Bài tổng quan
Phân hạng Chính Tinh và bốn bậc xấu của phụ tinh theo Lý số học
Cùng là Sát Tinh, nhưng có sao đủ sức gây đại họa, có sao chỉ đủ sức gây tiểu họa. Cùng là Chính Tinh, nhưng khi hãm địa lại có thể biến thành hung tinh chẳng khác gì sao xấu. Ranh giới giữa tốt và xấu trong khoa Lý số học, hóa ra chưa bao giờ cố định như người ta tưởng...
Đã gọi là Sát Tinh thì có sao gieo đại họa, có sao chỉ gieo tiểu họa. Đã gọi là Chính Tinh thì khi rơi vào thế hãm địa, có sao trở nên hung dữ chẳng khác gì sao xấu. Hóa ra đường ranh giữa tốt và xấu trong khoa Lý số học chưa từng đứng yên như người ta vẫn tưởng...
Tới đây ta đã hiểu Chính Tinh mạnh hơn phụ tinh, đã biết Nam Đẩu và Bắc Đẩu sao nào đi trước sao nào theo sau, đã thấy năm hạng Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu phân đẳng cấp cho các sao. Nhưng còn hai câu hỏi chưa được đáp. Thứ nhất, ngay trong ý nghĩa của một sao, phần nào là gốc và phần nào là ngọn? Thứ hai, khi nhiều sao xấu cùng tụ một cung, sao nào đáng ngại hơn sao nào? Ở chỗ này Lý số dùng một lối phân loại khác hẳn, không lấy Chính Tinh hay phụ tinh làm thước, không lấy Nam Bắc Đẩu làm thước, mà bám thẳng vào bản chất ý nghĩa của từng sao.
Mười loại Chính Tinh, và chuyện một sao đảm nhiều vai
Có thể gom các Chính Tinh thành mười loại lớn: đế tinh (Chủ Tinh), phúc tinh (Thiên Đồng, Thiên Lương), thiện tinh (Thiên Cơ), quý tinh (Thái Dương), phú tinh (Thái Âm), quyền tinh (Thiên Phủ, Thiên Tướng, Thất Sát), tài tinh (Vũ Khúc, Thiên Phủ), đào hoa tinh (Liêm Trinh), ám tinh (Cự Môn) và hung tinh (Tham Lang, Phá Quân, Liêm Trinh). Cách chia này chỉ đại lược, thỉnh thoảng còn chồng lên nhau: phú tinh với tài tinh có thể nhập làm một, quý tinh với quyền tinh cũng thế.
Nền tảng của lối chia này là giả thuyết rằng một sao phải ở thế miếu, vượng hoặc đắc địa và thuận vị thì mới thể hiện được phương diện ý nghĩa mà nó được xếp vào. Thực tế cho thấy mỗi sao nhiều mặt: Thái Dương có thể là quý tinh và cũng là phú tinh; Chủ Tinh, vốn là đế tinh, gồm đủ các nghĩa phú, quý, thọ, phúc, thiện cùng lúc. Nhưng nếu các Chính Tinh ấy hãm địa, chúng vẫn có thể hóa thành sát tinh, hung tinh, hao bại tinh như thường. Vậy nên có thể nói rằng ý nghĩa và chỗ đóng của các sao đều rất linh hoạt; không sao nào bị nhốt mãi trong một vai duy nhất. Một Chính Tinh hôm nay đắc địa, ngày mai vận hạn đẩy vào thế hãm, hoàn toàn có thể thành gánh nặng cho chính lá số của mình, cũng như một vị quan thanh liêm gặp buổi loạn ly vẫn có thể đổi tính mà chẳng ai đoán trước được.
Bốn tầng xấu của phụ tinh, từ đại họa đến bế tắc nhất thời
Nhóm phụ tinh cũng được Lý số phân theo tinh thần ấy. Riêng với các sao xấu, người ta thường đặt thành một thang bậc, đi từ hạng dữ dội nhất xuống hạng nhẹ nhất.
Đứng đầu thang là Sát Tinh: những sao mang họa lớn, dám đe dọa đến sinh mạng, rồi dội ngược lên công danh, tài lộc, phu thê, tử tức, điền trạch, phụ mẫu, huynh đệ. Người ta xếp vào Sát Tinh các sao Địa Kiếp, Địa Không, Thiên Không, Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kiếp Sát. Nặng hay nhẹ còn tùy số sao quy tụ nhiều hay ít. Đặt lên bàn cân, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Không có lẽ là ba sao dữ nhất; những sao khác chỉ thật sự đáng sợ khi kéo nhau đến đông, nằm chung một cung, lại ở thế hãm địa. Tầng này là tầng nặng nhất của phụ tinh xấu, bởi nó động đến mạng sống, thứ mà ba tầng dưới, khó chịu đến đâu đi nữa, cũng không hề đụng tới.
Bậc kế tiếp là Hình tinh, nắm chuyện lao lý và kiện cáo. Sức lan tỏa của chúng cũng sâu rộng, chỉ khác là không đến mức cướp mạng người. Các sao được nêu tên là Thiên Hình, Quan Phù, Quan Phủ, Thái Tuế, Thiên La, Địa Võng. Nếu Hình tinh đi cùng Sát Tinh thì sự bất lợi dồn lại nặng thêm: một cung vừa có Sát Tinh vừa có Hình Tinh hiếm khi chỉ dừng ở hao tiền, tốn sức, mà còn dễ kéo theo những vụ kiện tụng, tranh chấp pháp lý dai dẳng.
Đến hao, bại tinh: loại này làm tiêu tán, gây u sầu, làm suy kiệt, gây mất mát và bệnh tật. Chúng chẳng lấy mạng ai, chẳng giam ai vào tù, chỉ khiến người ta hao, khổ, mất, lo. Danh sách gồm Tang Môn, Bạch Hổ, Đại Hao, Tiểu Hao, Thiên Khốc, Thiên Hư, Thiên Thương, Thiên Sứ, Phá Toái, Lưu Hà, Bệnh Phù, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Thiên Riêu, Cô Thần, Quả Tú. Tầng này đông đảo nhất, và phần lớn các sao trong đó nằm trùng vòng Tràng Sinh cùng vòng Thái Tuế; nhờ sự chồng lấn ấy, một cung có lắm sao loại này chưa hẳn đáng ngại hơn một cung chỉ có mỗi một Sát Tinh nhưng lực hội tụ mạnh.
Ở bậc thấp nhất là ám tinh, hay ky tinh, chủ những trắc trở, bế tắc, điều xui xẻo chốc lát và hạn xấu. Có thể ví nó như một đám mây con che khuất vầng dương, che khuất ánh trăng, làm phần tốt bị bớt đi hoặc mất đi trong một thời gian nhất định. Nhóm này gồm Hóa Kỵ, Thiên Riêu, Phục Binh, Đà La, Kình Dương, Quan Phù, Quan Phủ, Tuần, Triệt. Chính vì thế cái xấu của ám tinh mang dấu ấn thời hạn rõ hơn các tầng khác: mây sẽ tản, nắng sẽ quay lại, miễn là ta đi hết đoạn vận hạn đang bị che phủ.
Người đọc hẳn thấy có nhiều sao mặt trong nhiều nhóm, vì đơn giản là chúng đa nghĩa. Ngay Sát Tinh cũng không chỉ mang nghĩa Sát Tinh mà đồng thời có thể là hình tinh, hao bại tinh và ám ky tinh. Sát Tinh vừa có thể gieo họa lớn, vừa có thể chỉ gieo họa nhỏ; cái được bàn ở đây là mức mạnh yếu của các sao xấu. Vì vậy, thay vì hình dung bốn ngăn kéo riêng rẽ, nên nhìn bốn tầng này như bốn bậc thang của cường độ: một sao có thể cùng lúc đặt chân lên nhiều bậc, và đó là lời giải cho chuyện có cung chỉ hội một hai sao xấu mà hậu quả lại nặng hơn hẳn điều người mới học hình dung.
Giữa quý, phú, phúc, khoa: cái nào nặng ký hơn
Với các sao tốt, khó mà quả quyết sao nào tốt toàn diện và mạnh mẽ. Khi sao ở thế miếu, vượng, đắc địa thì sự tốt đẹp trải rộng và mạnh hơn. Dẫu thế, mỗi sao vẫn có một mặt nổi trội nhất, xuất phát từ ý nghĩa trọng yếu nhất của nó: sao tốt cho quan lộc, sao tốt cho tài lộc, sao tốt cho phúc đức, sao tốt cho khoa bảng. Còn giữa bốn lĩnh vực quý, phú, phúc, khoa thì khó khẳng định cái nào hơn cái nào, vì sự đánh giá tùy quan niệm và hoàn cảnh từng người. Kẻ cho phú đứng trên quý và thọ, người lại nghĩ ngược lại. Riêng theo quan niệm cổ điển của Trung Hoa xưa thì quý được đặt trước, rồi mới đến phú và thọ. Khoa thì thường được hiểu ngầm nằm trong quý, vì thuở trước quý cách chỉ có thể đạt được qua khoa bảng: không có khoa khó có quý, mà đã có quý thì coi như khoa đã nằm sẵn trong đó. Thứ tự quý trước, phú và thọ sau phản chiếu khá rõ bậc thang giá trị của một xã hội khoa bảng, nơi công danh, chức tước được trọng hơn của cải; đặt vào một xã hội khác, thứ tự ưu tiên ấy hoàn toàn có thể đảo ngược, và cũng vì thế không nên coi bậc thang quý, phú, phúc, khoa là chân lý bất biến cho mọi thời, mọi nơi.
Hội tụ theo hệ Nam Đẩu, Bắc Đẩu cũng nâng thêm độ số
Khi các sao đồng nghĩa nằm chung một cung, uy lực của chúng đạt đến đỉnh. Những đôi như Tả Hữu, Xương Khúc, Long Phượng, Thai Tọa, Quang Quý, Tử Phủ, Không Kiếp, Đào Hồng đều thuộc loại này. Nếu bị chia lìa, sức mạnh sụt đi đáng kể: hai sao sinh ra để sánh vai, khi thất lạc nhau trên lá số thì phần lực còn lại chỉ chừng một nửa lúc đầu, chứ chẳng phải hao hụt nhẹ nhàng.
Còn về sự phân thuộc, người Trung Hoa xác định khá rõ ràng. Họ tách các sao thành hai hệ, Nam Đẩu và Bắc Đẩu, và cũng phân một số trợ tinh về từng hệ: Khôi, Việt, Hỏa, Linh, Tả, Hữu giúp cho Nam Đẩu; Kình, Đà, Thai, Tọa, Tả, Hữu giúp cho Bắc Đẩu, trong đó Tả Hữu xuất hiện ở cả hai phía. Hễ nhiều sao cùng một hệ quy tụ, độ số của những sao chính thuộc hệ đó sẽ tăng lên. Thêm vào, có vài sao mà Trung Hoa xếp vào hạng Nam và Bắc Đẩu, chẳng hạn Chủ Tinh, Thái Dương, Thái Âm, Văn Xương; các sao này dường như tương hợp với trợ tinh của cả hai hệ.
Trong bảng liệt kê có vài điều nên lưu ý. Người Trung Hoa vốn coi Tả Hữu là Chính Tinh, vậy mà đến lúc phân trợ tinh cho hai hệ Nam, Bắc Đẩu, Tả Hữu lại được dùng như trợ tinh của cả hai. Ở phần Chính Tinh, họ cũng xếp Lộc Tồn, Văn Khúc, Văn Xương vào hàng Chính Tinh. Trong hai cột Nam Đẩu và Bắc Đẩu có ghi số, chính là độ số mà Trung Hoa gán cho các Chính Tinh. Còn cột Nam Bắc Đẩu tinh thì bốn sao Tử, Nhật, Nguyệt, Xương không mang độ số. Đặc biệt, Trung Hoa xếp riêng Nhật và Nguyệt vào loại Nam Bắc Đẩu, trong khi Việt Nam quen coi Nhật là Nam Đẩu và Nguyệt là Bắc Đẩu.
Kết lại, người mới nhập môn Tử Vi hay dừng ở mặt chữ "Sát Tinh" mà không thấy rằng trong chính bốn chữ ấy đã có nhiều cấp bậc, mỗi cấp một trọng lượng. Xét toàn cục, bốn cách phân định của chương này, gồm mười loại ý nghĩa, bốn tầng xấu của phụ tinh, bốn lĩnh vực quý phú phúc khoa và hai hệ Nam Bắc Đẩu, đều hội về cùng một nguyên lý: chẳng có sao nào tốt xấu tuyệt đối và bất di bất dịch, mọi thứ tùy thuộc vào vị trí, vào cách hội tụ, và vào mạng lưới những sao khác vây quanh nó trên chính lá số ấy.
Nguồn: Dương Thành biên soạn, "Hi Di Trần Đoàn với nền văn hóa Trung Hoa đời Tống".
