Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Cung xấu báo nghèo và những bộ sao khó giữ nhà đất

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề30/09/202614 phút đọc3 lượt đọc
Cung xấu báo nghèo và những bộ sao khó giữ nhà đất

Một người tháo vát, lanh lợi thường tự lập mau chóng; một kẻ lười biếng, hoang phí thì di sản cũng không giữ nổi. Cung Mệnh chỉ mới là thuở học nghề, còn cái nghèo thật sự chờ ở những cung nói thẳng về túi tiền, ruộng vườn và bổng lộc. Nhưng vì sao nhà đất lại là thứ khó giữ nhất đối với đa số con người…


Cung Mệnh và cung Thân nhìn từ cái nghèo

Cung Mệnh

Mệnh là thời niên thiếu, lúc con người chưa có sự nghiệp riêng, phải sống nhờ cha mẹ, anh em. Vì thế, về mặt tài sản, xem cung Mệnh phải liếc qua cung Phụ hay cung Bào để tìm cách đánh giá hạnh phúc của thiếu thời.

Tuy nhiên, cung Mệnh hàm chứa cá tính và khả năng con người, có ảnh hưởng đến sự tạo mãi hay giữ gìn của cải. Một kẻ lười biếng, hoang phí, không lo xa, thiếu ý chí tranh đấu ít khi giàu có, ít khi tạo nổi sự nghiệp riêng, hoặc không giữ gìn được di sản tổ tiên hay tài sản của mình. Trái lại, một người tháo vát, lanh lợi, đua chen có chí phấn đấu thường tự lập mau chóng mà duy trì được tài sản lâu dài. Như vậy, tính tình con người trong cung Mệnh có thể giúp tiên đoán tình trạng sinh kế tương lai. Tuy nhiên, vì cung Mệnh chỉ là người học việc, học nghề chỉ là sự chuẩn bị cho sinh kế, cho nên không có ý nghĩa sinh kế một cách trực tiếp.

Tình trạng sinh kế này chỉ thể hiện rõ ở cung Thân, cung Tài, cung Điền và các cung hạn.

Cung Thân

Thân là hậu vận, tức là thời kỳ con người lập thân, có nghề nghiệp riêng, sống tự lập ít nhiều với gia đình. Vì ý nghĩa đó cho nên cung Thân có tương quan mật thiết với cung Tài và cung Điền. Thân có thể đồng cung với Mệnh, với Phúc, với Quan, với Di, với Tài, hoặc với Phu Thê.

Nếu chẳng may cung Thân gặp kẻ xấu, sao xấu thì tình trạng sinh kế phải kém sút, khó khăn chậm chạp, làm nhiều ảnh hưởng ít, giữ của không bền. Vì thế, dù cung Tài hay cung Điền có tốt, cái tốt đẹp đó bị giảm. Vì cung Thân lệ thuộc vào trong một trong sáu cung vừa kể, cho nên xem Thân là xem cái tốt, xấu của 1 trong 6 cung đó. Ý nghĩa của hậu vận dù sao hãy còn có tính cách gián tiếp.

Cung Tài, Điền, Quan và các cung hạn khi xấu

Sau tuổi học nghề, đến những cung nói thẳng về túi tiền, mảnh đất và bổng lộc.

Cung Tài

Cung Tài xấu, nhất là khi Thân cư Tài, bao giờ cũng nghèo, dưới những hình thái và tiêu chuẩn đã nêu. Duy cái nghèo đó không nhất thiết phải kéo dài suốt đời: nó có những giai đoạn thịnh suy. Cung Tài chỉ diễn tả tình trạng sinh kế tổng quát của cuộc đời, chớ không miêu tả hết sự thăng trầm của từng giai đoạn. Thành thử, muốn biết cái nghèo trong chi tiết, trong từng thời kỳ, người xem số phải đoán các cung hạn.

Cung Điền

Dân tộc Trung Hoa rất quí điền sản. Thị hiếu này biểu lộ cá tính tư sản và sắc thái nông nghiệp của dân tộc Trung Hoa. Ai có điền sản nhiều thì sinh kế được đảm bảo lâu dài. Điều đó được khoa Tử Vi mô tả qua cung Điền. Cung này chỉ các bất động sản như nhà, cửa, ruộng vườn, xí nghiệp và các động sản liên hệ đến bất động sản như hoa màu, sản phẩm biến chế, đồng thời cũng chỉ xe cộ (dù xe cộ là động sản thuần túy). Thành thử, cung Điền xấu thì con người nghèo về nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ, hoa màu, cơ xưởng làm ăn, vật phẩm sản xuất. Cung Điền xấu không có nghĩa là nghèo tiền bạc.

