Bài tổng quan
Ý nghĩa liên đới giữa các cung và động tính của 12 cung
Một cung không bao giờ đứng một mình — nó bị hội chiếu, tiếp giáp, nhị hợp bởi sáu cung khác cùng lúc. Nhưng không phải mối liên đới nào cũng đáng tin: có cung gắn bó chặt chẽ như Phúc, Mệnh, Thân, lại có cung chỉ liên hệ mơ hồ, thậm chí đổi hẳn ý nghĩa tùy trẻ con hay người già...
Mục lục · 2 phần
Động tính của 12 cung
Lý thuyết Tử Vi được biểu hóa bằng một lá số tương đối giản dị. Lá số được phân chia thành hai khu vực.
Khu vực thứ nhất gọi là địa bàn, nằm ở giữa, dùng để ghi tên họ, ngày sinh, tuổi âm dương, Bản Mệnh và Cục.
Khu vực thứ hai gọi là thiên bàn, nằm theo chu vi lá số, được phân làm 12 ô, gọi là 12 cung, dùng để ghi các vì sao, các thời kỳ của cuộc đời và các lãnh vực sinh hoạt của con người. Mười hai cung đó mang tên của 12 địa chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Ngoài ra, mỗi cung đều được Âm Dương hóa và ngũ hành hóa, nghĩa là mỗi cung mang riêng đặc tính âm hoặc dương, kim, mộc, thủy, hỏa hay thổ. Chỉ trừ hành thổ chiếm đến 4 cung (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) còn 4 hành kia, mỗi hành chiếm hai cung ở liền nhau. Riêng 4 cung thổ thì ở vị trí rời rạc, nằm giữa 2 cung khác hành. Sở dĩ có sự sắp xếp như thế là người xưa giải thích rằng hành thổ chứa đựng cả 4 hành kia, kim, thủy, mộc hay hỏa đều thể hiện trên thổ, hiểu theo nghĩa đất chứa kim khí, đất chứa nước, đất là chỗ dựa của cây cối, đất chứa lửa bên trong và trên mặt. Sở dĩ người xưa đặt cung thổ ở giữa hai cung khác hành là họ quan niệm rằng thổ là trung ương, ngụ lòng đất gồm có thổ là yếu tố quan trọng nhất. Cái cách hình dung sự vật của người xưa giản dị như thế.
Đối với 4 hành kim, mộc, thủy và hỏa, vị thế bố trí của 8 cung có điểm đặc biệt là 2 hành đối chọi nhau nằm ở vị trí đối xứng với nhau (kim đối xứng với mộc, thủy đối xứng với hỏa), không bao giờ ở vị trí liền lạc. Quan niệm Trung Hoa cho rằng cái gì tương khắc thì tách rời nhau. Cho nên cung dương bao giờ cũng tiếp nối bởi cung âm, rồi cung âm được tiếp nối theo bởi cung dương.
Việc ấn định âm, dương tính cho mỗi cung không thấy được sách vở giải thích. Người ta không hiểu rõ tại sao cung Dần là dương, cung Mão là âm, tại sao khởi điểm là cung Tý lại là dương, và dứt điểm là cung Hợi là âm. Duy, trên trình tự Âm Dương nối liền nhau và trên khởi điểm dương, dứt điểm âm thì có nhiều người cắt nghĩa và xem đó là luật tuần hoàn bất tận trong vũ trụ. Vì là tuần hoàn cho nên khởi điểm và dứt điểm không có tầm quan trọng: có thể tính từ âm hoặc dương đều được cả. Điều quan trọng ở đây là sự tiếp nối liên tục và bất di bất dịch của âm và dương, cốt để nói lên cái sinh, cái diệt của sự vật, hoặc nói lên cái động của sự vật do nguyên lý âm dương thúc đẩy. Tinh thần dịch động này chính là nguyên tắc cơ bản của vũ trụ quan, của nhân sinh quan nói chung và của Tử Vi quan nói riêng.
Với bấy nhiêu ý niệm trên, ta thấy rằng lá số Tử Vi không phải là một biểu đồ biểu tĩnh. Trái lại, đó là một đồ biểu động vì các yếu tố Âm Dương Ngũ Hành của cung và sao trong đồ biểu. Có thể ý niệm động này được hình dung một cách giản lược, song vẫn nói lên được trạng thái căn bản của sự vật của đời người.
Như đã trình bày, mỗi cung diễn tả một lãnh vực sinh hoạt của con người. Sự phân chia như thế cốt để đào sâu sự hiểu biết trong mỗi lãnh vực, mỗi thời kỳ. Duy ta không thể nhìn riêng rẽ mỗi cung vì mỗi cung không bao giờ có ý nghĩa độc lập. Nếu cơ thể con người bao gồm cả đầu mình lẫn chân tay thì lá số Tử Vi cũng bao gồm cả 12 cung gộp lại. Nếu yếu tố điều hợp cơ thể con người là tâm hồn thì yếu tố phối trí 12 cung là sự tổng hợp nhất quán. Xem một lá số phải cứu xét hết 12 cung, chớ không thể đánh giá lá số qua một cung riêng rẽ. Đánh giá con người qua một cung chẳng khác nào như người mù sờ voi mà chỉ mó thấy có một bộ phận. Ta chỉ có thể hình dung được toàn thể con người khi duyệt qua hết 12 cung của lá số. Nói như thế có nghĩa là mỗi cung, ngoài ý nghĩa cơ hữu, còn có ý nghĩa liên đới rất mạnh mẽ. Có thể nói rằng ý nghĩa cơ hữu của mỗi cung tùy thuộc vào ý nghĩa liên đới của cung đó với cung còn lại. Phải nắm vững quy tắc này mới xem Tử Vi một cách đầy đủ, cụ thể và chính xác được.
Sự liên đới ấy thể hiện ra sao? Khoa Tử Vi diễn giải nó bằng hai cách: qua một hệ thống phối chiếu cố định giữa các cung, và qua sự nối tiếp của các cung theo dòng thời gian.
Ý nghĩa liên đới giữa các cung
Phương pháp tổng hợp của khoa Tử Vi diễn ra sự liên đới giữa các cung bằng hai cách: thiết lập một hệ thống phối chiếu giữa các cung, và xem các cung như liền lạc với nhau qua thời gian. Ta lần lượt xét hệ thống phối chiếu và tương quan giữa các cung qua thời gian.
Hệ thống phối chiếu giữa các cung
Giữa các cung có 3 loại phối chiếu: phối chiếu theo đúng nghĩa, bao gồm sự xung chiếu và sự tam chiếu, gọi chung là hội chiếu; phối chiếu qua tiếp giáp; phối chiếu qua sự nhị hợp.
Cả 3 loại được sử dụng đồng thời để xem bất cứ cung nào. Điều này có nghĩa là mỗi lần xem một cung phải đồng thời xem cả cung xung chiếu, 2 cung tam chiếu, 2 cung tiếp giáp và 1 cung nhị hợp, tức là tổng cộng 7 cung gộp lại. Tuy nhiên, mỗi thế phối chiếu có giá trị khác nhau. Thông thường, người ta xếp theo số thứ tự quan trọng sau đây: quan trọng nhất là cung chính phải xem; quan trọng nhì là cung chiếu; quan trọng thứ ba là 2 cung tam chiếu; quan trọng thứ tư là cung nhị hợp; quan trọng thứ năm là 2 cung tiếp giáp.
Thế xung chiếu và tam chiếu. Nói chung, trong thế hội chiếu (bao gồm cung chiếu và tam chiếu) có sự tương quan giữa 4 cung liên hệ về mặt cấu tạo. Ta thử nêu ra vài ví dụ.
Trong bất cứ lá số nào, cung Phúc cũng được 3 cung sau đây hội chiếu: cung Tài, cung Di, cung Phu Thê. Sự hội chiếu đó có nghĩa là hạnh phúc con người bao gồm 3 loại: hạnh phúc tiền bạc, hạnh phúc do hoàn cảnh mang lại và hạnh phúc gia đạo. Nói khác đi, một người tốt phúc phải có nhiều tiền, phải có hoàn cảnh thuận lợi và phải có vợ chồng để huề. Đây là 3 yếu tố căn bản của hạnh phúc con người trần tục. Ta chỉ có thể nói đó là 3 yếu tố căn bản mà thôi, vì ngoài tiền bạc, gia đạo và thời thế, còn có những yếu tố khác cũng góp phần cấu tạo hạnh phúc cá nhân, chẳng hạn như sức khỏe (cung Tật), con cái (cung Tử), nghề nghiệp (cung Quan). Hiểu theo nghĩa rộng, có thể nói cung nào cũng nói lên khía cạnh của phúc đức cả. Nhưng, người xưa chỉ chọn lấy yếu tố căn bản nhất và trực tiếp ảnh hưởng đến phúc đức nhiều nhất là tiền bạc, hoàn cảnh và gia đạo.
Trong bất cứ lá số nào, cung Mệnh cũng được hội chiếu bởi 3 cung: Di, Quan, Tài. Điều này có nghĩa là vận mệnh con người được quyết định bởi hoàn cảnh, nghề nghiệp và tiền bạc. Đây cũng là một lối quan niệm vận mệnh theo nghĩa thế tục. Cung Thân, dù đồng cung với Mệnh hoặc khác cung, cũng được cấu tạo bởi 3 yếu tố: Di, Quan, Tài. Cung Mệnh tượng trưng cho tiền vận, tức là thời gian mới sinh cho đến khoảng 30 tuổi. Cung Thân bao gồm hậu vận, tức là thời gian còn lại. Khi đặt hệ thống hội chiếu như thế, người xưa xem toàn thể cuộc đời con người như bị chi phối trực tiếp và mạnh mẽ bởi thời thế, quan trường, tiền bạc. Cái hay, cái dở của 3 lãnh vực này quyết định cái hay cái dở của cuộc đời.
Đến đây ta thấy rằng thế hội chiếu với Mệnh, Thân bổ túc cho thế hội chiếu của Phúc và được tính theo sự tương quan tốt xấu giữa hai thế hội chiếu lẫn nhau, ngõ hầu có thêm yếu tố cứu xét đầy đủ, cụ thể và chính xác hạnh phúc con người. Với hai ví dụ này, ta thấy thế hội chiếu của Phúc và thế hội chiếu của Mệnh, Thân hầu như phủ trùm hết lãnh vực quan trọng. Đó là 2 thế hội chiếu có ý nghĩa liên đới mạnh mẽ, trực tiếp và toàn diện nhất. Chính vì lý do đó mà khoa Tử Vi xem 3 cung Phúc, Mệnh và Thân là những cung cường, nghĩa là cung quan trọng bậc nhất, mô tả rất nhiều nét chính của con người và cuộc đời.
Tuy nhiên, có những thế hội chiếu không mấy gì liên đới nhau hoặc chỉ có ý nghĩa một chiều. Tật nằm trong hệ thống hội chiếu với 3 cung Phụ, Điền và Bào. Giữa Tật và Phụ, có một hướng liên hệ, đó là ảnh hưởng của huyết thống cha mẹ trên sức khỏe cá nhân. Nhưng, trường hợp này có ngoại lệ: có khi cha mẹ đau yếu mà sinh con bình thường, có khi ngược lại. Giữa Tật và Điền cũng vậy: có khi nhà cửa ảnh hưởng đến sức khỏe, bệnh tật, có khi không ảnh hưởng bao nhiêu. Sự liên đới giữa cung Bào và cung Tật lại càng mong manh hơn nữa: không lẽ anh em khỏe mạnh khiến cá nhân cũng khỏe mạnh theo?
Tử được 3 cung Điền, Nô và Phụ hội chiếu. Giữa 4 cung này, mối tương quan rất mơ hồ, khác không có ý nghĩa gì, nhất là giữa Điền (nhà cửa, ruộng nương) với Nô (bạn bè, tôi tớ, nhân tình, thuộc quyền) với cung Tử. Có thể chấp nhận phần nào sự di truyền giữa Phụ và Tử. Duy điểm này vẫn bao hàm nhiều biệt lệ và sai lầm dễ thấy. Điền do 3 cung Tử, Tật và Bào hội chiếu, sự liên quan hầu như không có gì đáng kể và vẫn có nhiều biệt lệ. Bào nằm trong hệ thống 3 cung Nô, Điền và Tật, hầu như không có liên lạc gì với cung Bào. Nô do 3 cung Bào, Tử và Phụ hội chiếu, cũng không nói lên mối tương quan nào giữa anh em, con cái và cha mẹ đối với bạn bè, tôi tớ, nhân tình và những người thuộc quyền là 4 hạng người của Nô.
Tóm lại, trong hệ thống, có vài thế hội chiếu có ý nghĩa toàn diện, trực tiếp, đầy đủ và mạnh mẽ. Trái lại, có vài thế hội chiếu phiến diện, gián tiếp. Có những thế hội chiếu không có ý nghĩa gì, mà còn bao hàm nhiều biệt lệ, nhiều sai lầm. Như vậy, giá trị liên đới giữa các cung hội chiếu không hoàn hảo hoặc không hợp lý. Mối liên lạc giữa các cung đôi khi bất ổn và mơ hồ. Chỉ có vài cung liên đới nhau một cách hữu lý mà thôi. Đối với những thế hội chiếu phiến diện, hoặc không hợp lý, có lẽ ta chỉ nên xét các sao trong 4 cung liên hệ chớ không nên quan tâm đến những cung liên hệ. Bao giờ thấy có nhiều sao tốt trong 4 cung đó thì nói tốt, gặp sao xấu thì nói là xấu.
Thế giáp. Trong lá số Tử Vi có vài thế giáp hữu lý, cũng có nhiều thế giáp không có nghĩa hoặc có nghĩa trên một hướng nào đó mà thôi.
Mệnh được Phụ và Bào tiếp giáp. Điều này nói lên mối tương quan giữa cá nhân (Mệnh) với cha mẹ (Phụ) và anh em (Bào). Con người được xem như chịu ảnh hưởng mạnh mẽ, trực tiếp của môi trường sinh hoạt gia đình, nhất là lúc cá nhân còn niên thiếu. Điểm này rất hữu lý và khả chấp.
Nô giáp Quan và Di. Điều này cũng hữu lý vì bạn bè, nhân tình, tôi tớ và người thuộc quyền của mình sống trong hai hoàn cảnh: xã hội (Di) và nghề nghiệp (Quan). Hai hoàn cảnh đó có ảnh hưởng đến sự kết bạn, kết bồ, số lượng thuộc quyền, số lượng tôi tớ phục vụ.
Bất động sản trong cung Điền một mặt có thể bắt nguồn từ quan trường sinh nhai mà có (cung Quan), mặt khác có thể do di sản mà có (cung Phúc). Như vậy, thế giáp này có ý nghĩa, chấp nhận được trên cả hai hướng tiếp cận.
Trái lại, có nhiều thế giáp ít nghĩa hoặc chỉ có nghĩa phiến diện, theo một hướng suy luận nào đó mà thôi. Bào giáp Mệnh và Phu Thê. Giữa Mệnh và Bào quả là có tương quan, nhưng giữa Bào và Phu Thê, sự liên hệ còn tùy trường hợp: nếu vợ chồng sống chung với anh chị em trong một mái nhà thì họa chăng sự tiếp giáp này mới nói lên được một hướng ảnh hưởng, nhưng nếu ở riêng thì quả thật ảnh hưởng này rất ít. Phu Thê giáp Bào và Tử: nếu thế giáp Tử phản ảnh được nhiều mối liên hệ giữa vợ chồng con cái thì trái lại, thế giáp Bào tỏ ra không có ý nghĩa liên đới gì. Giáp Tật là Di và Tài: nếu quan niệm rằng xã hội (cung Di) có ảnh hưởng đến sức khỏe, bệnh tật và tai họa của mình cũng khả chấp, nhưng ảnh hưởng này không phải lúc nào cũng có; còn giữa Tài và Tật, có thể cho rằng ai có nhiều tiền thì bệnh ít, họa nhẹ, vì có thể dùng tiền chữa bệnh, giải họa, điều này đúng nhưng không phải hoàn toàn chính xác trong mọi trường hợp.
Tóm lại, trong thế giáp, có vài thế nói lên rõ rệt một ảnh hưởng trực tiếp, hữu lý và mạnh mẽ của 2 cung giáp, nhưng cũng có vài thế chỉ ảnh hưởng đến 1 cung giáp, có vài thế chỉ ảnh hưởng theo một hướng suy luận nào đó mà thôi.
Thế nhị hợp. Hai cung mang chữ giống nhau (theo bảng đối xứng: Tý-Thân mang chữ A, Ngọ-Mùi mang chữ B, Thìn-Dậu mang chữ C, Mão-Tuất mang chữ D, Dần-Hợi mang chữ E, Sửu-Tý mang chữ F) thì nhị hợp nhau. Nếu Mệnh ở Tý thì nhị hợp với Điền ở Thân, nếu Mệnh ở Ngọ thì nhị hợp với Phụ ở Thìn thì nhị hợp với Nô ở Dậu, v.v... đối xứng theo trục đối xứng dọc. Đối với các cung khác, thế nhị hợp cũng bố trí như trên.
Thế nhị hợp thật sự không có nghĩa gì bao nhiêu. Nếu có, ý nghĩa đó cũng không có trong cách quyết định. Ta không thể nào nói rằng khi nhị hợp với cung Tật thì cung Mệnh bị chi phối mạnh mẽ bởi sức khỏe, bệnh, họa, cũng như khi nhị hợp với Tử, ta không thể khẳng định rằng con cái là mối quan tâm chính của đời người. Ý nghĩa của nhị hợp không mấy dựa vào tên của 2 cung nhị hợp. Đa số các trường hợp dựa vào các sao ở 2 cung đó. Sự giải đoán vì vậy chỉ nên căn cứ trên các sao mà thôi.
Tương quan giữa các cung qua thời gian
Để đào sâu việc tìm hiểu đời người, khoa Tử Vi phân tích đời người ra làm nhiều giai đoạn ngõ hầu tìm hiểu mỗi giai đoạn cho phong phú, cụ thể và chính xác. Những cung có liên lạc với nhau qua thời gian gồm có: Phúc, Mệnh, Thân và các cung hạn.
Liên lạc giữa Phúc, Mệnh và Thân. Xét về mặt thời gian, 3 cung này nối tiếp nhau: Phúc là tiền kiếp con người, quá khứ của con người qua cuộc đời tổ phụ, của dòng họ. Mệnh và Thân là hiện kiếp con người, hiện tại cuộc sống của mình, từ lúc sinh đến lúc chết. Nếu tiền kiếp chỉ được mỗi một cung Phúc mô tả thì ngược lại, hiện kiếp được 2 cung nói đến: đó là Mệnh và Thân. Mệnh là thời kỳ tiền vận từ nhỏ đến khoảng 30 tuổi. Thân là hậu vận, sau 30 tuổi trở đi. Qua sự bố trí đó ta thấy khoa Tử Vi chú trọng đến hiện kiếp nhiều hơn, dù không gạt bỏ ảnh hưởng của tiền kiếp. Đây là một đặc điểm khác nữa của đối tượng của Tử Vi học, chú trọng nghiên cứu sinh thời hơn là quá thời của con người.
Tuy nhiên, giữa tiền kiếp và hiện kiếp phải hiểu rằng, không có sự gián đoạn nào. Đời người là một chuỗi thời gian liên tục kéo dài từ kiếp trước đến kiếp này. Nói như thế có nghĩa là cung Phúc có ảnh hưởng mật thiết đến hai cung Mệnh và Thân, cũng như cung Mệnh cũng ảnh hưởng đến cung Thân. Đến giai đoạn Thân, phải chịu sự tích lũy của hai cấp ảnh hưởng từ Phúc và từ Mệnh. Thành thử xem Thân phải xem cả Phúc lẫn Mệnh.
Đối với hiện kiếp, khoa Tử Vi xem cung Thân quan trọng hơn. Vốn thiên về hạnh phúc thế tục, khoa Tử Vi xem thời gian thụ hưởng chung cuộc rất nặng hột: thời gian đó là hậu vận, con người chín muồi về trí tuệ, tình cảm, tích lũy nhiều kinh nghiệm sống, đủ sức tự lập, tự túc, tự cường, không những nuôi sống được mình mà còn cưu mang được cho vợ, con và xã hội. Tác dụng của Thân do đó rộng rãi và tích cực hơn tác dụng của Mệnh. Bởi lẽ đó nên người ta nói rằng Mệnh tốt không bằng Thân tốt, cốt để nhấn mạnh rằng chính giai đoạn thụ hưởng công lao của mình mới đáng kể. Nếu Thân xấu, sự thụ hưởng đó hoặc không có, hoặc là ngắn ngủi. Hạnh phúc đầy đủ đòi hỏi phải có thụ hưởng công nghiệp do mình tạo cho lâu dài, cho thịnh vượng, cho vuông tròn, cho tàn cuộc. Có như vậy, con người mới thỏa mãn trọn vẹn.
Mối liên lạc giữa Mệnh, Thân và cung hạn. Lá số Tử Vi có chia Mệnh và Thân làm từng đoạn ngắn 10 năm một và từng năm một, gọi là đại hạn và tiểu hạn, cốt để xem vào chi tiết sâu xa hơn nữa.
Đối với Mệnh có 3 đại hạn tổng quát phủ trùm trên dưới 30 năm. Đối với Thân có nhiều đại hạn còn lại, từ khoảng chấm dứt đại hạn chót của Mệnh cho đến lúc chết. Thông thường, khi đại hạn đến cung Tật là con người đã già, theo nghĩ của Á Đông, trên 52 tuổi. Nếu tính theo số của Cục thì cung Tật trong Thủy nhị cục bao gồm thời gian từ 52 đến 63 tuổi, Thổ ngũ cục từ 55 đến 64 tuổi và Hỏa lục cục từ 56 đến 65 tuổi. Cung Tật góp phần quyết định bệnh, tật và họa nhất là lúc về già. Thông thường, đến khoảng 60 tuổi, con người dễ chết, trừ phi đối với một số ít người đặc biệt thọ.
Giữa Mệnh, Thân với các hạn cũng có sự liên hệ với nhau. Có quan điểm cho rằng đại hạn tốt thì hay hơn là Mệnh, Thân tốt. Nhưng, thật sự chính Mệnh, Thân đóng khung cái tốt xấu của đại hạn. Cái tốt xấu của đại hạn biến thiên trong khuôn khổ cái tốt xấu của Mệnh, Thân là gốc, đại hạn chỉ là ngọn.
Giữa đại hạn và tiểu hạn cũng vậy. Đại hạn là gốc của 10 tiểu hạn, quyết định sự hay dở tổng quát của mỗi năm. Tiểu hạn mà tốt thì chỉ tốt bổ túc chớ không tốt đến nỗi lấn át cái xấu của đại hạn. Hiệu lực của đại hạn (hay của tiểu hạn) chỉ gia giảm chớ không đơn độc quyết định. Suôn sẻ nhất là cả Mệnh, Thân và các hạn tốt liên tục và đồng đều.
Ý nghĩa toàn diện của một số cung. Như đã trình bày, mỗi cung lá số diễn tả một phương diện của con người, một giai đoạn của đời người. Người xem số phải tổng hợp hết 12 cung mới có một nhãn quan toàn cục. Đó là nói chung. Đi vào chi tiết, ta thấy có những cung có ý nghĩa toàn diện, có những cung có ý nghĩa cục bộ, tùy theo nam số hay nữ số, tùy theo đặc tính riêng của từng người.
Đối với trẻ con dưới 13 tuổi. Khoa Tử Vi kén chọn đối tượng đến nỗi chỉ quan tâm đến số mạng của những người tương đối trưởng thành. Những đứa trẻ dưới 13 tuổi, còn được cha mẹ chăm sóc, bị xem là vị thành niên về mặt Tử Vi, là vì nó chưa đủ năng khiếu, chưa đủ sức khỏe chống lại bệnh, tật, họa, chưa đủ nghị lực để tự định đoạt đường lối nào cho cuộc đời, chưa biết có thọ hay không, và lệ thuộc sự chăm nom của cha mẹ. Nếu sự chăm nom này thiếu sót, trẻ vẫn có thể chết dù lá số đó thọ. Hiệu lực của sự phù dưỡng lấn át hiệu lực của định mệnh. Và chăng, ngày xưa, y học ít tiến bộ, con người, nhất là trẻ con, thường hữu sinh vô dưỡng. Phải đến một tuổi nào đó mới có thể xem là tồn tại. Dưới tuổi đó, trẻ con lệ thuộc mạnh mẽ vào sự chăm sóc, vào sự rủi may, và bệnh tật truyền nhiễm, vào thời tiết... Tử Vi ấn định một cách tổng quát đó là 13 xem như tuổi thành niên về mặt Tử Vi.
Dưới tuổi này, đối với trẻ, chỉ có vấn đề sức khỏe, vấn đề thọ yểu là quan trọng. Thành thử, nếu xem số trẻ dưới 13 thì chỉ phải xem sức khỏe và triển vọng tồn tại. Vì vậy, các cung hạn của trẻ dưới 13 chỉ có ý nghĩa sức khỏe, thọ yểu mà thôi. Khoa Tử Vi có quy định rằng: 1 tuổi xem Thân, 2 tuổi xem Tài, 3 tuổi xem Tật, 4 tuổi xem Phu Thê, 5 tuổi xem Phúc, 6 tuổi xem Quan, 7 tuổi xem Nô, 8 tuổi xem Di, 9 tuổi xem Tử, 10 tuổi xem Bào, 11 tuổi xem Phụ, 12 tuổi xem Điền.
Như vậy, mỗi năm xem 1 cung, cho đến giáp vòng 12 cung theo thứ tự kể trên. Tuy nhiên, điểm cần lưu ý là vì chỉ xem sức khỏe và thọ yểu, cho nên 12 cung nói trên phải coi như 12 cung Tật hết, không phân biệt ý nghĩa riêng của mỗi cung. Bất luận cung nào cũng là cung Tật và chỉ có ý nghĩa sức khỏe, thọ yểu mà thôi. Chính vì vậy, cung Tật và 11 cung còn lại có ý nghĩa toàn diện và quyết định cho trẻ dưới 13 tuổi.
Đối với người lớn. Đối với người lớn có sức khỏe bình thường, có một vài cung quan trọng có ý nghĩa toàn diện và quyết định cuộc đời. Đó là 3 cung Phúc, Mệnh và Thân. Nhờ thế phối chiếu với những cung Tài, Di, Phu Thê, Quan, 3 cung này gói ghém hết các nét chính của những lãnh vực sinh hoạt căn bản của con người, có ảnh hưởng mạnh mẽ trên toàn cục lá số. Cho nên, người ta gọi 7 cung Phúc, Mệnh, Thân, Tài, Quan, Di, Phu Thê là 7 cung cường.
Riêng đối với nữ mệnh, cung Phu đóng một vai trò then chốt trong cuộc đời người đàn bà. Cung này có ý nghĩa của một cung cường tích cực hơn những cung cường còn lại. Sở dĩ như vậy vì người Trung Hoa xem phái xuất giá như hoàn toàn lệ thuộc vào người chồng, từ sự nghiệp, tiền bạc cho đến tính tình, con cái, nói chung hạnh phúc gia đạo rất nặng nghĩa cho đàn bà. Thành thử cung Phu phải đặc biệt tốt mới bảo đảm được hạnh phúc căn bản của phụ nữ. Nếu cung Phu xấu, cho dù được Mệnh, Thân, Phúc tốt, đàn bà vẫn gặp bất hạnh của cảnh gián đoạn phu thê (hoặc bất hòa, ly tán, tái giá, lẽ mọn), không những ảnh hưởng trực tiếp đến hạnh phúc gia đạo mà còn di lụy đến hạnh phúc con cái. Sự chi phối của cung Phu như vậy rất quyết định, ý nghĩa của nó nếu không phải là toàn diện thì ít ra cũng đa diện và mạnh mẽ.
Đối với người già, sự phân biệt các cung cường và nhược không giống như đối với tráng niên. Những lãnh vực hoạt động của tráng niên như nghề nghiệp, tiền bạc, gia đạo không phải là những lãnh vực hoạt động của bô lão. Đối với các cụ, nhu cầu tối trọng là sức khỏe còn lại chớ không sống bằng quan trường thời cuộc. Cung cường của tuổi già có thể chỉ là Phúc, Mệnh, Thân, cũng chỉ có ý nghĩa sức khỏe, thọ yểu cho các cụ mà thôi. Còn cung Tật vì chỉ sức khỏe, bệnh hoạn một cách trực tiếp cho nên trở thành hết sức quan trọng, không kém gì cung Phúc. Còn đối với cung Tử, sở dĩ quan trọng vì con người già trông mong vào sự giúp đỡ của con cái để kéo dài kiếp sống. Vì vậy, xem số bô lão, cần lưu ý đánh giá lại ý nghĩa và tầm quan trọng của cung cường nói riêng và 12 cung số nói chung theo một hướng luận mới.
Đối với người bệnh nặng, có tính cách nan y, cung Tật nhất định trở thành cung cường có giá trị không kém gì cung Phúc. Sức khỏe của họ sẽ chi phối hết các lãnh vực Quan, Tài, Phu Thê, Tử và toàn thể cuộc đời. Đối với người trọng bệnh, cho dù những cung Phúc, Mệnh, Thân, Quan, Tài có khá mà cung Tật xấu thì thọ mệnh không lâu, mức hưởng thụ không bền, có thể nói là không có.
Ngoài ra, đời người qua thời gian còn được mô tả trong các cung hạn, đại hạn, tiểu hạn. Mỗi cung hạn này đều có đủ ý nghĩa về tiền bạc, công danh, bệnh họa, rủi may... chớ không bị đóng khung trong ý nghĩa của tên cung hạn. Cung hạn, dù chỉ chi phối một đoạn đời, nhưng sự chi phối đó rất rộng rãi.
Sự phân biệt các trường hợp trên cho thấy khoa Tử Vi rất tương đối trong việc nhận định về các cung. Các cung thay đổi tầm quan trọng tùy theo nam nữ, tùy theo trẻ con hay người lớn, tùy theo tráng niên hay bô lão, tùy theo đặc tính cơ thể hay đặc trưng quan yếu của người đời. Các cung phải được quan niệm một cách linh động theo từng người và từng thời gian. Nó không bao giờ có nghĩa nguyên thủy một khi có sự phối trí mới trong một thời hạn mới.
Tinh thần dịch lý và ý niệm động trong khoa Tử Vi tuy tiềm ẩn, lại vô cùng quan trọng.
Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp – Nguyễn Phát Lộc
