Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Vô chính diệu, Tuần Triệt, sao lưu động và Mệnh chủ Thân chủ

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn29/09/202619 phút đọc8 lượt đọc
Vô chính diệu, Tuần Triệt, sao lưu động và Mệnh chủ Thân chủ

Một cung không chính tinh nào tọa thủ, một cặp sao chuyên đảo lộn ý nghĩa của mọi sao đồng cung, chín ngôi sao mỗi năm lại đổi chỗ, và hai loại sao chỉ xuất hiện khi cung Mệnh trống trơn không chủ tinh: bốn trường hợp đặc biệt khiến lá số Tử-Vi không đọc theo một công thức duy nhất...


Một cung không chính tinh nào tọa thủ, một cặp sao chuyên đảo lộn ý nghĩa của mọi sao đồng cung, chín ngôi sao mỗi năm lại đổi chỗ, và hai loại sao chỉ xuất hiện khi cung Mệnh trống trơn không chủ tinh: bốn trường hợp đặc biệt này khiến lá số Tử-Vi không bao giờ đọc theo một khuôn công thức duy nhất.

Trường hợp vô chính diệu

Đó là tình trạng một cung không có chính tinh nào tọa thủ. Thông thường, chính tinh ở cung nào sẽ góp phần xác định đặc tính của cung đó. Nếu chính tinh sáng thì hay, mờ thì xấu. Trong trường hợp vô chính diệu quả thật không thể xác định bằng trung tinh hay phụ tinh. Đúng lý ra thì phải như vậy.

Nhưng, khoa Tử-Vi không nói rõ quy tắc này. Khoa Tử-Vi chỉ nói rằng xem chính tinh xung chiếu để đoán đặc tính của cung vô chính diệu. Vậy, khi đề ra quy tắc đó, vô hình chung, khoa Tử-Vi cho rằng chỉ có chính tinh mới quyết định, chớ phụ tinh không quyết định. Có sự phân biệt tầm quan trọng giữa chính và phụ tinh như ta có dịp nhận thấy ở mục độ số các sao.

Mặt khác, khi đã nói rằng phải dùng chính tinh xung chiếu để đoán, thay vì dùng chính tinh tam chiếu, khoa Tử-Vi hẳn có phân biệt sự khác nhau giữa 2 thế chiếu và cho rằng thế xung chiếu mạnh hơn, quyết định hơn.

Sau cùng, khoa Tử-Vi cũng có nói rằng ngay khi được xung chiếu, cung vô chính diệu cũng không được hưởng trọn vẹn cái hay, cái dở của chính tinh xung chiếu, mà chỉ hưởng một phần cái dở, cái hay của chính tinh xung chiếu đó mà thôi. Khoa Tử-Vi coi xung chiếu yếu hơn tọa thủ. Tuy nhiên, khoa Tử-Vi không ấn định mức độ mạnh yếu của chính tinh xung chiếu khi chạm vào cung vô chính diệu. Điều này làm cho sự giải đoán rất bấp bênh, thiếu chính xác, không cụ thể.

Khoa Tử-Vi cũng không nói đến trường hợp sinh khắc ngũ hành giữa chính tinh xung chiếu với phụ tinh tọa thủ tại cung vô chính diệu. Đây là một điểm huyệt mập mờ khác nữa.

Thông thường, người ta cho cách vô chính diệu kém hơn các cách khác. Đặc biệt là cả tam không cùng nhập cung mệnh vô chính diệu thì rất xấu: không yểu thì nghèo mọn, hai lòng. Trong trường hợp được phú quý thì không lâu dài, nhất là khi gặp thêm một trong tứ sát như Kình Đà hay Kiếp. Được thêm nhật nguyệt chiếu thì thông minh đa tài đa nghệ, nhưng sự nghiệp bấp bênh, trầm bổng, thành bại vô chừng. Nếu hai sao này hãm thì càng xấu.

Hai sao Tuần, Triệt

Quyển Tử-Vi Hàm Số có dịp tham luận rất tỉ mỉ đến ngũ hành, thời gian, mức độ, cường độ ảnh hưởng và sự đồng cung của Tuần, Triệt. Ở đoạn này, chúng ta chỉ bổ túc vài điểm.