Chỉ khi nào hai cung Điền và Tài đều xấu cả thì mới nghèo tiền và nghèo của. Nếu cung Điền xấu mà cung Tài tốt thì cá nhân có thừa tiền nhưng không dư dả để sắm bất động sản. Duy cũng nhờ Tài tốt nên xấu của Điền không đến nỗi tệ.

Cung Quan

Khi xem vấn đề sinh kế ở cung Quan, ta cần lưu ý đến hai đặc tính khởi thủy và hiện đại của nó. Sở dĩ như thế vì ngày xưa, người ta quan niệm quan lộc khác bây giờ.

Theo quan niệm xưa, Quan lộc có hai ý nghĩa: quyền tước (do chữ Quan biểu thị) và tài sản (do chữ Lộc biểu thị). Hai ý nghĩa đó đi liền nhau vì ngày trước, tại Trung Hoa cũng như tại Việt Nam, ai đắc quan đều được vua cấp bổng lộc, nhà cửa ruộng đất để hưởng lợi. Lá số Tử Vi đã mô tả sự liên đới đó bằng cách đặt cung Quan lộc tiếp giáp với cung Điền trạch.

Ý nghĩa phong kiến đó ngày nay không còn bao nhiêu giá trị. Hiện nay, chế độ bổng lộc của nhà nước thể hiện bằng tiền và chức vị, chớ không còn bằng điền sản nữa. Cho nên, nếu hiểu theo hiện thời thì chữ Quan lộc không có ý nghĩa điền sản nữa. Ngày nay, cung Quan chỉ còn ý nghĩa tiền bạc, vì nó được tam chiếu bởi cung Tài. Mặt khác, chữ Quan theo nghĩa xưa gồm các chức vụ chính trị và hành chánh, còn chữ Quan ngày nay chỉ cả nghề tự do hay nghề nghiệp nói chung. Nhiều khi nghề tự do còn dễ sinh lợi hơn nghề công vụ nữa. Do đó trong khi quan niệm xưa đặt nặng tương quan giữa Quan và Điền, thì hiện nay, liên hệ giữa Quan và Tài thì trực tiếp và tích cực hơn, nói như thế có nghĩa là quí (Quan sinh ra Phú (Tài)) hay trái lại, phú dễ sinh quí.

Còn nói riêng về cung Quan, thì nếu Quan xấu, điều này không có nghĩa là nghèo nói chung, mà chỉ có nghĩa là nghèo danh phận, nghèo quyền tước, cụ thể như làm chức nhỏ, thấp, có nghề nghiệp ít sinh lợi, hoặc hành một nghề khó kiếm tiền, hoặc không có óc làm giàu bằng cách lợi dụng quan tước. Vì chữ Quan ngày nay được hiểu theo nghĩa hẹp, cho nên ý nghĩa tài sản của cung Quan rất gián tiếp.

Tuy nhiên, nếu cung Quan có tài tinh thì nhất định tài lộc bắt nguồn từ chức vụ mà có, hoặc là đương sự hành nghề kinh tế, tài chánh công hay nghề kinh doanh, buôn bán tư. Bấy giờ liên hệ giữa công danh và tiền bạc rõ rệt hơn. Xem thế, khoa Tử Vi rất linh động, không chối bỏ ảnh hưởng nào mà vẫn phân biệt được những ảnh hưởng khác nhau bằng các cung, bằng các sao trong mỗi cung.

Các cung hạn

Nếu cung Tài, Điền chỉ tình trạng giàu nghèo một cách tổng quát, thì cung hạn đánh dấu sự thịnh suy về tiền bạc. Do đó, nếu Tài và Điền xấu, điều không có nghĩa là suốt đời phải nghèo. Rơi vào hạn tốt, tiền bạc của cải có thể thịnh hơn. Nhưng, sự thịnh vượng đó bị đóng khung trong bối cảnh nghèo của hai cung Tài Điền, chớ chưa hẳn phá vỡ cái nghèo cố hữu để trở thành giàu, trừ phi hai cung Tài Điền không đến nỗi quá tệ.

Trong trường hợp Tài Điền trung bình mà gặp hạn tốt, có thể có nhiều tài lộc trong năm đó hay trong thập niên đó. Tuy nhiên, nếu gặp hạn xấu thì sa sút nhiều từ sự hao hụt cho đến sự phá sản.

Cách nghèo qua các sao

Cung đã cho thấy chỗ nào của nả có thể vơi; giờ đến những vì sao tô màu cho cảnh túng thiếu ấy.

Các sao nghèo mô tả nhiều cách nghèo, nhiều hình thái mức độ nghèo túng. Có nhiều chỉ dấu để phỏng đoán cái nghèo nói chung.

  • Chính tinh ở những cung tài sản bị hãm địa. Nếu đó là tài tinh thì mức độ nghèo không mấy nặng, vì dù sao, tài tinh hãm địa thì cũng còn ít nhiều ý nghĩa tài lộc, nhất là trường hợp hợp vị ở Tài, Điền. Sự hợp vị mà hãm địa vẫn còn đỡ hơn không hợp vị mà hãm địa. Có thể có hai trường hợp hãm địa gần như tương đương nhau: hoặc chính tinh miếu, vượng và đắc địa bị Tuần hay Triệt án ngữ, hoặc chính tinh hãm địa thiếu Tuần, Triệt án ngữ.

Lẽ dĩ nhiên, chính tinh hãm địa thiếu Tuần hay Triệt đồng cung thì xấu hơn miếu, vượng hay đắc địa gặp Tuần, Triệt, vì lẽ Tuần hay Triệt chỉ có hiệu lực cản trở cái tốt của chính tinh một thời gian nào đó, đến một mức độ nào đó mà thôi.

  • Những cung tài sản thiếu phụ tinh tốt hội chiếu, nhất là thiếu tài tinh. Trường hợp những cung này có tài tinh hãm địa thì vẫn còn đỡ khổ hơn là thiếu cả tài tinh lẫn cát tinh khác.
  • Những cung tài sản thiếu sao giữ của. Nếu bị thêm sao hao (Đại, Tiểu Hao hãm địa) thì càng kém, nhất là khi hao tinh nằm ở Tài và Điền mà không gặp sao nào chế ngự.
  • Những cung tài sản thiếu sao trợ tài, sao may mắn, sao hưởng của.
  • Những cung tài sản bị sát tinh, hung tinh, bại tinh, hao tinh, hình tinh cùng hãm địa. Đây là trường hợp xấu nhất, đặc biệt là khi gặp sát tinh thứ nặng lại không hợp cách của Mệnh, và cũng không bị sao nào khác chế ngự.

Có đủ 5 trường hợp trên thì mức nghèo sát ván: đó là hoàn cảnh của những người cùng khổ (paria), không có gì để giữ, không có gì để mất. Họ dễ trở thành đạo tặc, trộm cướp.

Vì vậy, lá số vô sản và lá số gian phi có nhiều điểm giống nhau.

Dưới đây là những sao điển hình của kiếp nghèo, khi thì đơn thủ, khi thì kết thành bộ với những sao khác.

Cách nghèo về điền trạch

Cách nghèo về nhà cửa, điền sản do cung Điền mô tả, qua những sao dưới đây:

  • Phá Quân ở Dần, Thân
  • Thất Sát ở Thìn, Tuất
  • Thiên Đồng, Cự Môn đồng cung
  • Cự Môn ở Tỵ, Thìn, Tuất
  • Vũ Khúc, Thất Sát đồng cung
  • Thái Dương hãm địa
  • Thái Âm hãm địa

Bảy bộ sao kể trên đều có nghĩa là không có tài sản.

  • Tử Vi, Thất Sát đồng cung
  • Tử Vi, Phá Quân đồng cung
  • Liêm Trinh ở Dần, Thân
  • Vũ Khúc, Phá Quân đồng cung
  • Cự Môn, Thái Dương ở Thân
  • Tham Lang ở Dần, Thân, Tý, Ngọ
  • Cự Môn ở Hợi, Tý, Ngọ
  • Thất Sát ở Tý, Ngọ
  • Phá Quân ở Thìn, Tuất
  • Liêm Trinh, Tham Lang đồng cung

Đó là những trường hợp có ít nhiều di sản, nhưng không giữ được, không hưởng được, bị phá sản, phải lìa bỏ tổ nghiệp, chỉ có thể tự lập mới có chút ít điền sản nhưng phải hết sức chật vật và chậm lụt, nhiều khi phải tha phương lập nghiệp.

  • Liêm Trinh, Thiên Phủ đồng cung
  • Liêm Trinh, Thất Sát đồng cung
  • Liêm Trinh, Phá Quân đồng cung
  • Thái Dương, Thiên Lương ở Dậu

Những cách kể trên tương đối khá hơn, cụ thể như có di sản nhưng bị sa sút về sau (Liêm, Phủ), chậm của (Liêm, Sát) lập nghiệp thất bại buổi đầu (Liêm, Phá), về già mới có nhà đất (Dương, Lương).

Dựa vào những bộ sao trên mà nhận xét, có thể nói rằng:

  • Hầu như đa số sao của bộ Sát, Phá, Liêm, Tham không mấy gì có lợi cho điền sản.
  • Càng không có lợi, nếu những sao đó đồng cung với nhau.
  • Đi với Tử, Phủ hay Vũ, 4 sao nói trên cũng phá tán tài lộc của Tử, Phủ, Vũ khá nhiều.
  • Âm tinh như Cự Môn bị hãm địa thì xấu đã đành, mà khi đồng cung với phúc tinh (Thiên Đồng), quyền tinh hãm địa (Thái Dương) cũng không đẹp gì hơn bất ngờ.
  • Chính tinh về tài sản như Tử, Phủ, Vũ không hợp với Sát, Phá, Liêm, Tham. Bốn sao này xem ra có hiệu lực phá tán mạnh hơn, và cả ba Tử, Phủ, Vũ cũng không quân bình được bất lợi đó.

Nếu những nhận xét trên khả chấp, ta có thể kết luận rằng trong nhãn quan Tử Vi, việc mua sắm và giữ gìn bất động sản rất khó. Điều này cũng dễ hiểu vì nhà đất, vốn là của cải nặng tiền, đòi hỏi phúc đức đặc biệt, công phu lớn lao, thời gian lâu dài, vận hội may mắn mới tạo và giữ được. Cách nghèo về nhà đất quá nhiều: không phải bất cứ ai cũng mua sắm nổi và giữ gìn được lâu dài. Cái giàu về điền sản hầu như nằm ngoài tầm tay của đại chúng: nó chỉ là biệt lệ cho một thiểu số tư bản. Nhìn dưới khía cạnh này, ta thấy khoa Tử Vi rất thực tiễn, nói lên một thực trạng rất phổ thông của con người.

Phụ tinh nghèo về điền sản

Chính tinh chỉ mới lấy đi phần đông của nhà đất; những phụ tinh hãm địa còn đến để lấy nốt phần còn lại.

Còn về phụ tinh, các sao nghèo cũng không hiếm.

Địa Không, Địa Kiếp hãm địa

Đóng hay chiếu cung Điền, Kiếp, Không có nhiều giai tầng ý nghĩa:

  • Không có của cải, nhà đất: vô sản
  • Bị chiếm hữu nhà đất (sang đoạt, truất hữu…)
  • Bị phá hủy nhà đất (tai nạn chiến tranh)
  • Bị tai họa lớn vì điền sản (bị đạo tặc cướp của giết người, bị cháy nhà lây…)

Kiếp Không hãm địa báo hiệu một đại họa bất khả kháng, có hậu quả lớn lao và lâu dài cho sở hữu chủ. Họa đó đến một cách hung hãn và bất ngờ (vì Kiếp Không là sao hỏa) không lường trước được, không thể tránh khỏi. Hai sao này là một nghiệp chướng thật sự về mặt điền sản.

Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh hãm

Nếu hãm địa và hội tụ ở Điền, bốn sao này cũng hung hiểm không kém: nó chỉ sự phá sản, tai họa về điền sản (họa về lửa nếu gặp Hỏa, Linh), sự cực nhọc lúc mua sắm, lúc gìn giữ, số lượng tài sản ít oi, phẩm chất nhà đất tầm thường, việc mất nhiều mối lợi về điền sản.

Tuần, Triệt ở Điền

Chẳng những phải tự lực mua sắm, mà nhà đất còn khó tạo hay chậm có hoặc có rồi bị phá, hao, sa sút. Nếu cả hai sao đồng cung, triển vọng vô sản hoặc phá sản càng rõ rệt. Sức phá của Triệt mạnh hơn Tuần, nhưng lại chỉ phá vào giai đoạn đầu mà thôi. Tuần thì phá nhẹ hơn nhưng lâu dài, triền miên hơn.

Ai có di sản mà cung Điền có Triệt thì dễ bị hao tán sớm và mạnh, nếu có Tuần thì di sản ít mới khỏi hao, còn nhiều thì hao dần dần.

Ai tự lập mà cung Điền có Tuần thì chậm của, có thể từ bốn mươi lăm trở đi vì điền sản tự lập thường xảy ra vào hậu vận. Gặp Triệt, thời gian thủ đắc chậm thêm một thập niên nữa. Nếu gặp Tuần, điền sản tự lập hoặc ít, nếu có nhiều thì hao tán tuần tự, mặc dù của cải có thể được thủ đắc sớm, vào tuổi lập thân (30 tuổi).

Hai biệt lệ của cung Điền vô chính diệu

  • Điền vô chính diệu gặp Tuần hay Triệt đồng cung: việc mua sắm chỉ khó lúc đầu của buổi lập thân, có sự mua vào bán ra điền sản và thay đổi nhà cửa luôn. Càng về già thì mới có sản nghiệp, nhưng tầm thường.
  • Điền vô chính diệu có Tuần hay Triệt án ngữ và có Nhật, Nguyệt sáng sủa hội chiếu: sự nghiệp tuy có khó khăn lúc đầu nhưng về sau rất phong phú, trở thành đại phú nông, đại trạch chủ, đại tư bản.

Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề