Bài tổng quan
Liên minh để chống nhau, dụ đối thủ tự chui vào bẫy
Họ ngồi chung một bàn, nâng chén mời nhau, mà dao đã giấu sẵn dưới tay áo. Có những liên minh sinh ra không phải để cùng đi, mà để gạt dần từng đối thủ ra khỏi con đường. Và có những bữa tiệc chẳng ai dám ăn đến miếng cuối…
Người Trung Hoa xưa nay chuộng chuyện đạo đức, nhân nghĩa. Người làm ăn ở xứ khác thì giữ một tín điều nghe lạnh hơn nhiều: khi mình chưa bằng người ta, cách khôn ngoan nhất là bước vào cửa nhà họ mà làm bạn; đến khi thấy mình đủ sức thắng, nhất định phải thừa lúc thích hợp mà quay lại chống chọi. Nghe phũ phàng, nhưng trên đường tranh giành, kẻ nào không hiểu điều này thường là kẻ bị gạt ra trước.
Bạn bè tạm thời cũng là bạn, vì lợi ích mới là thứ ở lại
Ngàn dặm dựng lều dài, thiên hạ không có bữa tiệc nào không tan.
Câu nói ấy được đặt vào miệng một nhân vật trong tiểu thuyết lớn của Trung Hoa, và nó đúng một cách đáng sợ. Trên đời này không có người bạn vĩnh viễn, chỉ có lợi ích vĩnh viễn. Mọi thứ người ta giành giật nhau, xét đến tận cùng đều quy về lợi ích của chính họ. Đừng mơ tưởng chỉ vất vả một lần mà nhàn hạ suốt đời; kẻ địch và bạn bè luôn trôi đổi vị trí, hôm nay là đồng minh, mai kia có thể là đối thủ.
Vì vậy, chỉ cần trước mắt có lợi cho mình thì vẫn phải tranh, vẫn phải tính, và bạn tạm thời vẫn cần được dùng đến. Có những lúc biết rõ mai sau sẽ mỗi người một ngả, thậm chí thành kẻ thù của nhau, vẫn phải bắt tay. Đối thủ càng lớn thì nhiệm vụ trước mắt càng quan trọng, và việc liên hợp càng cần thiết.
Họ Lý dựng nên nhà Đường bằng cách liên hợp rồi chống chọi
Hơn một trăm cánh quân nổi dậy cùng lúc, ai cũng muốn nuốt người bên cạnh. Kẻ thắng là kẻ biết lúc nào nên cúi đầu, lúc nào nên rút dao.
Cuối đời Tùy, nông dân nổi dậy khắp nơi, có tới vài trăm cánh quân. Vùng biên giới phía Bắc có Lý Quỹ, Tiết Cử, Lương Sư Đô, Lưu Vũ Chu; vùng sông Hoàng Hà có Lý Uyên, Vương Thế Xung, Lý Mật, Đậu Kiến Đức; vùng Giang Tây, Giang Hoài cũng có những thủ lĩnh riêng. Giữa họ với nhau, ai cũng toan tính tiêu diệt người láng giềng để mình lớn lên. Trong cuộc chen lấn ấy, người nào đánh trận đúng chỗ, lại khéo chia rẽ đối phương về chính trị, người đó sẽ chiếm thế thượng phong.
Cha con Lý Uyên chính là những người làm tốt điều này. Lý Uyên vốn là Thái thú Thái Nguyên của nhà Tùy, xuất thân quý tộc địa chủ. Nhân lúc thiên hạ rối loạn, ông khởi binh ở Thái Nguyên, được hào kiệt Sơn Tây hưởng ứng, chỉ trong vài tuần đã quy tụ hàng vạn quân và quyết ý tiến về phía Tây, vào Quan Trung.
Nhưng hai chuyện khó khăn đặt ngay trước mặt. Một là tộc Đột Quyết hùng mạnh nhiều lần xâm phạm Thái Nguyên, là chướng ngại lớn cho việc đi về phía Tây. Hai là chính Lý Uyên từng đem quân đàn áp nghĩa quân nông dân, nay làm sao đối xử với họ?
Cúi đầu trước kẻ mạnh, suy tôn kẻ yếu hơn để giữ chỗ đứng
Lý Uyên cho người sang Đột Quyết xưng thần, chịu thỏa hiệp ở mức tối đa để tránh đối đầu trực tiếp. Với nghĩa quân nông dân, ông dùng cách lôi kéo mềm mỏng: kết thân với Lý Mật và còn suy tôn Lý Mật làm minh chủ. Mục đích của ông rất rõ: giữ mình an toàn trong những kẽ hở của các cánh quân kia để có chỗ phát triển.
Mưu ấy sinh hiệu quả đúng như mong muốn. Quân Lý Mật chặn quân Tùy ở phía Đông, mở đường cho ông tiến sang Tây. Đột Quyết thấy ông xưng thần nên bớt đề phòng, thôi quấy phá Thái Nguyên, để Lý Uyên dồn sức đi một hướng. Vào đến Quan Trung, ông thu nạp thêm nhiều toán nghĩa quân, chẳng bao lâu có hơn chín vạn binh và chiếm được Trường An.
Đánh từng đối thủ một, bằng vàng lụa và bằng ly gián
Khi các quần hùng ở Sơn Đông còn mải giết nhau, Lý Uyên bắt tay dọn dẹp những thế lực cát cứ ở Tây Bắc. Tiết Cử định liên hợp với Lương Sư Đô và câu kết với Đột Quyết để chống lại ông, nhưng mưu ấy chưa thành. Lý Uyên sai người mang vàng lụa hậu hĩnh mua chuộc Đột Quyết, cắt đứt liên minh của họ; lại biết Tiết Cử và Lý Quỹ có hiềm khích nên gửi thư kết thân với Lý Quỹ, khiến Tiết Cử cô lập. Cuối cùng chỉ một trận là diệt xong Tiết Cử.
Tiếp đó mũi nhọn quay sang Lý Quỹ ở Hà Tây. Ông kết thân với Thổ Cốc Hồn để cô lập Lý Quỹ, rồi lợi dụng mâu thuẫn bên trong, lôi kéo hai tướng của Lý Quỹ là An Tu Nhân và An Hưng Quý, đến tháng năm năm 619 thì phát động biến, diệt được thế lực này và chiếm Hà Tây. Đúng lúc đó Lưu Vũ Chu cấu kết Đột Quyết đánh Thái Nguyên nhưng bị đánh bại. Phần lớn công thuộc về Lý Thế Dân giỏi dùng binh, song cái kế tách rời liên minh của họ cũng là yếu tố không nhỏ. Sau khi Đột Quyết thua trận, họ quay sang cùng quân Đường đánh Lưu Vũ Chu; Lưu Vũ Chu và Tống Kim Cương chạy trốn lại bị chính Đột Quyết bắt, kẻ bị chém ngang lưng, kẻ bị chém đầu. Sau lưng và bên sườn của nhà Đường nhờ vậy được yên.
Ba thế lực mạnh hơn nhưng không chịu nhìn về cùng một phía
Còn lại ba thế lực lớn nhất là Vương Thế Xung ở Sơn Đông, Đậu Kiến Đức ở Hà Nam, Đỗ Phục Uy ở phương Nam. Cộng lại, sức của ba người ấy mạnh hơn nhà Đường; nhưng từng người một đều chưa theo kịp Lý Uyên. Nếu họ thống nhất hành động thì ai thắng ai bại thật khó đoán. Thực tế họ không những rời rạc mà còn đánh nhau: Vương Thế Xung đánh Lê Dương của Đậu Kiến Đức, Đậu Kiến Đức đánh lại Ân Châu của Vương Thế Xung.
Lý Uyên cho người đi du thuyết khắp phương Đông, kéo về những bộ hạ cũ của Lý Mật và các nghĩa quân chống Tùy trước kia. Quan trọng nhất là Đỗ Phục Uy ở Giang Nam đã nhận phong hiệu nhà Đường và hợp tác, năm 621 còn đem quân hỗ trợ. Đó là thắng lợi chính trị rất lớn. Thêm La Nghệ ở U Châu đã hàng Đường từ trước, hai thế lực còn lại bị bao vây từ hai phía.
Tháng bảy năm 620, Lý Thế Dân cầm đại quân đánh Vương Thế Xung. Vương Thế Xung biết không địch nổi, cầu cứu Đậu Kiến Đức, và Đậu Kiến Đức dẫn mười vạn quân tới cứu. Quân Đường đóng ở chỗ hiểm Hổ Lao, chặn đường tiến, khiến quân Đậu rơi vào thế tiến lùi đều khó. Sang tháng năm, họ nhử Đậu Kiến Đức ra quyết chiến; ông trúng kế, dốc toàn quân dàn trận dài tới hai mươi dặm.
Lý Thế Dân đứng trên cao quan sát rồi cứ án binh bất động, dưỡng sức chờ địch mỏi mệt. Đến giữa trưa, quân Đậu đói khát, ngồi bệt thành hàng, tranh nhau nước uống, hàng ngũ rối loạn. Đó là lúc ông cho kỵ binh nhẹ vượt sông, đánh thẳng vào. Quân Đậu rút chạy tán loạn, hơn năm vạn người bị bắt, Đậu Kiến Đức bị thương, bị bắt và bị giết ở Trường An. Vương Thế Xung chẳng bao lâu cũng đầu hàng. Chiến tranh thống nhất cơ bản chấm dứt. Thắng lợi ấy không phải ngẫu nhiên.
Đặt bẫy cho đối thủ: không giao phong, chỉ nhử cho họ tự chui vào lưới
Đánh thẳng thì tốn máu, mà đối thủ lại thường mạnh hơn mình. Cho nên người xưa bày một món quà, một lời mời, một lá chiếu, rồi chờ họ tự bước tới.
Đặt bẫy nghĩa là dùng đủ mọi cách khiến đối thủ tự đến và rơi vào chỗ đã bày sẵn, rồi bắt hoặc giết. Đặc điểm của nó là không giao phong chính diện, chỉ nhử đối phương mắc mưu, ít tốn sức mà thành công lớn. Trong chiến tranh và đấu tranh chính trị thời xưa, người ta dùng thủ đoạn này rất nhiều, với nhiều dạng khác nhau.
Dụ sát: mượn một cái cớ
Năm 207 trước Công nguyên, Triệu Cao, Thừa tướng nhà Tần, muốn cướp ngôi nhưng không dám đảo chính thẳng. Ông ta giết Tần Nhị Thế, lập Tử Anh làm vương rồi tính giết nốt Tử Anh. Tử Anh đoán ra, bèn bàn với người thân tín: Triệu Cao sai người mời ta ra miếu là muốn giết ta ngay trong miếu; ta cứ giả ốm không đi, ông ta ắt đích thân tới, khi ấy ta bắt giết ngay tại chỗ. Triệu Cao thấy mời mãi không được, nóng ruột quả nhiên tự đến, hỏi sao việc tông miếu quan trọng mà vua không đi. Tử Anh chẳng đáp một lời, thuộc hạ xông ra đâm chết Triệu Cao, rồi diệt cả ba họ ông ta. Cuộc chính biến Triệu Cao vạch ra lại kết thúc bằng cái chết của chính mình. Hai bên cùng một thủ đoạn, nhưng người sau chuẩn bị kỹ hơn.
Dụ tạ ơn: tặng quà để người ta tự đến cảm ơn
Tổ Đình là quan lớn nhà Bắc Tề, ghét cay ghét đắng Hàm Dương vương Hộc Luật Quang. Ông ta cho truyền những câu đồng dao ám chỉ họ Hộc Luật có ý đồ lớn, dạy trẻ con hát bên đường ở đất Nghiệp, rồi nhờ người nhà tâu lên vua. Nhà vua không hiểu liền gọi Tổ Đình giải thích. Tổ Đình lựa lời gỡ từng chữ, chỉ rằng gia đình Hộc Luật nhiều đời làm đại tướng, uy danh vang cả Quan Tây lẫn Đột Quyết, con gái làm hoàng hậu, con trai lấy công chúa, lời đồn đáng sợ, xin bệ hạ phải nghĩ lại. Nhà vua vốn đã nghi ngờ, nghe xong càng quyết trừ khử, nhưng sợ Hộc Luật Quang biết trước mà không vào triều.
Tổ Đình bày thêm kế: ban cho Hộc Luật Quang một con tuấn mã, nhắn rằng ngày mai vua đi chơi Đông Sơn, mời ông cưỡi ngựa theo hầu. Quả nhiên ông ta tới tạ ơn, vừa bước vào đã bị bắt giết.
Dụ đến chúc mừng: mượn một tin vui giả
Khi Lưu Bang đem quân đánh Trần Hy, Hàn Tín có ý muốn nổi dậy. Lã Hậu bàn kín với Tiêu Hà, giả tin từ tiền tuyến báo rằng Trần Hy đã bị bắt, các chư hầu và quần thần đều vào chúc mừng. Tiêu Hà đến nói dối Hàn Tín: dù ông ốm cũng nên gắng đến chúc mừng cho phải đạo. Hàn Tín tin là thật, vào triều, liền bị Lã Hậu bắt chém tại cung Trường Lạc, giết cả ba họ.
Lời ngon ngọt mời đến: mật ngọt chết ruồi
Năm 835, Lý Huấn đời Đường làm chính biến thất bại, Trịnh Chú chạy về Phượng Tường. Cừu Sĩ Lương ra lệnh cho giám quân Trương Trọng Thanh bắt Trịnh Chú, nhưng Trương lo sợ không biết cách nào. Thuộc hạ Lý Thúc Hòa hiến kế: cứ dùng lời lẽ khéo léo mời Trịnh Chú đến, giữ lính tùy tùng ngoài cổng, để ông ta vào ngồi rồi hãy bắt. Quân mai phục được bố trí sẵn. Trịnh Chú một mình vào, đang nhấp trà trò chuyện thì Lý Thúc Hòa rút dao đâm sau lưng. Cửa lớn đóng lại, toàn bộ lính theo hầu bị giết.
Tụ hội: quét sạch trong một bữa tiệc
Thành Cát Tư Hãn và Khoát Khoát Xuất có mâu thuẫn lớn, ông một lòng muốn trừ người này. Ông bày tiệc lớn mời Khoát Khoát Xuất đến dự, ngay trong cuộc thi tài bảo dũng sĩ ngầm giết ông ta, sau đó mới công bố tội trạng là chia rẽ, đánh anh em ta, làm nhiều việc xấu. Quân đội của Khoát Khoát Xuất bị biên chế lại, và sự thống trị của Thành Cát Tư Hãn đối với Mông Cổ vững thêm.
Dụ bắt: dùng chính kế của đối phương
Thời Ngụy, Đặng Ngôn giết Vương Khang, tự lập làm Thứ sử, triều đình mấy lần cử quân đánh đều thất bại. Cuối cùng Vũ Văn Thái sai Giáp Huy đi bắt. Giáp Huy chỉ dẫn năm mươi người đến, ở nhà khách; Đặng Ngôn thấy ít người nên không đề phòng. Giáp Huy sai người khuyên Đặng Ngôn quy thuận, bị từ chối, rồi lại cho nói rằng đồng ý để ông ta ở lại chức. Đặng Ngôn đổi giận làm vui, tin Giáp Huy chân thành, đến nhà khách gặp thì bị trói. Để trong thành khỏi rối, Giáp Huy tuyên bố đại quân triều đình sắp tới; dân chúng không ai dám động. Đặng Ngôn bị giải về Trường An.
Công khai hứa hẹn: ổn định kẻ địch rồi mới ra tay
Lưu Bang đi đánh Trần Hy, mượn quân của Lương vương Bành Việt, ông này lấy cớ bệnh không đi. Lưu Bang bực tức, đúng lúc có kẻ vu rằng Bành Việt mưu phản; ông bất ngờ bắt, đưa về Lạc Dương, giáng làm thứ dân và đày vào đất Thục. Giữa đường Bành Việt gặp Lã Hậu, khóc kể mình vô tội, xin được đày ở quê cũ. Lã Hậu nhận lời trước mặt, rồi cùng đi về Lạc Dương, nói với Lưu Bang rằng Bành Việt là dũng sĩ, đày đi chỉ để lại mối họa, chi bằng giết quách. Rồi sai người tố cáo ông mưu phản, thêu dệt thành tội, Bành Việt bị chém cùng cả ba họ.
Giả đi du chơi: lấy chuyến đi làm mồi
Hàn Tín nổi tiếng chinh chiến, nước Sở lại mạnh nhất, khiến Lưu Bang phải kiêng nể. Năm thứ sáu nhà Hán, có người tố cáo Hàn Tín mưu phản. Các tướng đều xin xuất quân đánh, riêng Trần Bình can rằng quân ta không tinh bằng Sở, tướng cũng không mạnh bằng, đánh thẳng thật khó thắng. Ông hiến kế: thiên tử xưa có lệ đi tuần thú hội kiến chư hầu; phương Nam có đầm Vân Mộng, bệ hạ cứ mượn tiếng đi chơi, báo cho chư hầu họp ở đất Trần, giáp ranh nước Sở. Hàn Tín biết nhà vua đến ắt phải ra đón, chỉ cần một võ sĩ là bắt được. Lưu Bang nghe theo, dặn võ sĩ phục sẵn; Hàn Tín vừa tới đón liền bị trói.
Dụ điều đi khỏi cương vị: kéo họ rời khỏi chỗ có người của mình
Thời Đường Hiến Tông, triều đình định đánh Vương Biện nhưng sợ hai châu Biểu và Vận nhân cơ hội tấn công, bèn thăng Vương Biện làm Thứ sử Kinh Châu và thúc ông lên đường nhận chức. Vương Biện tin là thật, đem cả gia quyến ra đi. Vừa vào đất Từ Châu, nơi không còn thuộc thế lực của mình, ông thế cô lực mỏng, đội quân hộ tống bỗng trở mặt bắt giữ và chém. Cách này dùng ít binh mà hiệu quả cao.
Ngầm giết: khi không thể giết công khai
Với kẻ có công lớn, giết công khai khó tránh dư luận, nên có thể sai người ngầm làm. Thời Đường, Lý Phụ Quốc thường làm trái ý Đại Tông từ khi ông này còn là Thái tử. Đại Tông lên ngôi, Lý Phụ Quốc lại có công nên càng không tiện hạ thủ công khai. Vì thế ông bí mật sai người giết, vứt đầu xuống cống, chặt cánh tay đem tế Thái Lăng. Mọi việc diễn ra lặng lẽ. Sau đó ông giả nhân từ, hạ chiếu truy bắt hung thủ, an ủi gia đình, làm cái đầu và cánh tay giả bằng gỗ để chôn cất, vẫn phong Lý Phụ Quốc chức Thái phó.
Xuống chiếu gọi: lệnh vua là cái lưới đẹp nhất
Đó là xuống chiếu triệu đối thủ vào cung rồi bắt giết. Chuyện vua Khang Hy bắt Ngao Bái ai cũng biết, cách dùng chính là như thế.
Giả lệnh để giết: mượn danh chiếu chỉ của vua
Cuối đời Đông Tấn, Hoàn Huyền cướp ngôi, Hoàn Tu giúp sức. Lưu Dụ làm giả chiếu lệnh để giết Hoàn Huyền. Họ bố trí chu đáo: Lưu Nghị tập hợp hai mươi bảy nghĩa sĩ và một trăm mười người sẵn lòng theo, chờ lúc mở cổng thành giờ Bính Thìn, Hà Vô Kỵ mặc áo chiếu đứng đầu đọc chiếu, mọi người cùng ùa vào hô lớn. Quan lại hoảng loạn tản đi, họ nhân đó giết Hoàn Tu; Lưu Dụ còn khóc thương và cấp tiền chôn cất hậu hĩnh. Mạnh Xướng thì khuyên Hoàn Hoằng đi săn, lúc trời chưa sáng cùng năm sáu chục tráng sĩ vào thành theo cửa mở, Hoàn Hoằng chưa kịp hiểu đầu đuôi đã bị chém. Khi nghĩa quân vào thành, Lưu Dụ trèo lên tường hô to rằng mang mật chiếu tiêu diệt dư đảng, kẻ phản đã bị giết, ai còn muốn làm bầy tôi nhà Đại Tấn thì hãy lui. Địch tin thật nên rút, không dám dùng vũ lực.
Dịch dụ: dùng bạn của kẻ địch để bắt kẻ địch
Đời Minh, Sầm Chương là quan châu Quy Thuận, rất mưu trí; con rể ông là Sầm Mãnh ở châu Điền. Sầm Mãnh phạm pháp, triều đình ra lệnh bắt, ai bắt được sẽ thưởng vàng bạc, chức tước. Đô ngự sử Diêu Mạc định xuất quân nhưng sợ hai người họ Sầm hợp mưu nhau, bèn hỏi Đô chỉ huy sứ Thẩm Hy Nghi. Thẩm biết thuộc hạ là Triệu Thần thân với Sầm Chương, liền nhờ Triệu Thần dò. Ngày hôm sau Triệu Thần cùng Sầm Chương uống rượu, nói rằng quân môn nhận lệnh đánh Điền châu, ông là bố vợ Sầm Mãnh nên sẽ bị tập kích; tôi không nói thì ông chết, nói rồi tôi cũng chết. Hai người cùng khóc. Sầm Chương lập tức cho người tới quân môn trình tội Sầm Mãnh mưu phản và xin tự đi bắt. Rồi ông dụ được Sầm Mãnh về Quy Thuận, trong lúc uống rượu nói rằng lính triều đình ép gấp, ta không thể che chở cho anh. Sầm Mãnh kêu lên rằng mình đã mắc vào bẫy lão giặc già này, rồi uống thuốc độc chết. Sầm Chương chém đầu mang nộp. Việc đó bị các tướng chê cười, Sầm Chương hậm hực bỏ đi theo đạo sĩ học đạo.
Kế dụ: dùng người cùng phe của kẻ địch
A Khê và con là A Thích đều rất mưu trí, hoành hành ở các thôn bản, người Mèo khắp vùng ai cũng khiếp sợ. Thời Hoằng Trị nhà Minh, Đô ngự sử Khổng Dung làm Tuần phủ Quý Châu, dò biết chỗ dựa của họ là chỉ huy Vương Tăng và Tổng kỳ Trần Thụy. Ông nói sẽ chọn một Tuần quan, tỏ ý chọn Vương Tăng, rồi nói thẳng rằng Vương Tăng nhận hối lộ của A Khê, tội đáng chém. Vương Tăng sợ hãi, nhận cùng Trần Thụy đi bắt A Khê. Người Mèo có tục chọi trâu; Trần Thụy tìm mấy con trâu tốt buộc bên đường, cho hơn trăm tráng sĩ phục sẵn, rồi vào trại thăm hỏi và cùng xem chọi trâu. Bỗng có tin Tuần quan đến; A Khê thấy là Vương Tăng cũng không để ý. Trần Thụy viện cớ quan mới gặp dao là điềm không hay, bảo cha con A Khê bỏ dao xuống. Vương Tăng cố nói mỉa rằng các ông tưởng ta không dám bắt sao, hai người chỉ cười ngạo. Vương Tăng hô to, phục binh xông ra, qua một trận vật lộn thì trói được cả hai, đưa về Quý Dương gặp Khổng Dung rồi xử phân thây trước dân chúng. Từ đó vùng đất người Mèo mới thật yên.
Nguồn: Tư Mã Sơn Nhân, Âm Dương Kinh.