Trước hết, Tuần, Triệt đồng hành với cung trấn thủ. Nếu 2 cung trấn thủ thuộc 2 hành khác nhau thì Tuần, Triệt có 2 hành. Xét với cung nào, Tuần, Triệt có hành của cung đó. Ví dụ ở Ngọ, Mùi, Triệt thuộc hành Hỏa với cung Ngọ, hành Thổ với cung Mùi. Chính vì vậy, có quan điểm cho rằng 2 sao này không có hành cơ hữu riêng biệt hoặc là không có hành gì cả. Thật sự, hành của Tuần, Triệt không quan trọng bằng hiệu lực của nó. Có 4 điểm đáng lưu ý:

- Dù mang hành gì, Tuần, Triệt cũng không thay đổi hành của sao đồng cung, cũng không đổi hành của cung tọa thủ.

- Tuần, Triệt chỉ đảo lộn ý nghĩa của sao đồng cung: sao tốt trở thành bình thường hay xấu, sao xấu thì bớt xấu hoặc khả dĩ trở nên tốt. Duy, quy tắc này xem ra không hoàn toàn đúng hẳn. Kinh nghiệm cho thấy có khi chỉ có chính tinh bị đổi nghĩa còn phụ tinh thì giữ nguyên ý nghĩa. Có khi ngược lại, khoa Tử-Vi không nói rõ lúc nào Tuần, Triệt có ảnh hưởng toàn diện, lúc nào chỉ ảnh hưởng cục bộ.

- Tuần, Triệt đóng ở cung nào, thông thường cung đó tiên quyết bị bất lợi. Ở Mệnh thì thiếu niên gian khổ, ở Quan thì chậm hay kém công dụng, ở Phu Thê thì gia đạo trắc trở. Quy tắc này xem ra mạnh hơn quy tắc kể trên, tức là bất luận cung nào có sao đắc, hay hãm địa, mà gặp Tuần, Triệt thì gặp sao tốt hay xấu, cung đó cũng gặp trắc trở, ít ra là trong thời gian đầu. Tuần, Triệt như vậy ảnh hưởng đến cung mạnh hơn ảnh hưởng đến sao trong cung. Trong trường hợp Tuần, Triệt đồng cung thì sự phá hại dữ dội hơn nữa: các sao xấu trong cung dù được biến thành tốt (nhờ Tuần, Triệt) cũng khó cứu giải được bất lợi. Nữ Mệnh mà cung Phu gặp cả Tuần lẫn Triệt thì hết sức gian truân, bạc phận, sát phu, hoặc làm cho chồng thân bại danh liệt, phá sản, chưa kể chính họ có thể rơi vào số kiếp của nàng kiều.

- Trên khía cạnh nào đó, Tuần, Triệt cũng như 2 sao Thiên Không và Địa Không rất cần thiết để nâng cao giá trị cho các cung vô chính hiệu. Nhờ có 4 sao đó, cung vô chính diệu mới tốt thêm. Có thể dựa vào quy tắc này để hình dung rằng cung vô chính diệu ví như con thuyền không lái, thiếu chính tinh cầm đầu. Do đó, cần có yếu tố mạnh để giữ quân bình: yếu tố đó là 4 sao kể trên. Nếu được cả 4 thì rất phú quý, được 3 thì tốt, được 2 thì bình thường. Tuy nhiên, vốn là những phá tinh cho nên các sao này không mang lại phú quý vẹn toàn: cá nhân phải đấu tranh nhiều mà hạnh phúc lại không lâu bền. Đặc biệt là cung vô chính diệu mà có cả tam không đồng cung thì bất lợi càng chóng đến. Muốn được vẹn toàn, cách vô chính diệu còn phải được Âm Dương sáng sủa hội chiếu. Cách vô chính diệu vì thế chưa phải là toàn cách, dù có tứ không quân bình.

Quan điểm của ông Việt Viêm Tử về Tuần, Triệt

Trong quyển Tử-Vi Áo Bí, tác giả Việt Viêm Tử có một luận cứ rất đặc thù về 2 sao Tuần, Triệt được đề cập từ trang 571 đến 573.

Về hành theo tác giả này thì Triệt thuộc hành Kim đới Thủy, Tuần thuộc hành Hỏa đới Mộc.

Về nghĩa, Triệt được tác giả định nghĩa là trảm, chém đứt đoạn, ngăn cách. Tuần là vây hãm, bao chặt.

Về hiệu lực chi phối, Tuần và Triệt có quy luật ảnh hưởng rất đặc thù đến các sao và đến cung có 2 sao này tọa thủ. Tuần, Triệt được xem là có hiệu lực rất mạnh chẳng những đối với các sao đồng cung mà đặc biệt là đối với các cung hội chiếu, xung chiếu và tam chiếu.

Đối với sao, Tuần, Triệt đảo lộn ý nghĩa, tốt thành xấu, xấu thành tốt. Tác giả cho rằng những sao thuộc 3 hành Kim, Hỏa, Mộc rất sợ Tuần, Triệt. Song, tác giả cũng có cá biệt hóa vài sao chính và cho rằng:

- Sát, Phá, Tham tối kỵ Triệt, Tuần, vì Sát thuộc Kim, Tham thuộc Mộc, còn riêng Phá thuộc Thủy thì ít sợ Triệt, Tuần.

- Tử Phủ, Vũ Tướng không sợ Triệt, Tuần vì Tử cách thiên sang hành Thổ nhiều hơn. Riêng Phủ kỵ Tuần mà không sợ Triệt lắm, vì gặp Triệt chỉ bị trộm cắp sứt mẻ còn gặp Tuần thì kho trống rỗng. Vũ thì sợ Triệt, Tuần vì Vũ thuộc Kim.

Còn đối với cung, theo Việt Viêm Tử, có hai quy tắc chi phối: thứ nhất là quy tắc dương hành tam thất (3/7), âm quy nhị bát (2/8); thứ hai là quy tắc cung Mệnh bị Tuần, Triệt chận đầu hay bị Tuần, Triệt theo gót.

Cả hai quy tắc được tính theo cái mà tác giả gọi là "quy lý Âm, Dương". Tác giả có kể ví dụ Tuần, Triệt đóng ở Dần, Mão để soi sáng hai quy tắc này, và trình bày như sau:

- Người tuổi dương, mệnh ở Dần, dương cung thì theo quy tắc dương hành tam thất, cung mệnh ở Dần bị bất lợi 7 phần 10, khó phát minh vì bị Tuần, Triệt chận đầu.

- Cũng tuổi dương nhưng cung mệnh ở Mão, âm cung sẽ chịu thiệt 3/10 vì chỉ bị Tuần, Triệt theo gót.

- Người tuổi âm, mệnh ở Dần, dương cung thì bị thiệt có 2/10 mà thôi, theo quy tắc âm quy nhị bát và Tuần, Triệt theo gót.

- Cũng tuổi âm mệnh ở Mão, âm cung sẽ phải chịu thiệt đến 8/10 vì bị Tuần, Triệt chận đầu.

Ông Việt Viêm Tử không hề có phân biệt nam, nữ trong cả 4 hệ luận trên, mà chỉ nói đến tuổi Âm, Dương và vị trí cung mệnh để xác định tỷ lệ ảnh hưởng của Tuần, Triệt trên cung mệnh.

Phê bình quan điểm Tuần, Triệt của Việt Viêm Tử

Luận cứ đó có giá trị gì?

Trước hết, về ảnh hưởng của Tuần, Triệt đối với sao, thiết nghĩ, ta có thể chấp nhận quy tắc tổng quát là Tuần, Triệt làm đảo nghĩa các sao, nhưng chỉ làm đảo nghĩa các sao đồng cung mà thôi. Cho Tuần, Triệt có hiệu lực đảo nghĩa các sao hội chiếu nữa thì quá đáng và nghịch lý. Quá đáng là vì Tuần, Triệt không chắc tỏa ảnh hưởng xa hơn cung trấn đóng, bằng không, hầu như đa số những cung không có Tuần, Triệt đều bị ảnh hưởng của Tuần, Triệt: Tuần hay Triệt đóng trên 2 cung, nếu ảnh hưởng đến các cung hội chiếu nữa thì tầm hiệu lực của nó có thể lan đến 7, 8 cung. Lối ảnh hưởng quá ư nghịch thường.

Kế đến, khác với ông Việt Viêm Tử, tôi không cho rằng Tuần, Triệt có hành cố định nào. Vì sự tương phản quan điểm như thế, nên tôi không có ý kiến về ảnh hưởng của Tuần, Triệt trên các sao, xét về mặt tương quan ngũ hành.

Còn về ảnh hưởng của Tuần, Triệt trên cung Mệnh qua ví dụ Tuần, Triệt ở Dần, Mão, thì phải nói ngay rằng hai quy tắc ảnh hưởng kể trên (3/7, 2/8 và chận đầu, theo gót trong khuôn khổ của tuổi âm hay dương) chỉ có thể đúng một phần nào, chưa kể còn thiếu sót và có chỗ sai lầm nếu ta phân biệt nam, nữ trong khuôn khổ tuổi âm, dương.

Cái đúng khả chấp là có thể có tỷ lệ ảnh hưởng khác nhau nào đó giữa cung Mệnh và cung kế tiếp, theo chiều thuận hay nghịch. Nhưng, đi sâu vào chi tiết, nhất là khi phân biệt dương nam, dương nữ, âm nam, âm nữ (chớ không phải phân biệt 2 tuổi âm dương mà thôi) thì có nhiều sai sót. Lấy ngay ví dụ Tuần, Triệt ở Dần, Mão của Việt Viêm Tử để chứng minh sự sai sót trong cả hai trường hợp mà ông đã kể:

- Trường hợp tuổi Dương, mệnh Dần: với Dương Nam, mệnh ở Dần thì cung Mệnh bất lợi nhiều (tạm cho là bị thiệt 7/10 ở đại hạn đầu 5 đến 14 tuổi). Ở đại hạn kế, tức là tại cung Phụ Mẫu (từ 15 đến 24 tuổi), Tuần, Triệt chỉ theo gót đại hạn này, nên chỉ làm thiệt 3/10 mà thôi. Nhưng, nếu cùng là tuổi Dương, mệnh ở Dần, cùng thổ ngũ cục mà là con gái thì quy tắc của Việt Viêm Tử sai, tức là cung mệnh bấy giờ không còn bị thiệt 7/10 nữa. Lý do là vì với Dương nữ, hướng đại hạn phải an theo chiều nghịch, đến cung mệnh bấy giờ bị Tuần Triệt theo gót, không còn bất lợi đến 7/10 mà chỉ bất lợi 3/10 mà thôi. Do đó, nếu tính thêm yếu tố nam nữ, quy tắc của Việt Viêm Tử chỉ còn đúng cho nam số mà thôi.

- Trường hợp tuổi Dương, mệnh Mão: nếu là Dương Nam, mệnh ở Mão, gặp Tuần Triệt ở Dần Mão, thì cung Mệnh bị thiệt 3/10, đúng như Việt Viêm Tử nói. Bấy giờ 2 sao Tuần Triệt chỉ theo gót cung Mệnh cho nên ảnh hưởng nhẹ (chỉ có cung Bào, bị Tuần, Triệt chận đầu thì bị nặng hơn 7/10). Tuy nhiên, xoay qua Dương Nữ, tỷ lệ ảnh hưởng của Tuần, Triệt trên cung Mệnh ở Mão lại nặng đến 7/10 vì bị Tuần, Triệt chận đầu. Một lần nữa, cũng cùng tuổi Dương, mệnh Mão, mà Tuần Triệt sát phạt phái Nam chỉ 3/10 trong khi dồn công lực sát phạt phái Nữ 7/10. Vì vậy, sự phân biệt tuổi Âm Dương không đủ, phải tính thêm yếu tố trai gái nữa.

- Trường hợp tuổi Âm, mệnh Dần: theo Việt Viêm Tử, trong các yếu tố của giả thiết đã kể, và với yếu tố Âm Nam, cung mệnh ở Dần chỉ bị Tuần, Triệt theo gót, nên chỉ bị thiệt 2/10 (quy tắc âm quy nhị bát). Nhưng, khi chuyển sang yếu tố Âm Nữ thì theo hướng an đại hạn chiều thuận, cung mệnh ở Dần của phụ nữ phải chịu thất lợi đến 8/10 vì bị Tuần Triệt chận đầu.

- Trường hợp tuổi Âm, mệnh Mão: cũng theo các yếu tố của giả thiết, và cộng vào sự phân biệt Nam, Nữ với tuổi Âm thì quy tắc của ông Việt Viêm Tử chỉ đúng cho con trai, còn cho con gái thì sai.

Tóm lại, ông Việt Viêm Tử đã có sáng kiến ấn định tỷ lệ ảnh hưởng của Tuần, Triệt ở cung Mệnh và cả những cung bị Tuần, Triệt hội chiếu. Tuy nhiên, tỷ lệ của ông ấn định có vẻ toán học (3/7, 8/2) chỉ có thể có giá trị đại cương và hướng dẫn độc giả về một độ số ảnh hưởng khả hữu nào đó của 2 sao này. Thật sự, tỷ lệ này rất khó xác định vì lệ thuộc vào nhiều yếu tố của cung (sinh, vượng, bại, tuyệt địa, thuận hay nghịch vị âm dương), của sao (sự hội tụ, đồng cung hay xung chiếu, tam chiếu, cách…), của phúc đức (trong cung Phúc và trong các phúc thực tại). Vì vậy, dùng tỷ lệ toán học trong hàm số nhân văn phức tạp là đơn giản hóa bài toán quá mức, không chắc chính xác.

Những định lý về Tuần Triệt trong khuôn khổ tuổi Âm Dương của ông, vì không giả thiết thêm trường hợp nam nữ, cho nên chỉ đúng cho nam mà thôi.

Còn phạm vi hiệu lực mà ông gán cho Tuần Triệt quả thật mới lạ, xét ra quá đáng và nghịch lý.

Chúng ta chỉ có thể chấp nhận, từ sáng kiến của ông Việt Viêm Tử: hiệu lực đảo nghĩa của Tuần, Triệt đối với sao đồng cung mà thôi; và tỷ lệ ảnh hưởng tổng quát nào đó đối với cung bị Tuần Triệt chận đầu hay theo gót. Tỷ lệ này vì phức tạp, khó xác định theo mô thức toán học, chỉ nên xem như có tính cách hướng dẫn cho việc luận đoán. Thiết tưởng không nên cho hẳn tỷ lệ 3/7 hay 2/8 một cách quá cụ thể, mà chỉ nên lấy một tỷ lệ chung là trên dưới một nửa, xét ra vừa phải hơn.

Chín sao lưu động

Khoa Tử-Vi được Việt Nam hóa có 9 sao lưu động. Sở dĩ gọi là lưu động vì mỗi năm, 9 sao này thay đổi vị trí. Để cho dễ phân biệt, người ta thêm chữ Lưu trước tên gọi của sao.

Sao lưu động chỉ có công dụng xem hạn cho từng năm một mà thôi, và cũng chỉ sử dụng khi nào cung niên hạn này có sao lưu động trú đóng hay hội chiếu. Nếu cung hạn không có sao lưu động trú đóng hay hội chiếu thì sao sẽ không được dùng để đoán vận hạn.

Chín sao này gồm: Lưu Thái Tuế, Lưu Tang Môn, Lưu Bạch Hổ, Lưu Thiên Khốc, Lưu Thiên Hư, Lưu Kình Dương, Lưu Đà La, Lưu Lộc Tồn. Trong số 9 sao này, chỉ có 2 sao Lưu Thiên Mã và Lưu Lộc Tồn là tương đối tốt, kỳ dư là xấu. Không có sách vở nào cắt nghĩa tại sao lại có các sao lưu động. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào ý nghĩa và tỷ lệ sao xấu nói trên thì việc đặt để 9 sao lưu động nhấn mạnh đến cái họa nhiều hơn cái phúc. Phải chăng, các nhà sáng lập Tử-Vi cho rằng đời người chưa đủ khổ với các cát tinh, hình tinh, hao bại tinh hiện có, cho nên phải bổ túc thêm những gian nan, khổ cực khác mới đúng mức? Phải chăng những sự việc do 9 sao lưu động diễn nghĩa là những sự việc thường hay gặp đi gặp lại mỗi năm? Dù sao, 9 sao lưu động này không đặt thành vấn đề nào mới cho người giải đoán. Các sao này vẫn bị chi phối bởi những quy tắc về hội tụ, về vị trí, về âm dương ngũ hành, về bản chất…

Mỗi lần sao Lưu gặp sao cố định đồng cung thì ý nghĩa được tăng cường gấp đôi, về cái hay cũng như về cái dở. Ví dụ: Lưu Thiên Mã mà gặp Thiên Mã thì có nhiều triển vọng đi xa, thay đổi chỗ làm, chỗ ở, cụ thể là có thể đi thật xa hoặc phải đi đi về về nhiều lần trong năm, hoặc đổi chỗ làm và đổi chỗ ở, hoặc nếu chỉ đổi chỗ làm thì cơ quan mới sẽ rất xa, rất mới đối với mình; nếu chỉ đổi chỗ ở thì nơi cư ngụ mới rất xa, có thể là ở ngoại quốc. Song Mã còn có ý nghĩa tiến đạt về công danh, tài lộc trong trường hợp đắc địa ở Dần và ở Tỵ.

Đối với Lưu Lộc Tồn cũng vậy, sao Lưu làm tăng ý nghĩa cho sao Lộc Tồn cố định. Đối với 7 sao lưu động xấu, quy luật này cũng chi phối y hệt.

Sao lưu động vẫn có thể kết hợp được với các sao cố định khác để ghép nghĩa. Ví dụ như Lưu Lộc Tồn có thể kết được với Vũ Khúc hay Thiên Phủ để chỉ mối lợi về tiền bạc khả hữu trong năm đó.

Vị trí đắc hay hãm địa của sao Lưu giống như vị trí sao cố định. Ví dụ như Khốc Hư đắc địa ở Tý Ngọ, thì 2 sao Lưu liên hệ cũng đắc địa ở đó.

Sao Lưu vẫn bị ảnh hưởng của Tuần Triệt. Ví dụ như Lưu Mã ngộ Triệt có thể bị tai nạn xe cộ hay tay chân bị xây xát, thương tích.

Sao Mệnh chủ, sao Thân chủ

Sách vở về Tử-Vi nói rất ít về 2 loại sao này.

Về ý nghĩa, các sao Mệnh Chủ và Thân Chủ vẫn mang ý nghĩa cố hữu của tên gọi.

Về tác dụng, có một học giả Việt Nam, ông Ân Quang đã sưu tầm được quyển mệnh lý nghiên cứu in tại Đài Loan có đề cập đến tác dụng của 2 loại sao này như sau: "phàm cung Mệnh mà không có sao nào thuộc hạng giáp thì gọi là không có chủ tinh, thì lấy Mệnh làm chủ, nhưng cũng vẫn lấy các sao đối chiếu cung Mệnh, hội chiếu cung Mệnh, giáp cung Mệnh làm khách để phối hợp luận đoán. Phàm tại cung Thân, nếu không có sao nào thuộc hạng giáp thì gọi là không có chủ tinh, thì lấy Thân chủ làm chủ, nhưng cũng vẫn lấy các sao hội chiếu cung Thân, giáp cung Thân làm khách để phối hợp luận đoán".

Như vậy, theo quan điểm của sách này thì chỉ khi nào Mệnh vô chính diệu (thiếu chính tinh hạng giáp, nói trong mục Độ số các sao) thì mới dùng sao Mệnh chủ để đoán cung Mệnh: nếu cung Thân vô chính diệu thì dùng sao Thân chủ để đoán cung Thân. Cả 2 sao Mệnh chủ và Thân chủ được dùng phối hợp với các sao khác, chiếu hay giáp mệnh Thân.

Sự khám phá này làm sáng tỏ được nhiều khía cạnh của vấn đề xưa nay chưa có đáp số. Duy cũng còn vài khía cạnh khác đặt ra trong trường hợp này.

- Sao Mệnh chủ và sao Thân chủ trong trường hợp vô chính diệu được an ở đâu? Tại cung vô chính diệu hay ở khoảng giữa lá số?

- Nếu an tại cung vô chính diệu, 2 loại sao này tất phải chịu ảnh hưởng của các sao khác đồng cung, nhất là 2 sao Tuần, Triệt. Nếu chỉ an ở khoảng giữa lá số thì 2 loại sao này sẽ không bị Tuần, Triệt chi phối. Giữa hai luận cứ, luận cứ nào khả chấp?

Rất tiếc rằng các sách vở Tử-Vi không chỉ rõ cách thức an sao Mệnh chủ và Thân chủ, cho nên bài toán trên vẫn còn thiếu đáp số ổn thỏa.

Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn