Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Tuần, Triệt phá cung Mệnh được bao nhiêu phần trăm? Con số của Việt Viêm Tử

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề27/09/20268 phút đọc5 lượt đọc
Tuần, Triệt phá cung Mệnh được bao nhiêu phần trăm? Con số của Việt Viêm Tử

Một tác giả từng cả gan gán hẳn con số phần trăm cho sức phá của Tuần, Triệt trên cung Mệnh: bảy phần mười, hay chỉ ba phần mười, tùy theo Mệnh nằm ở đâu, tuổi Âm hay Dương. Nghe có vẻ toán học, chặt chẽ, nhưng liệu con số ấy có đứng vững khi đem ra thử với từng trường hợp cụ thể...


Có một tác giả đã dám gán con số phần trăm cho sức phá của Tuần, Triệt lên cung Mệnh: bảy phần mười hoặc chỉ ba phần mười, tùy Mệnh đóng ở đâu và tuổi thuộc Âm hay Dương. Nghe thì như toán học, chặt chẽ, nhưng những con số ấy liệu có đứng vững khi đem thử với từng lá số cụ thể...

Ở phần trước, ta thấy cung nào có Tuần, Triệt tọa thủ thì cung ấy trước hết chịu bất lợi; còn bất lợi tới mức nào thì Lý số nhìn chung bỏ ngỏ, không định lượng. Trong những người từng thử lấp chỗ trống đó, ông Việt Viêm Tử đi xa hơn cả: ông không dừng ở chuyện bất lợi nhiều hay ít mà còn mạnh dạn nêu hẳn một con số.

Hành và nghĩa của Tuần, Triệt dưới ngòi bút Việt Viêm Tử

Trong tác phẩm Lý số học Áo Bí, từ trang 571 đến 573, Việt Viêm Tử trình bày một luận cứ rất riêng về hai sao Tuần, Triệt.

Về ngũ hành, ông gán Triệt cho Kim đới Thủy và Tuần cho Hỏa đới Mộc. Về ý nghĩa, ông định nghĩa Triệt là trảm, tức chém đứt, cắt đoạn, ngăn cách; còn Tuần là vây hãm, bao siết. Hai định nghĩa ấy không tình cờ: chém đứt là một nhát cắt lìa dứt khoát và tức thời, còn vây hãm là sự giam giữ kéo dài, siết dần từng chút; cả hai đều là phá cách, nhưng khác nhau ở phương thức tác động lên đời sống của cung bị chiếm.

Về phạm vi chi phối, ảnh hưởng của Tuần, Triệt lên các sao và lên cung mà hai sao này ngự có quy luật rất đặc biệt. Hiệu lực của chúng được coi là rất mạnh, không chỉ với những sao đồng cung mà nhất là với các cung hội chiếu, xung chiếu và tam chiếu.

Đối với các sao, Tuần, Triệt làm đảo ngược ý nghĩa: tốt hóa xấu, xấu hóa tốt. Theo ông, những sao thuộc ba hành Kim, Hỏa, Mộc rất e ngại Tuần, Triệt. Tuy nhiên ông cũng nêu riêng vài sao chính: Sát, Phá, Tham kỵ Tuần, Triệt nhất, bởi Sát thuộc Kim, Tham thuộc Mộc, còn Phá thuộc Thủy nên ít sợ Triệt, Tuần hơn. Tử Phủ, Vũ Tướng không sợ Triệt, Tuần vì thiên về hành Thổ hơn. Riêng Phủ thì kỵ Tuần mà không quá sợ Triệt: gặp Triệt chỉ như bị trộm cắp làm sứt mẻ, còn gặp Tuần thì kho tàng trống rỗng. Vũ lại sợ Triệt, Tuần vì Vũ thuộc Kim. Lối xét từng sao như vậy cho thấy Việt Viêm Tử không dừng ở quy tắc chung, rằng sao thuộc ba hành Kim, Hỏa, Mộc thì sợ Tuần, Triệt, mà còn lý giải tại sao có vài Chính Tinh nằm ngoài quy tắc, căn cứ vào bản chất Ngũ Hành riêng của mỗi sao.

Hai quy tắc tính tỷ lệ tác động lên cung Mệnh

Hiệu lực của Tuần, Triệt trên từng sao mới chỉ là khởi đầu; chỗ thật sự thuộc về riêng Việt Viêm Tử, và cũng táo bạo nhất, nằm ở đây: ông muốn đo bằng con số cụ thể mức bất lợi mà cung Mệnh gánh chịu, thay vì dừng ở chữ "bất lợi" mơ hồ như phần đông các tác giả khác. Với cung, ông đặt ra hai quy tắc. Thứ nhất là Dương hành tam thất, tức ba trên bảy, Âm quy nhị bát, tức hai trên tám. Thứ hai là quy tắc xem cung Mệnh bị Tuần, Triệt chặn đầu hay chỉ bị theo gót.

Cả hai quy tắc đều tính theo cái mà ông gọi là "Quy lý Âm, Dương". Để soi sáng, ông lấy ví dụ Tuần, Triệt đóng ở Dần, Mão. Người tuổi Dương có Mệnh ở Dần, tức dương cung, thì theo quy tắc Dương hành tam thất, cung Mệnh thiệt bảy phần mười, khó phát vì bị Tuần, Triệt chặn đầu. Cũng tuổi Dương nhưng Mệnh ở Mão, âm cung, chỉ thiệt ba phần mười vì Tuần, Triệt chỉ theo gót. Người tuổi Âm có Mệnh ở Dần, dương cung, chỉ chịu thiệt hai phần mười, theo quy tắc Âm quy nhị bát cùng việc Tuần, Triệt theo gót. Còn người tuổi Âm mà Mệnh ở Mão, âm cung, lại thiệt tới tám phần mười vì bị Tuần, Triệt chặn đầu. Bốn con số bảy, ba, hai, tám phần mười được bày ra gọn gàng như một bảng cửu chương, khiến người đọc dễ tin rằng đây là quy luật đã qua kiểm chứng kỹ càng, có thể áp dụng máy móc cho bất kỳ lá số nào nằm trong khuôn tuổi Âm hay tuổi Dương.

Trong cả bốn hệ luận vừa nêu, ông Việt Viêm Tử không phân biệt Nam Nữ; ông chỉ dựa vào tuổi Âm, Dương và vị trí cung Mệnh để xác định tỷ lệ ảnh hưởng của Tuần, Triệt trên cung Mệnh. Đây là kẽ hở lớn nhất của cả luận cứ, vì như sẽ thấy ngay sau đây, chiều an đại hạn của một lá số không chỉ tùy tuổi Âm Dương mà còn tùy giới tính của đương số.

Bốn trường hợp minh họa và kẽ hở của quy tắc

Muốn thấy cách tính này vận hành ra sao trên lá số thật, ta phải xét thêm một yếu tố mà chính Việt Viêm Tử đã bỏ qua: chiều an đại hạn của Nam và Nữ khác nhau. Đây là một trong những nguyên tắc nền tảng nhất của Lý số, Dương Nam Âm Nữ đi thuận, Âm Nam Dương Nữ đi nghịch, vậy mà nó hoàn toàn vắng mặt trong bốn hệ luận này. Bỏ sót một nguyên tắc căn bản như thế, cố ý hay vô tình, cũng đủ làm lung lay tính phổ quát của bảng tỷ lệ ba trên bảy, hai trên tám. Xét người tuổi Dương: nếu là con trai, tức Dương Nam, đại hạn an thuận, và cung Mệnh ở Dần quả là bất lợi nhiều, có thể tạm coi là thiệt bảy phần mười ở đại hạn đầu. Nhưng cùng tuổi Dương, cùng Mệnh ở Dần mà là con gái, tức Dương Nữ, đại hạn phải an nghịch; lúc ấy cung Mệnh bị Tuần, Triệt theo gót, không còn bất lợi bảy phần mười nữa mà chỉ còn ba phần mười.

Đảo lại, với Dương Nam có Mệnh ở Mão, gặp Tuần, Triệt ở Dần, Mão, cung Mệnh thiệt ba phần mười đúng như Việt Viêm Tử nói, vì Tuần, Triệt lúc này chỉ theo gót cung Mệnh nên ảnh hưởng nhẹ; chỉ cung Bào, đứng kề bên và bị Tuần, Triệt chặn đầu, mới nặng hơn, tới bảy phần mười. Thế nhưng chuyển sang Dương Nữ, tỷ lệ ảnh hưởng lên cung Mệnh ở Mão lại nặng tới bảy phần mười vì bị chặn đầu. Nghĩa là, cùng tuổi Dương, cùng Mệnh Mão, Tuần, Triệt chỉ giáng ba phần mười xuống phái nam nhưng dồn tới bảy phần mười xuống phái nữ. Bởi vậy, chỉ phân biệt tuổi Âm Dương là chưa đủ, còn phải tính thêm yếu tố nam nữ: cùng tuổi, cùng vị trí Mệnh, cùng một cặp Tuần, Triệt, nhưng một người con trai và một người con gái trong cùng nhà, giả sử sinh cùng giờ cùng ngày, vẫn có thể gánh hai mức bất lợi khác xa nhau.

Xét tiếp tuổi Âm. Theo Việt Viêm Tử, trong các giả thiết đã nêu, với Âm Nam, cung Mệnh ở Dần chỉ bị Tuần, Triệt theo gót nên thiệt hai phần mười, đúng với quy tắc Âm quy nhị bát. Nhưng sang Âm Nữ, đại hạn an theo chiều thuận, cung Mệnh ở Dần của phụ nữ chịu thiệt tới tám phần mười vì bị Tuần, Triệt chặn đầu. Vậy khi cộng thêm sự phân biệt nam nữ vào tuổi Âm, quy tắc của Việt Viêm Tử chỉ đúng cho con trai, còn cho con gái thì sai. Bốn trường hợp thử này, Dương Nam, Dương Nữ, Âm Nam, Âm Nữ, mỗi loại lại chia theo Mệnh ở Dần hay ở Mão, đủ để cho thấy một quy tắc tưởng chừng gọn gàng, mạch lạc thật ra chỉ đứng được trong một nửa số trường hợp mà nó nhận là bao quát.

Gộp lại, công của Việt Viêm Tử là đã khởi xướng việc ấn định mức tác động của Tuần, Triệt lên cung Mệnh và lên những cung chịu hội chiếu với hai sao này. Nhưng cái tỷ lệ ông đưa ra, dẫu khoác dáng vẻ toán học với ba trên bảy và hai trên tám, chỉ nên xem là con số phác thảo, đủ để gợi cho người học một mức ảnh hưởng có thể xảy ra. Bản chất của nó khó ấn định chính xác, bởi còn tùy vào nhiều tầng điều kiện: điều kiện của cung (sinh, vượng, bại, tuyệt địa, hợp hay nghịch vị Âm Dương), điều kiện của sao (sự hội tụ, đồng cung, xung chiếu hay tam chiếu, cách cục) và điều kiện của phúc đức (nằm ở cung Phúc và trong những phúc thực tại). Lấy phép tính số học để đo một hàm số nhân văn vốn phức tạp thì e rằng đã làm bài toán đơn giản đi quá mức và khó bảo đảm đúng.

Bởi vậy, câu chuyện về bốn con số ba, bảy, hai, tám phần mười vượt ra ngoài phạm vi Tuần, Triệt. Nó nhắc bất kỳ ai định biến Lý số thành công thức cứng nhắc rằng số liệu càng ngắn gọn, dễ thuộc bao nhiêu thì càng dễ che lấp những biến số lặng lẽ đứng sau: giới tính, chiều an đại hạn, cùng vô số yếu tố khác mà một bảng tỷ lệ hai chiều chẳng thể gói trọn.

Nguồn: Dương Thành biên soạn, "Hi Di Trần Đoàn với nền văn hóa Trung Hoa đời Tống".

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề