Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

La bàn phong thủy: từ chiếc muỗng nam châm đến mười chín tầng vòng

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202618 phút đọc0 lượt đọc
La bàn phong thủy: từ chiếc muỗng nam châm đến mười chín tầng vòng

Tần Thủy Hoàng cho xây cửa phía Bắc cung A Phòng bằng đá nam châm, ai mặc giáp cầm đao lẻn vào sẽ bị cánh cửa hút chặt. Đá nam châm ấy về sau được mài thành chiếc muỗng chỉ Nam, rồi thành chiếc la bàn với mười chín vòng chữ. Mỗi vòng giữ một phần của bản đồ trời đất...


Cánh cửa nam châm của Tần Thủy Hoàng và chiếc muỗng Tư Nam

Khoa học cận đại cho biết quả đất mà con người sống trên đó chứa một lượng nam châm lớn, sinh ra từ trường. Cực âm của dòng từ trường ấy gần cực Bắc của trái đất, cực dương gần cực Nam. Theo nguyên lý từ tính, cùng dấu thì đẩy nhau, khác dấu thì hút nhau, nên mọi sự vật trên mặt đất đều mang tác dụng cực tính.

Người Trung Hoa đã sớm phát hiện những viên đá nam châm và sức hút kim loại của chúng. Cổ thư ghi rằng sau khi thống nhất đất nước sáu năm, Tần Thủy Hoàng cho tập hợp hàng trăm nghìn người dựng cung A Phòng to lớn, đẹp đẽ, mặt hướng Đông Nam, còn cửa phía Bắc xây bằng chính đá nam châm. Lúc đó người ta gọi cửa này là "Từ Thạch Môn", để phòng thích khách: kẻ nào mặc giáp, cầm đao lẻn vào cung sẽ bị cánh cửa hút chặt. Nhiều cổ thư đều ghi lại chuyện cửa nam châm ấy.

Không chỉ phát hiện đá nam châm hút sắt, người xưa còn sớm nhận ra tính chỉ cực của nó. Mỗi viên đá có hai cực khác nhau, một Nam, một Bắc: cực giống nhau thì đẩy, chỉ cực khác nhau mới hút. Treo lơ lửng một thanh nam châm rồi đưa thanh khác lại gần, nhất định một đầu sẽ hút chặt, đầu kia đẩy ra. Vì vậy, dù chỉ là một chiếc kim nam châm nhỏ dựng đứng đặt giữa không trung, đầu cực Nam của nó hút cực Bắc của các nam châm gần cực Nam trái đất mà chỉ hướng Nam, còn đầu cực Bắc hút cực Nam của các nam châm gần cực Bắc trái đất mà chỉ hướng Bắc. Tính chất ấy về mặt khoa học gọi là tính chỉ cực.

Theo ghi chép lưu lại, thời Chiến Quốc ở Trung Hoa người ta đã dùng tính chỉ cực của đá nam châm để làm một dụng cụ chỉ hướng Nam Bắc, gọi là "Tư Nam". Quỷ Cốc Tử kể chuyện người nước Trịnh đi tranh ngọc phải mang theo Tư Nam để khỏi lạc phương hướng; "Tư Nam" nghĩa là chỉ hướng, và đây là thiết bị chỉ phương hướng sớm nhất thế giới. Qua kiểm nghiệm, Tư Nam được mài từ đá nam châm thành hình chiếc thìa canh, có chuôi dài và đáy tròn. Kèm theo là một tấm bàn bằng đồng hay bằng gỗ, trên khắc Bát Quái, thiên can, địa chi để chỉ phương vị, gọi là Địa Bàn. Đặt thìa nam châm lên đáy tròn trên mặt bàn, dùng tay xoay nhẹ chuôi; đợi chiếc thìa dừng lại thì chuôi của nó chỉ đúng hướng Nam. Tư Nam thời Chiến Quốc chính là tiền thân của la bàn phong thủy về sau.

Thức bàn Lục Nhâm đời Hán: trời tròn đất vuông

Trước khi có kim nam châm trên mặt bàn xoay, người ta đã có một cái bàn xoay khác, dùng để chọn ngày và rút quẻ.

Thức bàn Lục Nhâm là một dụng cụ thời cổ dùng để chọn ngày và rút quẻ lành dữ, được hoàn thiện vào thời Hán. Đến nay mới chỉ phát hiện hai chiếc: một chiếc năm 1972 ở Cam Túc, trên một cối xay lớn; một chiếc ở một làng đánh cá thuộc huyện Tảo Dương, tỉnh An Huy. Thức bàn Hán là ứng dụng cụ thể của thuật bói Lục Nhâm. Thuật dùng số của Dịch học cổ ngày càng nhiều, ảnh hưởng đến ba loại bói là Lục Nhâm, Độn Giáp, Thái Ất, gọi xưa là Tam Thức, trong đó Lục Nhâm cổ nhất.

Tên Lục Nhâm bắt nguồn từ sáu mươi năm hoa giáp: trong sáu mươi năm ấy có sáu năm Nhâm là Nhâm Thân, Nhâm Ngọ, Nhâm Thìn, Nhâm Dần, Nhâm Tý, Nhâm Tuất. Chữ Nhâm hàm ý tính cách muôn vật không bao giờ vượt khỏi giới hạn. Lý luận bói Lục Nhâm dựa vào thuyết ngũ hành và âm dương, khởi từ Thủy, lấy âm khởi dương, mở rộng trời đất, dựng nên Thiên Bàn và Địa Bàn. Thức bàn Hán chia làm hai phần: bàn tròn ở trên gọi là Thiên Bàn, bàn vuông nằm dưới gọi là Địa Bàn, với ý "trời tròn đất vuông".

Giữa Thiên Bàn có bảy ngôi sao Bắc Đẩu; xung quanh có hai vòng khắc, vòng trong ghi các chữ từ "chính" đến "thập nhị", vòng ngoài ghi hai mươi tám chòm sao. Vòng trong tượng trưng cho mười hai nguyệt tướng: "chính" là tháng giêng, "nhị" là tháng hai, cứ thế đến "thập nhị" là tháng chạp. Cũng có bàn thay các chữ ấy bằng mười hai chi: tháng giêng là Hợi tướng, tháng hai là Tuất tướng, tháng ba là Dậu tướng, và cứ tiếp tục, đến tháng chạp là Tý tướng. Mười hai nguyệt tướng còn gọi là mười hai thần, như Trưng Minh, Thiên Khôi, Tòng Khôi, Truyền Tống, Thắng Tiên, Tiểu Cát, Thái Nhất, Thiên Cương, Thái Xung, Công Tào, Đại Cát, Thần Hậu. Vương Sung, trong Luận Hành, nói từ Trưng Minh đến Tòng Khôi trong mười hai thần đều gọi là thiên thần.

Địa Bàn có ba tầng khắc. Tầng trong là tám can tứ duy. Tám can gồm Đinh Bính ở phía Nam, Ất Giáp ở phía Đông, Quý Nhâm ở phía Bắc, Tân Canh ở phía Tây; tứ duy ở bốn góc: Đông Nam là "Thổ đẩu Mậu", Tây Nam là "Nhân nhật Kỷ", Tây Bắc là "Thiên Kỷ", Đông Bắc là "Quỷ nguyệt Mậu". "Thiên", "Thổ", "Nhân", "Quỷ" của tứ duy là tứ môn. Sách Lục Nhâm Thần Định Kinh của Dương Duy Đức đời Tống nói: Thiên Môn ở Tây Bắc, giữa Tuất Hợi; Địa Hộ ở Đông Nam, giữa Thìn Tỵ; Nhân Môn ở Tây Nam, giữa Thân Mùi; Quỷ Môn ở Đông Bắc, giữa Sửu Dần.

Cách dùng thức bàn Hán có phương pháp đơn giản: ví dụ lấy một năm Đông chí rơi vào ngày hai mươi tám tháng mười một, khi ấy mặt trời ở góc lệch hai mươi mốt độ so với sao Bắc Đẩu thuộc thần Đại Cát, là Sửu tướng; đến giờ Thìn ngày mồng bảy tháng mười một, mặt trời đi lùi mười một độ thì ở mười độ, thuộc thần Công Tào, là Dần tướng. Trước hết đặt thiên địa bàn theo cách sắp xếp chính thức: Tý tướng thứ mười hai trên Thiên Bàn đối đúng giờ Tý trên Địa Bàn, hướng về Nam; tay trái giữ góc Đông Bắc của Địa Bàn, tay phải xoay Thiên Bàn cho Dần tướng đối đúng giờ Thìn của Địa Bàn. Từ đó tính ra Tứ Khóa và Tam Truyền, căn cứ vào đó đoán lành dữ trong ngày. Căn cứ vào tứ khóa và tam truyền ấy, người xưa đoán lành dữ trong ngày.

Thức bàn Lục Nhâm còn được dùng trong quân sự để chọn hướng dựng trại, và khởi nguồn rất sớm: Chu Lễ, Xuân Quan Tông Bá, có lời "đại sự ôm thiên thời đi cùng trên xe", theo chú thích của Trịnh Huyền thì "ôm thức trần thế để biết thời cơ"; "thức" ở đây chính là la bàn. Ngô Việt Xuân Thu chép việc Ngũ Tử khuyên vua Ngô dùng cách xem kiểu Lục Nhâm; Hoài Nam Tử nói "Kham" là đạo trời, tức Thiên Bàn, "Dư" là đạo đất, tức Địa Bàn, nên "Kham Dư Kim Quỹ" có lẽ là sách chuyên về Lục Nhâm thời đầu. Tư Mã Trinh chú rằng hình dáng la bàn trần thế phía trên tròn như trời, phía dưới vuông như đất. Hán Thư, truyện Vương Mãng, ghi rằng quan thiên văn đặt thức bàn trước mặt. Từ sau Hán, thức bàn phát triển rộng; ghi chép đời Tống chia nó làm bốn loại theo giai cấp: thức Thiên tử, thức Công hầu bá, thức Khanh đại phu và thức Thứ nhân.

La bàn phong thủy: ba bàn, ba kim và tám điều kỳ lạ

La bàn được phát minh vào cuối đời Đường, ban đầu chủ yếu dùng thăm dò địa chất, khoáng sản. Sau đời Tống nó được dùng rộng rãi để xác định phương hướng; đến đời Minh, ngành hàng hải của Trung Quốc và thế giới được lợi nhiều từ nó. Từ Minh Thanh đến nay, nó trở thành công cụ không thể thiếu của thầy phong thủy khi tìm mộ, xem nhà ở. Mọi việc tìm mạch nước, tìm huyệt, thôn xóm, làng mạc, ao hồ đều phải dựa vào la bàn để suy đoán, xác định. La bàn còn gọi là La Kinh; qua các vòng chữ trong một phạm vi nhất định nó hợp nhất những vấn đề triết học liên quan tự nhiên vũ trụ của Trung Hoa cổ: âm dương, ngũ hành, bát quái, thiên can, địa chi, mười hai thứ, hai mươi tư giờ, hai mươi tám chòm sao thành một thể thống nhất.

Với thầy phong thủy, la bàn có ma lực hô gió gọi mưa, có thể phân biệt sang hèn, đoán may rủi, lành dữ của ngày giờ. Đó là vì họ không phân rõ ranh giới giữa mê tín và khoa học, lại mượn khoa học để hành nghề bói toán.

La bàn nói chung do Thiên Bàn và Địa Bàn tạo thành. Thiên Bàn tròn, đáy có chỗ lồi để đặt vào vòng tròn lõm của Địa Bàn mà xoay được. Giữa Thiên Bàn lắp một cây kim chỉ nam, còn gọi là kim từ, kim vàng, hướng gốc phần lớn chỉ về Nam; thầy phong thủy gọi nó là "kim thẳng". Thực ra hướng kim thẳng chỉ không phải đúng hướng Nam mà hơi lệch sang Đông một chút, gọi là độ lệch từ, vì cực từ của trái đất không trùng đúng với cực Bắc Nam. Muốn chỉ đúng hướng Nam cần thêm một kim tạo khe hở; giữa kim chính và kim ấy hình thành góc lệch từ. Địa Bàn vuông, có hai sợi dây chữ thập, giữa có vòng tròn lõm để lắp Thiên Bàn; một tròn một vuông ngụ ý trời tròn đất vuông. La bàn xưa nhất định làm bằng gỗ, vì cho rằng tránh được xung khắc; kim phải chỉ nhạy, không được kém chất lượng chút nào.

La bàn có nhiều quy cách, nhưng loại cơ bản có ba bàn, ba kim. Ba bàn là Thiên Bàn, Địa Bàn, Nhân Bàn; ba kim là kim thẳng, kim tạo góc lệch và kim giữa. Phương Bắc Nam do kim thẳng chỉ là vị trí của địa cầu, gọi là Địa Bàn; phương Bắc Nam do kim tạo góc lệch với kim thẳng chỉ là hình chiếu của mặt trời, gọi là Thiên Bàn; giờ ở Bắc cực do kim giữa chỉ, gọi là Nhân Bàn. Việc lắp tam kim tam bàn là sự vận dụng vào kiến trúc tư tưởng trời, đất, người hợp nhất của triết học cổ.

Khi xem phong thủy, cách dùng chủ yếu là nhìn kim. Muốn biết hướng của một huyệt, một ngôi mộ thì kê la bàn thăng bằng trên bia đá; muốn biết hướng nhà ở thì kê ngay giữa đất nhà hoặc giữa nhà. Kê xong phải dọn sạch mọi vật kim loại để tránh làm kim lệch, dùng nước tinh khiết rửa Thiên Bàn, rồi lắc kim vài lần, quan sát mỗi lần kim lắc và quan hệ giữa kim với đường chỉ giờ để phán đoán lành dữ. Thuật phong thủy đã gom sự lay động của kim thành tám nguyên tắc gọi là Bát Kỳ: Đường, Đoài, Khi, Thám, Trầm, Toại, Trắc, Chính.

Đường: kim nổi mà không cố định một chỗ, không về đường giữa, cho là trong đất có nhiều cổ vật. Đoài: kim hiện nằm ngang, không về đường chỉ giờ, cho là có vật kim loại. Khi: kim di chuyển không ổn định, cho là có dị vật. Thám: một đầu kim ghìm xuống, một đầu hút lên, cũng cho là có dị vật. Trầm: kim bị ghìm xuống, cho là có đồ đồng. Toại: kim bị hút lên chứ không chuyển động hỗn loạn, cho là có dị vật. Trắc: kim lệch Đông hay lệch Tây, không về đường giữa, cũng cho là có dị vật. Chính: kim trở về đường giữa, chỉ đúng đường Tý Ngọ. Trong tám điều ấy, bảy điều đầu đều chỉ điều không lành, chỉ điều thứ tám là lành. Về mặt khách quan, Bát Kỳ chỉ nói tình trạng của các loại vật chất mà địa chất chứa, vì kim từ chỉ phản ứng với vật kim loại và vật có từ tính chôn trong lòng đất, chứ không có liên hệ gì với việc chọn vị trí hay phương hướng. Có thể thấy những lời thầy phong thủy nói về lành dữ như vậy thực tế chưa có căn cứ khoa học.

Nếu tìm hướng cho nguồn nước thì xem đường đỏ trên Địa Bàn chỉ về chỗ nước giao nhau, cho kim từ song song với đường đáy ao hồ; rồi xoay Thiên Bàn, đợi nó dừng hẳn, xem đường đỏ trên Địa Bàn chỉ vào chữ gì trên Thiên Bàn, sau đó theo lý luận phong thủy mà định lành dữ theo phương hướng. Nếu hướng không hợp thì điều chỉnh Địa Bàn cho đến khi đặt được hướng thuận lợi. Tìm mộ, dựng nhà cũng làm theo cách ấy. Số vòng trên Thiên Bàn không đều, đơn giản nhất chỉ hai ba vòng, nhiều và phức tạp nhất hơn bốn mươi vòng. La bàn gỗ tốt nhất là của cửa hiệu Vạn An ở huyện Hưu Ninh, An Huy, từng đoạt giải vàng ở một cuộc triển lãm quốc tế năm 1915 tại Panama.

Mười chín tầng vòng của một chiếc la bàn

Một chiếc la bàn đầy đủ giống như một bản đồ trời đất gập lại, mỗi vòng giữ một phần của bản đồ ấy.

Chiếc la bàn mười chín tầng do hiệu Vạn An chế tạo có thể làm ví dụ. Tầng một là Thiên Trì, tức thái cực: kim từ dừng ở đó, mũi đỏ chỉ Nam; không có Thiên Trì thì không xác định được giờ, không chia được âm dương, không phân được Bát Quái Cửu Cung. Đường kính trung bình một tấc hai phân tượng trưng mười hai tháng của năm; chiều sâu ba phân so với ba mươi ngày của tháng. Tầng hai là Bát Quái, có thể là Tiên Thiên hoặc Hậu Thiên; chiếc la bàn này dùng Tiên Thiên, còn đa số la bàn khác dùng Hậu Thiên. Tầng ba là Cửu Tinh, chín sao như Văn, Phá, Liêm, Lộc, Cự, Võ, Bật, được phân bố vào hai mươi bốn sơn hướng, bắt đầu từ quẻ Khảm đối với hướng Bắc, đi thuận chiều kim đồng hồ. Cổ nhân không thống nhất về chín sao này: có người cho bốn hướng và năm sao hợp thành chín; có người cho bảy sao Bắc Đẩu thêm hai sao Phụ, Bật.

Tầng bốn là Thiên Tinh, hai mươi bốn ngôi như Thiên Hoàng, Thiên Ất, Thiếu Vi, Thái Vi, Thiên Thị, Nam Cực, bắt đầu từ chính Bắc, thuận chiều kim đồng hồ. Phong thủy cho rằng hai mươi bốn thiên tinh chiếu sáng hai mươi bốn vị trí; sao có tốt có xấu nên đất có lành có dữ; trong đó Tử Vi, Thiếu Vi, Thiên Thị, Thái Vi làm tứ quý của thiên tinh; nếu Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ hợp thành vòng thì là lành, không thành vòng là dữ.

Tầng năm là tầng địa chất, hai mươi bốn vị trí chính là hai mươi bốn hướng do tám thiên can, mười hai địa chi và bốn quẻ Càn, Khôn, Cấn, Tốn tạo thành. Từ chính Bắc, thuận chiều kim đồng hồ: Nhâm, Tý, Quý, Sửu, Cấn, Dần, Giáp, Mão, Ất, Thìn, Tốn, Tỵ, Bính, Ngọ, Đinh, Mùi, Khôn, Thân, Canh, Dậu, Tân, Tuất, Càn, Hợi. Tầng này dùng để xác định hướng núi; hướng nước thay đổi, đáp ứng điều kiện khí hậu hai mươi bốn tiết khí, giúp dò hai mươi bốn sơn hướng.

Tầng sáu là hai mươi bốn tiết khí, bắt đầu từ góc Đông Bắc: Lập Xuân, Vũ Thủy, Kinh Trập, Xuân Phân, Thanh Minh, Cốc Vũ, Lập Hạ, Tiểu Mãn, Mang Chủng, Hạ Chí, Tiểu Thử, Đại Thử, Lập Thu, Xử Thử, Bạch Lộ, Thu Phân, Hàn Lộ, Sương Giáng, Lập Đông, Tiểu Tuyết, Đại Tuyết, Đông Chí, Tiểu Hàn, Đại Hàn. Tầng bảy là Xuyên Sơn, gồm sáu mươi hoa giáp, tám can và tứ duy, thêm mười hai ô trống đại diện cho tám can tứ duy; phong thủy cho rằng nếu sơn rơi vào ô trống của tám can tứ duy thì là hung. Tầng tám là Phân Kim trong chính kim: mỗi sơn trong hai mươi bốn sơn có năm vị trí, tổng một trăm hai mươi vị trí. Tầng chín là Trung Bàn Nhân Kỷ hai mươi bốn vị trí, còn gọi là trung kim Nhân Bàn. Phong thủy nói trước có trời đất, sau có con người; Nhân Bàn xưa nằm giữa Thiên Bàn và Địa Bàn; giờ Tý Ngọ ở chính giữa Nhâm Tý và Bính Ngọ trong bàn này. Hai mươi bốn vị trí dùng địa chi đan xen tám can, thêm Càn, Khôn, Tốn, Cấn ở bốn phương, khớp đúng với hai mươi bốn vị trí địa chất ở tầng năm. Tầng mười giống tầng tám, nhưng sắp lệch phải hai ô.

Tầng mười một là Thấu Địa Sáu Mươi Long, ký hiệu bằng sáu mươi hoa giáp, bắt đầu từ Tây Bắc, thuận chiều kim đồng hồ từ Giáp Tý. Phong thủy cho rằng ngũ khí vận động trong lòng đất, sự tốt xấu của khí giấu trong đất có thể nhìn qua bề ngoài của đất: khí mạnh thì đất gồ cao, khí yếu thì đất thấp xuống, khí trong thì đất đẹp, khí đục thì đất xấu. Sáu mươi long được giải thích khác nhau: thấu đến Giáp Tý sơn hướng thì người bị bệnh; thấu đến Bính Tý thì phú quý song toàn. Tầng mười hai là khẩu quyết, mỗi ô đối khớp một ô của Thấu Địa Sáu Mươi Long, ghi mấy chữ đầu của mỗi câu trong bài khẩu quyết, giải thích cách phối hợp lành dữ. Tầng mười ba là mười hai "thứ": người xưa dựa vào đường đi của mặt trời theo chiều từ Tây sang Đông mà chia hoàng đạo làm mười hai thứ như Tinh Kỷ, Huyền Hiêu, Giáng Lâu, Đại Lương, Thọ Tinh, Đại Hỏa; mỗi năm sao Tuế đi qua một thứ, nên ghi là "tuế tại Tinh Kỷ", "tuế tại Huyền Hiêu", mười hai năm thì lặp lại. Giữa hai thứ là "chi thứ".

Tầng mười bốn là mười hai phân dã: vào thời Xuân Thu, Chiến Quốc người ta căn cứ khu vực trên đất để phân định các chòm sao trên trời, cho các chòm sao ứng với các châu. Chẳng hạn Giác, Cang, Đê ứng với nước Trịnh và Duyện Châu; Ngưu, Đẩu ứng với Việt; Nữ ứng với Ngô; Hư, Nguy ứng với Tề và Thanh Châu; Tỉnh, Quỷ ứng với Tần và Ung Châu; Dực, Chẩn ứng với Sở và Kinh Châu. Trong la bàn, mười hai nước thêm chữ "phân", như Tề phân, Yên phân; đan xen mười hai nước với mười hai châu thành hai mươi bốn ô. Tầng mười lăm là Ngoại Bàn Phùng Kim: hướng Tý Ngọ của tầng một nằm đúng giữa Tý và Quý, Ngọ và Đinh của tầng năm, xưa gọi là phùng kim; vì hướng Nam Bắc của phùng kim được cho là hình chiếu của mặt trời nên xưa gọi là Thiên Bàn. Ký hiệu giống tầng năm và tầng chín, nhưng vị trí lệch về Đông nửa ô so với tầng năm. Tầng mười sáu giống tầng tám, lệch hai ô nhỏ về Đông; tầng mười bảy giống tầng mười một, lệch một giờ nhỏ về Đông.

Tầng mười tám là Tú Độ Ngũ Hành: dùng ngũ hành Thủy, Hỏa, Kim, Mộc, Thổ phối hợp tương sinh tương khắc để ứng với các chòm sao trên trời, tính ra có năm mươi chín ký hiệu và hai ô trống, tổng hợp sáu mươi mốt. Tầng mười chín là Chu Thiên Tú Độ: hai mươi tám chòm sao là cách gọi chung của người xưa với hai mươi tám chòm sao vĩnh hằng quanh hoàng đạo và xích đạo. Hoàng đạo là hình ảnh mặt trời con người trên trái đất thấy khi nó đi hết một vòng quỹ đạo cao; xích đạo là vòng tròn bao quanh trái đất, ngăn hai cực Nam Bắc. Người xưa dùng hai mươi tám chòm sao làm số độ của một vòng mặt trời; một vòng mặt trời có hơn ba trăm sáu mươi lăm ngày, nên la bàn ấn định số độ và phân bố hai mươi tám chòm sao. Phía Đông bảy chòm: Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ; phía Bắc bảy chòm: Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích; phía Tây bảy chòm: Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chủy, Sâm; phía Nam bảy chòm: Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Phong Thủy Toàn Thư.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia