Bài tổng quan
Cung trống Chính Tinh và bốn điều cần nhớ về Tuần, Triệt
Một cung không có Chính Tinh nào tọa thủ chẳng khác nào con thuyền không người lái. Nhưng khi Tuần, Triệt ghé qua, ngay cả cung có sao tốt nhất cũng phải chịu trắc trở, ít nhất là trong buổi đầu. Tại sao hai sao vô hình này lại có sức mạnh áp đảo cả một cung đến vậy...
Một cung vắng bóng Chính Tinh chẳng khác nào chiếc thuyền trôi mà không có người giữ lái. Còn khi Tuần, Triệt đi ngang, cả cung được sao tốt bậc nhất tọa thủ cũng phải nếm mùi trở ngại, chí ít là ở chặng đầu. Vì sao hai vì sao không hình không dạng ấy lại đè nặng lên một cung đến thế...
Đa số điều Lý số dạy đều quay quanh việc đặt tên và tìm chỗ đứng cho những sao có mặt trên lá số. Song chính môn học này cũng phải nhìn nhận rằng có những cung, những cảnh huống mà cái vắng mặt nặng ký chẳng kém gì cái hiện diện. Hai trường hợp bàn dưới đây, một bên là cung trống Chính Tinh, một bên là cặp sao thực chất chỉ là khoảng cách thời gian trong lịch pháp, đủ để làm sáng tỏ nghịch lý ấy.
Vô chính diệu: lá số thiếu bàn tay cầm lái
Bàn về các sao, cần dừng lại ở vài trường hợp đặc biệt. Trước tiên là vô chính diệu, tức cung mà không một Chính Tinh nào đóng giữ. Lệ thường, Chính Tinh nằm ở cung nào thì góp phần quy định tính chất của cung ấy: sao sáng thì cung tốt, sao mờ thì cung xấu. Đến cung vô chính diệu, người ta không thể dựa vào trung tinh hay phụ tinh để định đoán. Điều đó vốn hợp lẽ, vì nếu phụ tinh cũng đủ sức quyết định tính chất của một cung thì việc chia Chính Tinh với phụ tinh đã thành thừa ngay từ đầu.
Thế nhưng Lý số không phát biểu rõ nguyên tắc ấy. Môn này chỉ dặn rằng muốn đoán tính chất cung vô chính diệu thì xem Chính Tinh xung chiếu. Đặt ra lời dặn ấy, vô hình trung Lý số đã ngầm nhận rằng chỉ Chính Tinh mới có quyền quyết định, phụ tinh thì không. Sự phân biệt nặng nhẹ giữa chính và phụ tinh này ta đã gặp khi xét độ số của các sao. Có thể nói cung vô chính diệu là phép thử sáng tỏ nhất cho nguyên tắc đó: nếu Chính Tinh quả thật trọng hơn phụ tinh, thì lúc Chính Tinh vắng mặt cung phải đi mượn tính chất từ một Chính Tinh khác, dẫu ở xa, dẫu chỉ xung chiếu, chứ không thể tạm lấy phụ tinh sẵn có tại chỗ mà thay vào.
Lại nữa, đã dặn dùng Chính Tinh xung chiếu mà không dùng Chính Tinh tam chiếu, tức là Lý số có phân biệt hai thế chiếu và coi xung chiếu là thế mạnh hơn, có sức định đoạt hơn.
Cuối cùng, Lý số còn cho rằng dù được xung chiếu, cung vô chính diệu cũng không thụ hưởng trọn vẹn cái hay hoặc cái dở của Chính Tinh xung chiếu, mà chỉ nhận được một phần. Xung chiếu được xem là yếu hơn tọa thủ, phù hợp với nguyên tắc đã nêu ở mục yếu tố vị trí của sao. Nhưng mức mạnh yếu cụ thể của Chính Tinh xung chiếu khi rọi vào cung vô chính diệu thì không được ấn định, khiến việc giải đoán lung lay, thiếu chính xác, thiếu cụ thể. Chưa hết, trường hợp Chính Tinh xung chiếu và phụ tinh tọa thủ tại cung vô chính diệu có quan hệ sinh khắc Ngũ Hành cũng không thấy nhắc tới. Đó lại là một chỗ mờ nữa, một khoảng trống lý thuyết mà người xem số đành tự lấp bằng kinh nghiệm, vì sách vở chẳng để lại công thức nào rõ ràng.
Nhìn chung, người ta vẫn coi cách vô chính diệu là kém hơn những cách khác. Nặng nhất là khi cả tam không cùng đổ về cung Mệnh vô chính diệu: nếu không yểu thì cũng nghèo, nữ mạng dễ làm lẽ mọn, ăn ở hai lòng. Có được phú quý thì cũng chẳng bền, nhất là khi lại gặp thêm một trong tứ sát như Kình Đà hay Không Kiếp. Được Nhật Nguyệt chiếu thì thông minh, đa tài đa nghệ, nhưng sự nghiệp lên xuống thất thường, thành bại khó lường; hai sao ấy mà hãm thì càng tệ. Chữ "kém hơn" ở đây không hàm ý hết đường cứu chữa, mà chỉ nói rằng đương số phải trả giá đắt hơn, phải tự tay bù đắp nhiều hơn cho phần thiếu hụt ban đầu, rồi mới đạt tới thế ổn định mà cung có Chính Tinh vững chãi vốn đã có sẵn.
Tuần, Triệt: hai sao không hành riêng mà quyền uy rất riêng
Trước hết, Tuần, Triệt đi theo cung mà chúng đóng. Hai cung thuộc hai hành khác nhau thì Tuần, Triệt cũng mang hai hành; đặt vào cung nào thì lấy hành của cung ấy. Chẳng hạn ở Ngọ và Mùi, Triệt là Hỏa khi đứng cùng cung Ngọ, là Thổ khi đứng cùng cung Mùi. Bởi thế có ý kiến cho rằng hai sao này không có hành cố hữu, hoặc chẳng thuộc hành nào. Thực ra, hành của Tuần, Triệt không hệ trọng bằng hiệu lực của chúng. Điều này tự nó đã đáng chú ý: có những sao mà giá trị luận đoán không nằm ở bản chất Âm Dương Ngũ Hành như phần đông các sao khác, mà hoàn toàn nằm ở cách chúng xáo trộn trật tự sẵn có xung quanh. Có bốn điểm cần ghi nhớ.
Điểm đầu tiên: mang hành gì thì Tuần, Triệt cũng không làm đổi hành của sao đồng cung, càng không làm đổi hành của cung đang đóng. Chúng không chạm vào tầng Âm Dương Ngũ Hành đã bàn ở phần trước, mà chỉ tác động lên một tầng khác, là tầng ý nghĩa cát hung.
Điểm thứ hai: Tuần, Triệt làm đảo ý nghĩa của sao đồng cung, sao tốt hóa bình thường hoặc xấu, sao xấu bớt xấu hoặc có thể chuyển thành tốt. Có điều quy tắc này chưa hẳn hoàn toàn đúng. Từng trải cho thấy có lúc chỉ Chính Tinh bị đổi nghĩa còn phụ tinh giữ nguyên, có lúc lại ngược lại. Lý số không nói rõ khi nào Tuần, Triệt tác động toàn diện, khi nào chỉ cục bộ. Chỗ này cần kinh nghiệm thực tế hơn là công thức dựng sẵn: người xem số phải soi vào các yếu tố khác của lá số như độ số, vị trí, sự hội tụ, để cân xem lần này Tuần, Triệt ra tay nặng hay nhẹ.
