Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Lộc Kị luận

Bài tổng quan

Hai mệnh bàn nam đọc bằng phi hóa: ly hôn, đổi nghề, mua nhà

Tử Vi Bắc Phái - Lộc Kị luận03/10/202610 phút đọc2 lượt đọc
Hai mệnh bàn nam đọc bằng phi hóa: ly hôn, đổi nghề, mua nhà

Vợ ngoại tình, ly hôn lúc bốn mươi tuổi, bỏ chức công chức, làm tổng giám đốc rồi thua bạc: chuyện nào cũng đọc ra được từ chuỗi phi hóa. Cùng một vì sao có lúc phá hôn nhân, có lúc nâng sự nghiệp. Mũi tên nào đã kể những điều ấy…


Một người đàn ông, bốn khúc quanh lớn của đời

Có một mệnh bàn nam đã đi qua bốn khúc quanh: vợ ngoại tình rồi ly hôn lúc bốn mươi tuổi; bỏ chức công chức để sang kinh doanh; từng làm tổng giám đốc một nhà máy ở đại lục với gần chín trăm nhân viên; và có lần thua bạc mất hai vạn. Chuyện nào cũng có thể đọc ra từ chính chuỗi phi hóa trên mệnh bàn của ông, nếu biết chọn cung nào làm gốc và đi theo mũi tên nào. Đây là một ví dụ rất tốt để thấy các quy tắc về thái cực, Kỵ chuyển Kỵ, song Kỵ và tam phương đang vận hành ra sao trong đời thật.

Đọc từ khúc quanh đau đớn nhất đến khúc quanh thăng hoa nhất, ta thấy cùng một mệnh bàn vừa nặng nghiệp vừa nở phúc.

Vì sao hôn nhân đổ vỡ lúc bốn mươi tuổi

Bộ cung để luận chuyện ly hôn

Muốn luận ly hôn phải chọn bộ cung đúng, đó là bốn cung đã được định sẵn: lấy Phu Thê lập thái cực; Điền Trạch phải bị phá hại, vì nó là gia đình tan nát; Phụ Mẫu phải bị phá hại, vì nó là cung điền trạch của hôn nhân, tức văn thư và gốc rễ của cuộc hôn nhân; và Tật Ách để xem phản ứng của tâm tình.

Mệnh bàn của người chồng

Cung Phu Thê mang can Bính, phi Liêm Trinh Hóa Kỵ nhập Mệnh. Đúng lúc ấy năm sinh có Lộc đổ vào Mệnh, nên Lộc và Kỵ gặp nhau thành song Kỵ nhập Mệnh. Ý nghĩa: hôn nhân là món nợ, lại lấy vợ một cách tùy tiện.

Cung Điền Trạch mang can Tân, phi Văn Xương Hóa Kỵ nhập Mệnh. Cung Phụ Mẫu, tức điền trạch của hôn nhân, mang can Kỷ, phi Văn Khúc Hóa Kỵ nhập Thiên Di. Kết quả là Phu Thê, Điền Trạch và Phụ Mẫu đều đẩy Kỵ về hai phía Mệnh và Thiên Di, hình thành thế tam Kỵ. Tam Kỵ hợp lại là phá hoại, nên hôn nhân khó mà giữ được.

Vì sao người vợ ngoại tình

Có ba lớp lý giải, lớp nào cũng dựa vào quy tắc rằng Mệnh của người vợ chính là Phu Thê của chồng, còn Tật Ách của người vợ chính là Giao Hữu của chồng:

  • Phu Thê mang đào hoa Kỵ. Cung Phu Thê can Bính, Liêm Trinh (sao đào hoa) Hóa Kỵ nhập Mệnh, gặp Lộc năm sinh: vợ đa dục, dâm đãng. Lộc gặp Kỵ thành song Kỵ với Mệnh, gọi là "nhất mã song an", một ngựa hai yên.
  • Tật Ách của người vợ, tức Giao Hữu, mang Kỵ mê đắm thân thể. Giao Hữu tọa Thái Dương mang Kỵ năm sinh, nghĩa là mê đắm thân thể, món nợ về xác thịt. Rồi từ đó lấy Tham Lang (cũng là sao đào hoa) can Quý Hóa Kỵ nhập Phúc Đức, lại gặp Mệnh cung phi Lộc đến, nên Lộc Kỵ cũng thành song Kỵ với Phúc Đức: say mê tình dục, và lại là thế "nhất mã song an".
  • Cả hai cung của người vợ cùng thấy đào hoa. Cung Mệnh của vợ (tức Phu Thê) và Tật Ách của vợ (tức Giao Hữu) đều gặp sao đào hoa với Lộc và Kỵ cùng hội, tình dục quá nặng, nên giống đóa đào múa trong gió xuân.

Vì sao bốn mươi tuổi rời chức công chức

Rời công chức vốn là "xung động" đối với vị trí "an định" của tam phương Điền Trạch. Vậy phải có điều kiện gì mới nghỉ? Các bước:

  1. Từ cung Huynh Đệ ở đại hạn Tài Bạch, can Đinh phi Cự Môn Hóa Kỵ nhập đại hạn Mệnh, tức Điền Trạch, cung thủ thành. Chuyển tiếp sang can Tân, Văn Xương Hóa Kỵ nhập Mệnh. Đây là lúc đầu đi làm yên ổn (Huynh Đệ Kỵ nhập Điền Trạch là an ổn), về sau chán nản (vì Kỵ nhập Mệnh).
  2. Từ Tài Bạch bản mệnh, can Bính, Liêm Trinh Hóa Kỵ nhập Mệnh, hội lại thành song Kỵ xung động với Mệnh. Đây là tượng đường tiền tài biến đổi, thu nhập khác đi.
  3. Mệnh đã được song Kỵ, chuyển tiếp can Mậu, Thiên Cơ Hóa Kỵ kẹp song Kỵ nhập Tật Ách, tức vị trí giữ thành. Nhìn thêm thì Thái Âm Kỵ xuất (tiêu tán, biến đổi) ở Phụ Mẫu.
  4. Tam phương Điền Trạch của ông bị phá, cuối cùng cung Tật Ách có Kỵ xuất tiêu tán, thì đó chính là lúc nghỉ việc.

Từ công chức đến vị trí tổng giám đốc

Những chức vị cao thường đòi hỏi Thiên Di và Giao Hữu cùng ở thế cát hóa giao củng, tức hai bên cùng đổ hóa lành vào nhau. Mệnh bàn này có điều kiện ấy:

  • Giao Hữu mang can Quý, Phá Quân Hóa Lộc nhập Phu Thê, theo hướng của Sự Nghiệp (vì Lộc Quyền vào tam phương Mệnh thích "chiếu" hơn "tọa"). Gặp Thiên Di phi tới can Giáp, Phá Quân Hóa Quyền, cùng với Quyền năm sinh đã có ở Phu Thê, hội với Giao Hữu Lộc: nghĩa là được một Lộc hai Quyền. Đó là Thiên Di Quyền liên quan đến Mệnh, trúng chuyện địa vị xã hội, lại được Lộc của Giao Hữu củng hộ: vừa có thiên thời vừa có nhân hòa.
  • Phu Thê đã được một Lộc hai Quyền, chuyển tiếp can Bính, Liêm Trinh kẹp các hóa lành Hóa Kỵ nhập Mệnh. Lại gặp Thiên Di phi can Giáp, Liêm Trinh Hóa Lộc hội với Lộc năm sinh ở Mệnh: tổng cộng ba Lộc hai Quyền, sự nghiệp thăng thiên.

Điều thú vị: chính Liêm Trinh Hóa Kỵ đã góp phần phá hôn nhân ở đoạn trên, lại là sao đứng ở nấc thang nâng sự nghiệp ở đoạn này. Cùng một sao mà hiện hai bộ mặt, tùy ta đang hỏi chuyện gì và đang nhìn từ cung gốc nào.

Lần thua bạc hai vạn

Ba dấu hiệu gộp lại giải thích chuyện thua bạc:

  1. Tài Bạch phi can Bính, Liêm Trinh, sao của cờ bạc, Hóa Kỵ nhập Mệnh. Tượng cho thấy đánh bạc thì mất, vì Kỵ nhập Mệnh.
  2. Điền Trạch, kho tiền, phi can Tân, Văn Xương Hóa Kỵ nhập Mệnh. Có song Kỵ phá, tức phá kho, nên mất tiền.
  3. Mệnh phải song Kỵ, can Mậu, Thiên Cơ kẹp song Kỵ nhập Tật Ách. Thái Âm Kỵ xuất (tiêu tán) ở Phụ Mẫu. Đây là Kỵ xuất làm mất quân lệnh, tức mất cái khả năng kiềm chế thói đánh bạc. Kỵ xuất là tiêu tán: với chuyện tốt thì là hung tượng, với chuyện xấu thì ngược lại, hóa thành cát.

Vì sao mấy lần buôn bán đầu tư đều tay trắng

Thành tựu không rời hai chữ "hữu thủ hữu vi". Tam phương Mệnh là cung triển vọng, tam phương Điền Trạch là cung thủ thành. Hễ tam phương Mệnh và tam phương Điền Trạch phi hóa mà thấy nhiều Kỵ thì thành người "phá cách", không hợp để gây dựng sự nghiệp. Với người này có năm dấu hiệu:

  • Điền Trạch (kho) và Tài Bạch cùng Hóa Kỵ vào Mệnh, kho bị phá, bất lợi cho khởi nghiệp.
  • Thái Dương Kỵ năm sinh tọa Giao Hữu, xung Huynh Đệ (cũng là kho). Chuyển tiếp can Quý, Tham Lang Kỵ nhập Phúc Đức, xung Tài Bạch. Tượng là tự mình quản lý tài sản không tốt, hoặc bất lợi cho cạnh tranh.
  • Cung Sự Nghiệp có Vũ Khúc tự hóa Kỵ.
  • Mệnh phi can Mậu, Thiên Cơ Hóa Kỵ nhập Tật Ách, vị trí thủ thành. Lại thấy Thái Âm Kỵ xuất ở Phụ Mẫu: tượng sự việc bất thường, không ổn định.
  • Gộp bốn dấu hiệu lại, thật bất lợi cho việc gây dựng sự nghiệp riêng. Nên đi làm công việc ổn định.

Kết luận cuối cùng của mệnh bàn này là nên làm việc ổn định, còn tự mình gây dựng cơ nghiệp thì bất lợi. Cũng cùng một mệnh bàn mà nói được cả chuyện thăng tiến lẫn chuyện thất bại, là nhờ biết đặt đúng câu hỏi cho từng lần luận.

Một mệnh bàn nam khác: nghề điện, nhà cao tầng và người vợ ăn chay

Để thấy cách đọc này không chỉ dùng cho người nhiều Kỵ, hãy xem thêm một mệnh bàn nam sinh năm Giáp Ngọ, ba bộ chuyện mà mệnh bàn kể ra rất khác nhau.

Vì sao bốn anh em mà không ở gần nhau

Từ Mệnh, can Mậu phi Tham Lang Hóa Lộc nhập Huynh Đệ: đối với anh em không so đo, rộng lòng. Rồi từ Huynh Đệ chuyển tiếp, Cự Môn Hóa Kỵ nhập Mệnh: tượng thiếu nợ anh em. Chính tượng này là anh em không sống gần nhau. Thêm một lớp nữa: Tài Bạch tọa Thái Dương mang Kỵ năm sinh, rồi chuyển tiếp can Bính, Liêm Trinh Hóa Kỵ nhập Điền Trạch: tính cố gia, trọng chuyện nhà, nhưng cũng là tượng anh em không ở gần.

Vì sao đi buôn đồ điện lại nên cơ nghiệp

Đồ điện dân dụng gắn với hai sao: Thái Dương (nhiên liệu, điện lực) và Liêm Trinh (điện, đồ điện chế phẩm). Cung Tài Bạch tọa Thái Dương Kỵ năm sinh; chuyển tiếp can Bính, Liêm Trinh Hóa Kỵ nhập Điền Trạch, cung tài phú, và gặp Liêm Trinh Lộc năm sinh. Nghĩa là tuy kiếm tiền khổ cực (vì Tài Bạch Kỵ) nhưng nhiều cơ hội phát tài, có thể cần kiệm mà giàu (vì Điền Trạch gặp sao thiên tài Lộc).

Lời chú: đây là Lộc và Kỵ cùng một cung, thành "song Lộc", nhân đôi tượng. Cũng là tượng có nhiều "trí sản", cả đời người này mua được ba tòa nhà cao tầng.

Còn hai chứng cứ nữa. Thứ nhất, Thiên Di (phúc vận, nơi tế ngộ) phi can Giáp, Liêm Trinh Hóa Lộc nhập Điền Trạch hội với các hóa lành, tức phúc vào kho, kho được hai sao thiên tài Lộc. Thứ hai, Phúc Đức (phúc phần) phi can Canh, Thái Dương Hóa Lộc nhập Tài Bạch, quay lại thấy Liêm Trinh Kỵ can Bính nhập Điền Trạch như đã nêu: kho được song Lộc, phúc đã sẵn tới, nên có "phú cách".

Vì sao vợ lớn hơn hai tuổi, rồi sau cưới ăn chay

  • Mệnh phi can Mậu, Thiên Cơ (hóa khí làm thiện) Hóa Kỵ nhập Phu Thê: người vợ "thiện", chấp tính rất nặng. Có lời chú: hễ cung Phu Thê gặp Thiên Lương, hoặc Thái Dương Kỵ, Thái Âm Kỵ, Thiên Cơ Kỵ, Cự Môn Kỵ thì hôn nhân dễ chênh lệch tuổi.
  • Thiên Di của người vợ, tức cung nhân duyên và cũng là Sự Nghiệp, mang can Nhâm, Thiên Lương (sao ấm, thiện) Hóa Lộc nhập Phúc Đức của mệnh bàn: chủ duyên với tôn giáo.
  • Thiên Di của người vợ phi can Nhâm, Vũ Khúc Hóa Kỵ nhập Tật Ách của chính mình: tất nhiên gắng sức ăn chay. Lời chú: Vũ Khúc Kỵ từ Thiên Di của vợ vào Tật Ách, ngoài chuyện ăn chay, còn chủ duyên bên ngoài và dịch mã bôn ba; bởi vợ là một vị giảng đạo, thường bận rộn việc truyền đạo.

Hai mệnh bàn, hai cuộc đời. Điều nối chúng lại là một cách đọc: chọn đúng cung gốc cho câu hỏi, đi theo từng mũi tên phi hóa, rồi nhìn xem các hóa lành dữ gặp nhau ở đâu. Gặp song Kỵ thì xem là phá; gặp song Lộc hoặc Lộc Quyền hội thì xem là phát; còn Kỵ kẹp giữa các hóa lành lại mở ra một thế khác hẳn. Phần còn lại là con người sống thế nào trong cái khuôn ấy.

Nguồn: Lương Nhược Du, Phi Tinh Tử Vi Đẩu Số 12 cung 672 tượng.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Lộc Kị luận