Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Chín sao chạy theo năm: cách đọc vận hạn từng năm trong Lý số học

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề27/09/20268 phút đọc2 lượt đọc
Chín sao chạy theo năm: cách đọc vận hạn từng năm trong Lý số học

Mỗi năm, chín ngôi sao này lại đổi chỗ đứng trên lá số, như thể trời đất phát cho mỗi người một tấm thẻ vận hạn mới. Trong chín sao ấy, chỉ có hai sao tạm gọi là lành, còn lại đều mang ý nghĩa gập ghềnh, hao tổn. Phải chăng đời người vẫn chưa đủ khổ với những sao cố định sẵn có...


Mỗi năm, chín ngôi sao này lại đổi chỗ đứng trên lá số, như thể trời đất phát cho mỗi người một tấm thẻ vận hạn mới. Trong chín sao ấy, chỉ có hai sao tạm gọi là lành, còn lại đều mang ý nghĩa gập ghềnh, hao tổn. Phải chăng đời người vẫn chưa đủ khổ với những sao cố định sẵn có...

Mọi sao đã được bàn từ đầu chương đến đây, gồm Chính Tinh, phụ tinh, Sát Tinh, Hình Tinh, Hao Bại, Ám Tinh, đều chung một tính: đứng yên một chỗ suốt đời, cố định ngay từ khi lá số được lập. Riêng một nhóm sao thì khác. Chúng dời chỗ, mỗi năm đổi cung một lần, và chính sự dời chỗ ấy là lý do khiến chúng phải được xếp thành một lớp riêng biệt.

Chín sao mỗi năm đổi chỗ

Lý số học theo lối Việt Nam có 9 sao lưu động. Gọi là lưu động vì hằng năm 9 sao này đều đổi vị trí. Cho dễ phân biệt với sao cố định, người ta đặt thêm chữ Lưu trước tên mỗi sao.

Công dụng của sao lưu động chỉ là xem hạn từng năm một, và chỉ dùng đến khi cung niên hạn có sao lưu động đóng hoặc chiếu tới. Cung hạn mà không có sao lưu động đóng hay chiếu thì sao ấy không được dùng để đoán vận hạn. Nghĩa là sao lưu động không có quyền tùy ý lên tiếng ở cung nào nó muốn; nó chỉ được phát biểu khi cung đang xét, tức cung của năm hạn, thật sự có nó ghé qua, trực tiếp hoặc qua thế hội chiếu.

Chín sao đó là: Lưu Thái Tuế, Lưu Tang Môn, Lưu Bạch Hổ, Lưu Thiên Khốc, Lưu Thiên Hư, Lưu Kình Dương, Lưu Đà La, Lưu Thiên Mã, Lưu Lộc Tồn. Trong đó chỉ 2 sao Lưu Thiên Mã và Lưu Lộc Tồn là tương đối tốt, số còn lại đều xấu. Tỷ lệ hai phần chín ấy thấp hơn nhiều so với tỷ lệ cát tinh trong toàn hệ thống sao cố định, cho thấy dụng ý của người xưa khi lập riêng một lớp sao lo việc báo trước rủi ro từng năm, hơn là ban phát điều may.

Đáng chú ý là sách vở không lý giải vì sao lại có sao lưu động. Nhưng căn cứ vào ý nghĩa và tỷ lệ sao xấu kể trên, việc đặt ra 9 sao này nghiêng về nhấn mạnh tai họa hơn phúc lành. Hay là các bậc sáng lập Lý số học cho rằng đời người chưa đủ khổ với các cát tinh, hình tinh, hao bại tinh, ám tinh sẵn có, nên phải bổ sung thêm gian truân, cực nhọc cho đủ mức? Đó không phải câu hỏi tu từ cho vui, mà là bóng dáng cách nhìn đời của người xưa: hạnh phúc là ngoại lệ hiếm hoi, còn khổ đau trắc trở mới là nền thường trực mà con người phải đối mặt mỗi năm. Có lẽ những việc do 9 sao lưu động diễn nghĩa cũng là những việc hay lặp đi lặp lại hằng năm. Dù sao, 9 sao này không đặt ra vấn đề mới nào cho người giải đoán, vì chúng vẫn chịu sự chi phối của các quy tắc về hội tụ, vị trí, Âm Dương Ngũ Hành và bản chất đã bàn ở những phần trước.

Khi sao Lưu đồng cung với sao cố định

Hễ sao Lưu gặp sao cố định cùng ngồi một cung thì ý nghĩa được nhân đôi, cả điều hay lẫn điều dở. Thí dụ Lưu Thiên Mã gặp Thiên Mã thì rất có triển vọng đi xa, đổi chỗ làm, đổi chỗ ở. Cụ thể là có thể đi thật xa, hoặc phải đi đi về về nhiều lượt trong năm, hoặc đổi cả nơi làm lẫn nơi ở; nếu chỉ đổi nơi làm thì cơ quan mới sẽ rất xa, rất lạ đối với mình; nếu đổi nơi ở thì chỗ cư ngụ mới rất xa, có thể ở hẳn nước ngoài. Song Mã, tức lúc sao Lưu và sao cố định cùng tên gặp nhau, còn mang nghĩa tiến đạt về công danh, tài lộc nếu đắc địa ở Dần và Tỵ. Lưu Lộc Tồn cũng thế: sao Lưu tăng thêm nghĩa cho Lộc Tồn cố định. Với 7 sao lưu động xấu, quy luật này chi phối y hệt: Lưu Thái Tuế hay Lưu Tang Môn mà gặp đúng sao cùng dạng cố định thì cái xấu vốn có nặng nề hơn hẳn lúc đứng một mình. Đó chính là quy tắc hội tụ đã nói ở trên, chỉ khác là một trong hai sao hội tụ nay không còn cố định mà đổi theo từng năm, khiến cuộc gặp gỡ của hai sao cùng dạng thành một biến cố có thời điểm, chứ không còn là nét cố hữu của cả lá số.

Sao lưu động còn ghép được với các sao cố định khác để thành nghĩa. Chẳng hạn Lưu Lộc Tồn kết với Vũ Khúc hay Thiên Phủ để chỉ món lợi tiền bạc có thể có trong năm ấy. Vị trí đắc hay hãm của sao Lưu giống như sao cố định. Thí dụ Khốc, Hư đắc địa ở Tý, Ngọ thì hai sao Lưu tương ứng cũng đắc địa ở đó. Tức là sao lưu động không tự mang bảng miếu, vượng, đắc, hãm riêng; nó mượn nguyên bảng của sao cố định cùng tên, chỉ khác là chỗ đắc địa ấy năm nay rơi vào cung này, sang năm rơi vào cung khác, theo đường đi riêng của mỗi sao lưu động qua mười hai cung.

Sao Lưu vẫn chịu ảnh hưởng của Tuần, Triệt. Thí dụ Lưu Mã gặp Triệt có thể bị tai nạn xe cộ hoặc tay chân trầy xước, thương tích. Điều này cho thấy Tuần, Triệt không phân biệt sao cố định hay sao lưu động: đã cùng cung thì quy tắc đảo nghĩa vẫn áp dụng như nhau, bất kể sao kia đứng yên cả đời hay chỉ ghé qua một năm.

Nhìn chung, chín sao lưu động không phải một hệ thống độc lập tách khỏi mọi nguyên tắc đã bàn trước đó. Chúng chỉ là một lớp sao mới, thêm chiều thời gian, mỗi năm một chỗ, nhưng vẫn phải theo đúng những quy luật về hội tụ, vị trí, Âm Dương Ngũ Hành, ảnh hưởng của Tuần, Triệt như mọi sao cố định. Vì thế người xem số không cần học riêng một bộ quy tắc cho sao lưu động, chỉ cần vận dụng lại những gì đã biết cho một lớp sao di động được thêm vào lá số hằng năm. Nói cho công bằng, cái mới duy nhất của sao lưu động là chiều kích thời gian: nếu các sao cố định vẽ nên bức chân dung tổng quát của một đời người, thì sao lưu động, nhờ mỗi năm đổi chỗ một lần, có nhiệm vụ tô đậm chi tiết cho từng năm cụ thể trong bức chân dung ấy, năm nào thuận, năm nào nghịch, năm nào nên thận trọng hơn với chuyện đi lại, tiền bạc hay sức khỏe.

Điều này đòi hỏi người xem số phải giữ đầu óc tỉnh táo khi cầm lá số trong tay. Cũng vì chỉ có công dụng cho từng năm, sao lưu động không nên đem dùng để phán những chuyện dài hạn như tính cách, sự nghiệp cả đời hay hôn nhân bền lâu. Lẫn lộn hai bình diện, cái cố định của cả đời người và cái lưu động của riêng một năm, là một trong những lỗi phổ biến nhất của người mới học: thấy một Lưu Tang Môn xấu liền vội kết luận cả cuộc đời đương số u ám, trong khi sao ấy chỉ có giá trị cảnh báo cho đúng năm đó. Ngược lại, gặp năm có Lưu Lộc Tồn đẹp cũng không có nghĩa cả đời dư dả; nó chỉ báo rằng năm ấy, so với những năm khác của cùng một người, tài lộc có phần khởi sắc hơn.

Nhìn rộng ra, sự hiện diện của chín sao lưu động cho thấy khoa Lý số học không coi lá số là một bức tranh tĩnh, vẽ một lần rồi để nguyên suốt đời. Lá số vừa có phần bất biến, gồm giờ, ngày, tháng, năm sinh, Chính Tinh và phụ tinh cố định, vừa có phần luôn chuyển động theo dòng thời gian bên ngoài. Chín sao lưu động tuy chỉ là một chi tiết nhỏ trong cả hệ thống sao đồ sộ, lại là bằng chứng rõ nhất cho triết lý ấy: con người sống trong một lá số cố định, nhưng vẫn phải đối diện với dòng vận hạn đổi thay không ngừng qua từng năm.

Nguồn: Dương Thành biên soạn, "Hi Di Trần Đoàn với nền văn hóa Trung Hoa đời Tống".

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề