tiền. Các quỹ do những người như Ford, Rockefeller, Edison, Carnegie lập nên đã vượt vài tỷ đô la, mỗi năm quyên cho từ thiện, tôn giáo và giáo dục hơn hai triệu đô la. Tiền không tốt sao? Lòng nhân ái lớn của những người ấy sẽ đời đời bất diệt.
Carnegie sinh trong gia đình di dân Scotland nghèo, sau thành người giàu nhất nước Mỹ. Ông vững tin một ý niệm: điều gì trong đời cần có, đều nên cố gắng theo đuổi; ý niệm giản đơn ấy thành niềm cố chấp của ông. Khi còn sống, số ông tặng trực tiếp, quyên góp và ủy thác qua quỹ đạt 500 triệu đô la; ông bỏ mấy triệu đô la xây thư viện tặng người tìm tri thức. Bannaton từ một viên chức nhỏ lương tuần hai mươi đô la trở thành người giàu có, tài sản hơn mười triệu đô la, và bước ngoặt của ông đến từ một việc rất nhỏ: hai mươi lăm tuổi, trên xe lửa ông nhường chỗ cho một cụ già xa lạ, thấy đó là chuyện đương nhiên. Cụ già ấy là tổng giám đốc một công ty dầu mỏ, cho ông cơ hội làm việc, và về sau ông thành người tìm ra nhiều mỏ dầu nhất lịch sử. Ông nói mình chỉ tạm thời giữ tiền, phải dùng nó làm cho xã hội tốt hơn. Đến sinh nhật tám mươi lăm tuổi ông nói bí quyết sống khỏe là luôn bận rộn, nghĩ nhiều điều tốt đẹp về mọi người, nghĩ nhiều đến bạn bè, cố đừng nghĩ đến địch thủ, và tuổi tác không do năm tháng mà do tâm trạng.
Trong lòng có chút cố chấp thì sống được lâu hơn, như Hoover và tướng Wood dành nhiều thời gian và tiền của cho câu lạc bộ thiếu niên Mỹ, đẩy mạnh việc công ích và được người đời kính yêu. Có thể bạn không có của như Carnegie hay Bannaton, nhưng điều đó không cản được niềm cố chấp của bạn. Evan Rewdolph dốc cả đời giúp thiếu niên vùng nghèo để đền ơn câu lạc bộ thiếu niên đã cứu mình. Ông lớn lên ở vùng nghèo phía bắc Chicago, lang thang cùng đám trẻ vốn nhiều đứa có vấn đề. Một hôm các nhân viên xã hội của câu lạc bộ đến một nhà thờ bỏ hoang trong vùng; trong cả đám chỉ ông và anh ông tìm đến, và sau đó mọi đứa khác đều vào tù. Ông nói nếu hai anh em không vào câu lạc bộ thiếu niên thì cũng có thể giống họ. Vì biết ơn ông hiến cả đời giúp trẻ lưu lạc, và nhờ lòng nhiệt thành ấy nhiều khoản quyên đổ về câu lạc bộ thiếu niên Chicago, cuốn hút nhiều người có ảnh hưởng chung sức làm việc nghĩa.
Nguồn: Tư Mã Sơn Nhân, Âm Dương Kinh.
