Bài tổng quan
Năm hành sinh mùa xuân và những năm tháng ngày nên tránh
Mùa xuân đầu năm, hơi lạnh còn đọng trong đất, và người sinh vào mùa ấy mang theo cả sự sinh sôi lẫn cái lạnh chưa tan. Người xưa hỏi: mạng Kim gặp gì thì được việc, mạng Mộc gặp gì thì thêm lo? Rồi họ dùng cùng cách nhìn ấy để tránh những tháng ngày không nên khởi sự.
Người mạng Kim sinh mùa xuân gặp gì thì nên, gặp gì thì hại
Sách xét từng hành theo mùa sinh, bắt đầu từ mùa xuân, và với mỗi hành đều điểm mặt năm thứ có thể gặp: chính hành ấy, hành sinh ra nó, hành nó sinh ra, hành nó khắc và hành khắc nó. Lời sách ở đoạn này cô đọng và nhiều chỗ khó hiểu, nên dưới đây chỉ thuật lại những ý đọc ra được.
Với mạng Kim, gặp Kim là gặp bạn giúp sức cho thân. Nhưng nếu không có Hỏa thì dù Kim nhiều cũng chẳng có uy lực. Gặp Mộc là gặp tài: mùa xuân Mộc đang vượng, tài nhiều thì thân phải yếu, Mộc nhiều thì hao Kim, tiền tài nhiều thì hao đến thân thể. Gặp Thủy thì Kim phải lạnh và bị tiết khí, sức Kim càng kém thì Thủy và Mộc càng không dùng được. Gặp Hỏa thì tốt vì đầu xuân còn dư hơi lạnh, mạng Kim thích lửa đến sưởi ấm, đó là thứ trọng yếu nhất để sưởi ấm bản thân, nhưng sau tiết Thanh minh thì kỵ Hỏa nhiều. Gặp Thổ thì thân đang yếu được Thổ nâng đỡ, Thổ chế ngự nguồn nước và nuôi dưỡng chất của Kim.
Người mạng Mộc và mạng Thủy sinh mùa xuân
Mộc là hành đang đứng giữa mùa của chính mình.
Mạng Mộc gặp Kim mà lại thấy Hỏa nữa thì vô hại. Mộc nhiều hay ít bao nhiêu thì cần Kim bấy nhiêu, ít Kim lại càng tuyệt diệu; Kim nhiều chỉ làm tổn thương thân thể, suốt đời phải lao khổ. Mộc gặp Mộc là Mộc mạnh, nếu bạn Mộc lại gặp Kim thì vẫn phát đạt. Gặp Thủy mà không có Hỏa thì lo cái lạnh, nhưng cuối xuân lại cần nước tưới, chỉ kỵ quá nhiều. Gặp Hỏa thì đầu xuân cần Hỏa sưởi ấm cho Mộc; sang tháng Hai, tháng Ba mà không có Thủy thì kỵ Hỏa nhiều. Gặp Thổ thì nhờ Thổ bồi đắp cho Mộc, nhưng Thổ nhiều thì thân yếu, tổn rất nhiều; Thổ mỏng thì tiền tài phong phú, và mạng Mộc thích có Kim đến sinh ra Thủy.
Mạng Thủy gặp Kim thì Thủy vốn nhiều lại thêm sức, thành sức mạnh vỡ đê, không nên có nhiều Kim. Gặp Mộc thì nước nhiều gặp cây sẽ có cuộc phiêu lưu, tốt hơn là ít gặp Mộc. Gặp Thủy thì lắm mối sầu vỡ đê, khó khăn về sắc tình, cần có Thổ đến chế ngự. Gặp Hỏa thì cần Hỏa vượng để đẩy Kim, đốt Mộc, sinh Thổ, nhưng sang giữa mùa thì không nên có quá nhiều Hỏa. Gặp Thổ thì phải để Thổ chế ngự, không cho nước chảy lan tràn bừa bãi; không có Thổ ngăn thì nước chảy lan bậy.
Người mạng Hỏa và mạng Thổ sinh mùa xuân
Nước tràn thì cần bờ ngăn, mà lửa và đất mới là hai hành lên thế khi xuân qua nửa chừng.
Mạng Hỏa gặp Kim thì gia công mà được tiền tài; Kim nhiều thì tổn hại chỗ nương tựa, nhưng sau tháng Hai Hỏa lại thích Kim đến lấy bớt khí. Gặp Mộc thì Mộc chồng chất khiến Hỏa bừng bừng thái quá, e tổn thân hại vật, phải tiết chế vừa phải, sau tháng Hai kỵ Mộc nhiều. Gặp Thủy thì sau tháng Hai lại thích Thủy đến điều hành, chế ngự. Gặp Hỏa nữa thì lửa chồng lửa quá lẽ, cần điều hòa, không nên nhiều; cuối xuân không hợp gặp bạn cùng hành và hành sinh ra mình, Hỏa nhiều thì tính nóng, nhiều tai ương. Gặp Thổ thì không nên hao tổn Thổ nhưng cũng không nên nhiều; sau Thanh minh Hỏa Thổ đều lên vượng nên không kỵ Kim và Thủy, chỉ đừng nhiều quá.
Mạng Thổ gặp Kim thì Kim chế được Mộc, nhưng Kim lại cướp khí của Thổ và tăng hơi lạnh; qua hai tháng đầu xuân, gặp Kim và Thủy không còn kỵ, chỉ không nên nhiều. Gặp Mộc thì kỵ nước dâng ba đào, tràn ngập thêm lạnh, lại giúp cho thứ khắc mình; sau Thanh minh Thổ Hỏa chồng chất, có Kim và Mộc thì cần nước điều hòa Thổ và tẩy bớt Hỏa. Gặp Hỏa thì thích lắm, tốt nhất là dùng Hỏa hóa giải sát khí để thân sống dậy, cho Thổ ấm áp làm nuôi được muôn vật. Gặp Thổ thì thích có bạn cùng hành đến trợ lực. Sau tiết Cốc vũ, dương khí lên mạnh, Hỏa Thổ được thế thì Mộc không nên nhiều, nên dùng Kim và Thủy để xả bớt.
Năm tuổi hung niên và ba năm tam tai
Cưới hỏi cất nhà là việc lớn, và có những năm cần cân nhắc trước khi khởi sự.
Sách nhận xét rằng từ xưa đến nay, cứ đến những năm gọi là hung niên thì người ta tránh cưới hỏi, tránh dựng vợ gả chồng. Nói cho đúng, con trai hai mươi tuổi chẳng có gì đáng gọi là xung kỵ, chỉ là cưới vợ ở tuổi hai mươi thì sớm quá. Vì thế người xưa mới bày ra lệ tránh ấy để kéo dài thời gian, qua hai mươi tuổi mới thuận tiện; ngoài ra còn có tam tai và đại hạn mà sách cho là đã được chứng minh.
Ba năm tam tai, kỵ cất nhà hoặc cưới gả, được tính như sau. Tuổi Thân, Tý, Thìn thì tránh các năm Dần, Mẹo, Thìn. Tuổi Dần, Ngọ, Tuất thì tránh các năm Thân, Dậu, Tuất. Tuổi Sửu, Tỵ, Dậu thì tránh các năm Hợi, Tý, Sửu. Tuổi Hợi, Mẹo, Mùi thì tránh các năm Tỵ, Ngọ, Mùi. Theo lịch sách cổ truyền, tuổi nào gặp năm tam tai thì không chỉ cất nhà không tốt mà cưới vợ cũng rất xấu, nên ai tin vào khoa huyền bí này thì nên dè dặt tránh, dù ít dù nhiều cũng bớt được phần nào.
Tháng, ngày, giờ sát chủ và những ngày kiêng khác
Có những ngày không riêng ai, mà cả nhà cả họ đều phải tránh.
Những tháng sát chủ, đại kỵ cất nhà, cưới gả, chôn cất, là các tháng Tý, Sửu, Tuất, Mùi, Thìn. Còn ngày sát chủ tính theo tháng: tháng Giêng ngày Tỵ, tháng Hai ngày Tý, tháng Ba ngày Mùi, tháng Tư ngày Mẹo, tháng Năm ngày Thân, tháng Sáu ngày Tuất, tháng Bảy ngày Hợi, tháng Tám ngày Sửu, tháng Chín ngày Ngọ, tháng Mười ngày Dậu, tháng Mười Một ngày Dần, tháng Mười Hai ngày Thìn.
Giờ sát chủ: tháng Giêng và tháng Bảy vào giờ Dần và giờ Tý; tháng Hai và tháng Tám vào giờ Tỵ; tháng Ba và tháng Chín vào giờ Thân; tháng Tư và tháng Mười vào giờ Thìn; tháng Năm và tháng Mười vào giờ Dậu; tháng Sáu và tháng Mười Hai vào giờ Mẹo.
Ngày nguyệt kỵ và ngày tam nương
Theo sách cổ truyền của ta, mỗi tháng có ba ngày làm việc gì cũng phải tránh, nhất là khởi sự hay xuất hành: mồng năm, mười bốn và hai mươi ba. Vì vậy mới có câu:
Mùng năm, mười bốn, hai ba, làm ăn chẳng khá, nhẫn ra việc gì.
Ngày tam nương thì nên tránh mồng ba và mồng bảy mỗi tháng, hoặc ngày mười ba và hai mươi hai; các việc như mở cửa hàng, khai trương vào những ngày ấy cũng chẳng tốt.
Những ngày đại bại, kỵ cưới hỏi xây nhà
Sách tra theo hàng can của năm. Năm Giáp và năm Kỷ: tháng Ba đại bại ở ngày Mậu Tuất, tháng Bảy ở ngày Quý Hợi, tháng Mười ở ngày Bính Thân, tháng Mười Một ở ngày Đinh Hợi. Năm Ất và năm Canh: tháng Tư đại bại ở ngày Nhâm Thân, tháng Chín ở ngày Ất Tỵ. Năm Bính và năm Tân: tháng Chín đại bại ở ngày Canh Thìn, tháng Sáu ở ngày Kỷ Sửu. Chỉ hai năm Đinh và Nhâm thì không có ngày đại bại.
Nguồn: Bửu Sơn, Tử Vi Tướng Pháp Trọn Đời.