Điểm thứ ba: Tuần, Triệt đóng ở cung nào thì thông thường cung ấy chịu bất lợi trước tiên. Ở Mệnh thì tuổi trẻ gian khổ, ở Quan Lộc thì công việc chậm hoặc kém hiệu quả, ở Phu Thê thì gia đạo lận đận. Quy tắc này mạnh hơn quy tắc vừa kể: dù cung có sao đắc hay hãm, dù sao ấy tốt hay xấu, hễ gặp Tuần, Triệt thì cung vẫn trắc trở, ít nhất trong thời gian đầu. Như vậy Tuần, Triệt ảnh hưởng đến cung nhiều hơn đến các sao trong cung. Nếu Tuần và Triệt cùng đóng một cung thì sức phá còn dữ dội hơn, các sao xấu trong cung dẫu nhờ Tuần, Triệt mà hóa tốt cũng khó gỡ được bất lợi. Nữ mệnh mà cung Phu có đủ cả Tuần lẫn Triệt thì cực kỳ gian truân, bạc phận, sát phu hoặc khiến chồng thân bại danh liệt, phá sản, chưa kể bản thân có thể rơi vào số kiếp nàng Kiều. Ví dụ nặng nề ấy cho thấy: khi hai sao vốn chỉ đảo nghĩa cùng lúc xuất hiện trên một cung trọng yếu như Phu Thê, tác động của chúng không còn dừng ở việc làm mờ ý nghĩa sao đồng cung, mà thành một thế lực chi phối độc lập, đủ sức viết lại cả một đoạn đời.
Điểm thứ tư: xét ở một phương diện, Tuần, Triệt cùng Thiên Không và Địa Không là những sao rất cần để nâng giá trị cho cung vô chính diệu. Cung vô chính diệu như thuyền thiếu người lái, không có Chính Tinh dẫn đầu, nên cần một yếu tố đủ mạnh để giữ thăng bằng, và yếu tố ấy chính là bốn sao vừa kể. Hai sao vốn chuyên phá ý nghĩa của sao khác nay quay sang nâng đỡ chính cung đang thiếu người cầm lái; nghịch lý này chỉ hiểu được nếu coi Tuần, Triệt, Thiên Không, Địa Không như bốn cột trụ tạm dựng thay cho Chính Tinh vắng mặt. Đủ bốn sao thì rất phú quý, được ba thì tốt, được hai thì thường. Tuy nhiên, bản chất là phá tinh nên bốn sao này không đem lại phú quý trọn vẹn: cá nhân phải tranh đấu nhiều mà hạnh phúc không bền. Nhất là cung vô chính diệu có cả tam không đồng cung thì điều bất lợi đến rất nhanh. Muốn được vẹn toàn, cách vô chính diệu còn cần Âm Dương sáng sủa hội chiếu. Bởi vậy, dù đã có tứ không quân bình, cách vô chính diệu vẫn chưa thể gọi là toàn cách.
Ngoảnh lại hai trường hợp, vô chính diệu và Tuần, Triệt, ta thấy một điểm chung đáng ngẫm: cả hai đều là chỗ trống, chỗ khuyết trên lá số, nhưng khoảng trống ấy không hề vô nghĩa. Ngược lại, chính nó buộc người xem số phải phối hợp nhiều quy tắc hơn, cân nhắc kỹ hơn, thay vì tra một câu quyết đơn giản như khi gặp một Chính Tinh sáng sủa tọa thủ bình thường. Nói rộng ra, lá số đẹp chưa chắc là lá số đầy ắp Chính Tinh miếu vượng ở mọi cung; nhiều khi cách đương số xoay xở trước một khoảng trống, nhờ hội chiếu, nhờ phối hợp đúng chỗ những sao phụ trợ, mới là thước đo thật sự của bản lĩnh, hơn hẳn một lá số sắp sẵn quá đầy đủ mà không còn chỗ cho con người vùng vẫy và tự khẳng định mình.
Nguồn: Dương Thành biên soạn, "Hi Di Trần Đoàn với nền văn hóa Trung Hoa đời Tống".
