Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Nhìn cả đời và nhìn từng năm: hai thước đo của Lý số học

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề27/09/202610 phút đọc6 lượt đọc
Nhìn cả đời và nhìn từng năm: hai thước đo của Lý số học

Một bảng số chỉ có mười hai ô vuông, nhưng phải gánh cả một đời người gần trăm năm. Khoa Lý số học giải quyết tham vọng đó bằng hai lối nhìn tưởng như trái ngược mà thật ra bổ khuyết cho nhau.


Lá số nhìn qua chỉ là mười hai ô vuông rải đầy những cái tên sao. Song phía sau khung vuông ấy là một quan niệm về con người: quan niệm ấy phải đủ rộng để ôm lấy một kiếp sống kéo dài gần trăm năm, lại phải đủ tinh để không lọt mất một cơn bệnh hay một mối duyên. Muốn thỏa cái hoài bão đó, Lý số học dựng lên hai lối phân tích chạy song hành.

Hai đối tượng khó nắm: con người và đời người

Con người vốn là một cấu trúc chằng chịt, chẳng khác một tiểu vũ trụ. Đời người lại càng khó nắm hơn, bởi nó đi qua bao hoàn cảnh, bao chặng đường, có khi dài suýt soát một thế kỷ. Cả con người lẫn đời người đều không đứng yên; hai bên cứ biến đổi theo nhau và theo cảnh ngộ bao quanh. Khoa Lý số học muốn nắm cho được cả hai đối tượng nhọc nhằn ấy, nên buộc phải vận dụng cùng lúc ba phương pháp: phân tích, tổng hợp và biến động (động). Riêng phân tích lại tách thành hai bậc, là đại phân tích và vi phân tích.

Đại phân tích: xẻ con người thành những khối lớn

Đại phân tích tức là tách con người và đời người thành các yếu tố lớn, các quãng thời gian dài, rồi soi xét từng yếu tố, từng quãng. Trong phạm vi ấy có ba việc cần làm sáng tỏ: phân định Bản Mệnh với Cục, phân định mười hai cung, và phân định các thời hạn của một kiếp người.

Bản Mệnh và Cục: hai tầng toán số trong một con người

Để tả Bản Mệnh, Lý số học nương vào hai điều căn bản, là nguyên thể và hành của Bản Mệnh. Bản Mệnh chia thành năm loại theo năm hành Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy; chính hành quyết định lý tính và hóa tính riêng của từng Bản Mệnh, cho nên người mang hành Kim có lý tính của kim khí, hoàn toàn khác với lý tính của hành Hỏa. Chưa hết, trong cùng một hành còn có nhiều cách khác nhau. Chỉ riêng hành Hỏa đã gồm sáu thể cách: sơn hạ hỏa (lửa dưới chân núi), sơn đầu hỏa (lửa trên đỉnh núi), thiên thượng hỏa (lửa trên trời), tích lịch hỏa (lửa sấm sét), lô trung hỏa (lửa trong lò) và phú đăng hỏa (lửa ngọn đèn). Điều đáng tiếc là sách không kể rõ đặc tính của từng thể cách, dù theo lẽ thường năm hành nhân sáu thể cách phải thành ba mươi thể cách Bản Mệnh. Hành nào, thể tính nào cũng chỉ có nghĩa khi đặt bên cạnh một hành khác. Bản Mệnh Hỏa gặp Kim là khắc, vì Hỏa khắc Kim; nhưng chen thêm Thổ vào giữa thì Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, thế khắc liền biến thành thế sinh. Vận mạng hay dở cũng tùy sinh hay khắc mà định: sinh thì xuôi, khắc thì gập ghềnh.

Cục cũng được Ngũ Hành hóa thành năm loại: Thủy nhị cục, Mộc tam cục, Kim tứ cục, Thổ ngũ cục và Hỏa lục cục. Các con số 2, 3, 4… gắn với mỗi cục không phải để tính toán đoán số; nghĩa thật của Cục chỉ lộ ra khi đem sinh khắc của nó so với hành Bản Mệnh. Mệnh và Cục tương sinh thì đường đời êm, vận may dễ tới, nghịch cảnh thưa thớt; Mệnh và Cục tương khắc thì chướng ngại dày, phải vật lộn nhiều, và đó có thể là điều bất lợi cho phú, quý, khoa bảng cùng tuổi thọ.

Mười hai cung: bối cảnh sống của một kiếp người

Việc thứ hai của đại phân tích là xé đời sống con người ra thành mười hai mảng, gọi là mười hai cung. Mở đầu là Phúc Đức, nơi phản chiếu cảnh tiền kiếp, dòng họ và cái bóng tiền kiếp phủ xuống kiếp này, vì thế nó pha chút siêu hình. Kế đến là Phụ Mẫu, chỉ sợi dây giữa mình với cha mẹ, hiểu rộng ra gồm huyết thống, kế sinh nhai, tuổi thọ và niềm vui nỗi buồn của song thân, cùng những dư âm của chúng rơi vào đời mình. Cung Mệnh thì phơi bày nội tâm: tâm tính, trí tuệ, tình cảm, cái mình thích và cái mình chán. Cung Bào soi vào tình cảnh anh chị em cùng nhà. Cung Phu hay Thê cho thấy chuyện hạnh phúc đôi lứa, tính khí và công việc của người chung chăn gối. Cung Tử Tức phản ánh con cái và sự hòa hợp giữa cha mẹ với chúng. Cung Tài Bạch phản ánh chuyện tiền nong, mức sống vật chất của gia đình. Cung Tật Ách bàn về sức khỏe cả thân lẫn tâm và các tai ách bệnh tật đi theo. Cung Thiên Di nhìn ra ngoài: thời thế, cảnh ngộ đang đối diện và sợi dây nối mình với xã hội. Cung Nô Bộc nhắm tới những người thân cận, như bạn bè, người tình, kẻ thuộc hạ. Cung Quan Lộc bàn về nghiệp, sở trường chuyên môn và chí hướng. Cuối cùng là cung Điền Trạch, cho biết nhà đất, vườn ruộng, bối cảnh vật chất bao quanh cuộc sống.

Đặt mười hai cung cạnh nhau, ta gần như vẽ đủ mọi mặt đời sống riêng của một người, và con người cùng đời người hiện lên khúc chiết, tinh vi. Khoa Lý số học giải được phần lớn cái mộng tìm hiểu con người và đời người chính là nhờ cách ấy.

Tiền vận, hậu vận và các cung hạn

Việc thứ ba của đại phân tích là cắt quãng đời sinh sống thành hai thời kỳ, tiền vận và hậu vận. Tiền vận kể từ lúc lọt lòng đến tuổi lập thân, theo ý câu "tam thập nhi lập" mà định vào quanh tuổi ba mươi; giai đoạn này do cung Mệnh tả. Phần đời còn lại cho đến khi mất là hậu vận, do cung Thân tả; nên nhớ cung Thân ở đây là cung của tuổi thành thân, không phải cung Thân trong mười hai địa chi. Chỗ phân biệt ấy nhằm nhấn vào sự đổi thay của cuộc đời: ở tiền vận, con người còn sống dưới mái nhà cha mẹ, còn học nghề, còn kén bạn trăm năm, tức đang chuẩn bị bước vào đời; đến hậu vận, cá nhân đã coi như thành thân, phải tự đứng lên, gánh gia đình, lo giao tế, có nghề riêng để nuôi vợ con. Hạnh phúc lúc này bao gồm hạnh phúc gia đạo, hạnh phúc nghề nghiệp, hạnh phúc vật chất do chính mình gây dựng, thậm chí lan đến cả một tổ ấm thứ hai, với vợ lẽ hay nhân tình.

Ranh giới giữa Mệnh và Thân không cố định mà lệ theo con số của Cục: Thủy nhị cục thì Thân bắt đầu từ ba mươi hai tuổi, Mộc tam cục từ ba mươi ba, Kim tứ cục từ ba mươi bốn, Thổ ngũ cục từ ba mươi lăm, Hỏa lục cục từ ba mươi sáu. Vì thế, xét cung Thân phải đặt nó bên cạnh Cục: Cục ứng với Thân và hậu vận, còn Bản Mệnh ứng với Mệnh và tiền vận. Song cần nhớ bước chuyển từ Mệnh sang Thân không gãy gọn như một ngã ba đường, mà trôi dần từng chút; có lẽ chính vì vậy người xưa mới đặt thêm cung lưu niên đại hạn để đánh dấu sự đổi thay êm ả đó.

Đi xuống một bậc nữa, mỗi thời hạn lớn lại chia thành nhiều kỳ hạn nhỏ. Đại hạn dài mười năm và đóng tại một cung. Nếu Mệnh hay Thân tốt, cái tốt ấy lan sang đại hạn liên quan, làm giảm bớt phần nào cái xấu của đại hạn; nếu Mệnh, Thân xấu, cái xấu cũng lây sang đại hạn, nhiều hay ít. Việc phân tích vận kỳ đến mức mười năm còn thuộc đại phân tích; đến từng năm là đã bước vào địa hạt của vi phân tích.

Vi phân tích: đi vào những chi tiết mịn hơn

Đại phân tích dựng khung sườn, còn vi phân tích lo phần chi tiết, với những yếu tố nhỏ hơn và những quãng thời gian ngắn hơn. Yếu tố nhỏ ấy chính là các vì sao; quãng thời gian ngắn là từng năm, từng tháng, từng ngày, từng giờ.

Ý nghĩa của các sao: chín loại nghĩa gán cho một trăm mười một vì sao

Lý số học dùng tất cả một trăm mười một sao, trong đó có mười bốn chính tinh và chín mươi bảy phụ tinh. Mỗi sao mang một số ý nghĩa, gom lại thành chín loại: cơ thể, bệnh lý, tính tình, công danh, tài lộc, phúc thọ, tướng mạo, điền sản, vật dụng. Với chín loại nghĩa ấy, Lý số học gần như bao quát mọi yếu tố chi phối con người, để có thể đoán nhiều đặc trưng cá nhân về thân thể, tướng mạo, bệnh tật, tính tình, nghề nghiệp, tiền của, thọ yểu, đất đai. Không sao nào mang đủ cả chín loại: có sao chỉ giữ một hai loại, có sao giữ đến sáu bảy loại. Nhờ lối vi phân tích theo từng sao, lá số thôi là một bản phác mờ ảo, mà thành một tấm ảnh phóng đại, nét vẽ rõ ràng, đậm nhạt phân minh; khoa Lý số học vì thế thêm cụ thể, thêm phong phú.

Ngũ hành của sao: sức mạnh đổi theo chỗ đứng

Mỗi sao còn có hành riêng, và hành ấy làm ý nghĩa của sao mạnh thêm hoặc yếu đi. Sao có hành hợp với cung nó đóng là đắc địa, sức mạnh tăng; hành xung khắc thì hãm địa, ý nghĩa giảm sút hoặc mất hẳn. Hai sao đồng cung cũng theo lẽ đó: tương sinh thì ý nghĩa của sao này tiếp sức cho sao kia, tương khắc thì hai bên cùng làm nhạt ý nghĩa của nhau. Bởi vậy sức mạnh một sao không hoàn toàn nằm ở bản thân nó, mà còn tùy vào quy luật sinh khắc Ngũ Hành giữa nó với cung và với các sao xung quanh.

Những hạn nhỏ: tiểu hạn, nguyệt hạn, nhật hạn, thời hạn

Lý số học còn chia nhỏ các chặng đời thành từng năm, từng tháng, đến cả từng ngày, từng giờ: hạn một năm là tiểu hạn, một tháng là nguyệt hạn, một ngày là nhật hạn, một giờ là thời hạn. Chí hướng ấy là muốn biết trước mọi việc ở mọi thời điểm của kiếp người. Chí hướng lớn đến vậy nên có người ngờ rằng Lý số học không thể nào thấu suốt những chuyện phức tạp trong một ngày hay một giờ. Lời chê ấy không phải vô căn cứ: trong thực tế, độ chính xác của Lý số học dừng ở tiểu hạn và nguyệt hạn; đi sâu xuống nhật hạn, thời hạn thì sai lệch tăng dần, nhiều biến cố ghi sẵn trong lá số cho một ngày chẳng hề xuất hiện, còn có việc xảy ra thật mà lá số chẳng hề nhắc.

Dẫu thế, chưa thể phủ nhận giá trị của các hạn nhỏ. Việc chẻ thời gian ra nhỏ hơn là hệ quả bắt buộc của chính kỹ thuật vi phân tích: cắt được kỳ hạn lớn thì cắt được kỳ hạn nhỏ, chẳng qua là một cách ngắt đoạn thời gian theo lệ thường, còn giá trị của nó không đặt ở phần chi tiết mà ở phần tổng hợp. Hạn nhỏ không đứng riêng một mình; nó nằm gọn trong khung của kỳ hạn lớn, và chỉ kỳ hạn lớn mới quyết định những nét cốt yếu. Vì thế, luận đoán bất kỳ hạn nào cũng phải xét trong phạm vi của hạn lớn bao quanh nó.

Phân tích, lớn hay nhỏ, cũng mới chỉ là bước thu nhặt dữ kiện. Con người trong lá số chỉ hiện đủ đầy khi những dữ kiện rời rạc ấy được gom về một mối, và đó là việc của phương pháp tổng hợp.

Nguồn: Dương Thành biên soạn, "Hi Di Trần Đoàn với nền văn hóa Trung Hoa đời Tống".

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề