Bài tổng quan
Nữ mệnh Nhâm Tí và ba cung vị nhân quả ba đời
Người mẹ ấy quản con rất chặt, còn con thì kêu mẹ nghiêm khắc quá mức; vợ chồng cũng vì thế mà nguội lạnh dần. Câu hỏi mang tới cho Khâm Thiên môn lại là một câu khác: phải chăng lỗi nằm ở nếp di truyền của dòng họ. Cung phúc đức, cung phụ mẫu và cung mệnh sẽ trả lời theo cách không ai ngờ.
MỘT NGƯỜI MẸ THAN RẰNG CON CÁI KHÔNG CHỊU NGHE LỜI, VỢ CHỒNG THÌ NGUỘI LẠNH. Câu hỏi đặt ra với mệnh bàn nữ mệnh sinh năm Nhâm Tí này nghe rất lạ: có phải nếp di truyền của dòng họ vốn đã không tốt hay không? Khâm Thiên môn không trả lời bằng một câu đoán, mà đi ngược lên tận gốc, xét từ cái nhân của đời trước rồi mới nói đến cái quả của đời này.
Mệnh Bàn Nữ Mệnh Nhâm Tí
Cung mệnh an tại Canh Tuất, có Thiên Đồng, Đà La, đại vận đầu khởi từ bốn tuổi. Cung phụ mẫu ở Hợi có Vũ Khúc Hóa Kị, Phá Quân, Hữu Bật, Lộc Tồn. Cung phúc đức ở Nhâm Tí có Thái Dương, Thiên Diêu, Kình Dương. Cung điền trạch ở Sửu có Thiên Phủ, Linh Tinh. Cung quan lộc ở Nhâm Dần có Thiên Cơ, Thái Âm, Địa Kiếp. Cung nô bộc ở Mão có Tử Vi Hóa Quyền, Tham Lang, Tả Phụ Hóa Khoa, Hồng Loan, Thiên Khôi. Cung thiên di ở Thìn có Cự Môn, Âm Sát. Cung tật ách ở Tị có Thiên Tướng, Hỏa Tinh, Thiên Việt. Cung tài bạch ở Ngọ có Thiên Lương Hóa Lộc. Cung tử nữ ở Mùi có Liêm Trinh, Thất Sát, Văn Xương, Văn Khúc. Cung phu thê ở Thân có Thiên Hình, Địa Không. Cung huynh đệ ở Dậu có Thiên Hỉ.
Ba Cung Vị Nhân Quả Ba Đời
Trước tiên bàn về cái nhân của đời trước. Theo Khâm Thiên môn, trên mệnh bàn có ba cung được gọi là cung vị nhân quả ba đời, có liên quan đến quả báo của đời trước, đó là cung phúc đức, cung phụ mẫu và cung mệnh. Đứng ở góc độ mệnh lí mà nói, chức năng chủ yếu của ba cung này là đưa ra hướng giải quyết cho vấn đề cát hung đã xảy ra và dự phòng tình trạng có thể xảy ra trong tương lai; lúc luận đoán mệnh vận có thể dùng thuyết nhân quả tuần hoàn để tham khảo.
Cũng theo Khâm Thiên môn, nếu cung phúc đức phi Hóa Kị nhập cung phụ mẫu hay nhập cung mệnh, hoặc cung phụ mẫu phi Hóa Kị nhập cung mệnh, đều xem là có để lại tai ương; nguyên nhân là do bậc trưởng bối, còn mệnh tạo là người trả nợ thay cho họ.
Cái nhân đọc từ cung phúc đức
Căn cứ vào cung phúc đức của nguyên cục để luận về cái nhân. Thông thường cung phúc đức cũng được xem là cung vị phụ mẫu của cung phụ mẫu, tức là cung dùng để xem về tổ phụ. Cung phúc đức có Thái Dương, Dương Nhận, Thiên Diêu; can cung là Nhâm, khiến Vũ Khúc Hóa Kị ở cung phụ mẫu. Vũ Khúc là sao quả tú, tính cương, quả quyết, cũng chủ về quan hệ giữa người với người khó hòa hợp, giống như tiết lộ cho biết là có nếp di truyền của đời trước. Cung phúc đức phi Hóa Kị nhập cung phụ mẫu, tượng còn ngầm cho biết quan hệ giữa tổ phụ với cha cũng không được hòa hợp; e rằng nữ mệnh đã thừa kế nhân tố di truyền là tính chất của Vũ Khúc.
Cái Quả Nhìn Trong Quan Hệ Mẹ Con
Cái nhân ấy nối tiếp kéo dài đến đời mệnh tạo thì thành cái quả, và cái quả hiện ra rõ nhất ở chỗ mẹ con đối đãi với nhau.
Quan sát quan hệ đối đãi giữa mệnh tạo và con cái, về cơ bản phải lấy cung mệnh và cung tử nữ làm thể và dụng của nhau mà xem xét.
Thái độ của mẹ đối với con
Trước tiên xem thái độ của mệnh tạo đối với con cái, phải lấy cung tử nữ làm thể, cung mệnh làm dụng. Can cung mệnh là Canh, khiến Thái Dương Hóa Lộc ở cung phúc đức, là cung vị nô bộc của cung tử nữ; lại khiến Thiên Đồng Hóa Kị ở cung mệnh, là cung vị điền trạch của cung tử nữ, xung cung vị tử nữ của cung tử nữ. Đó là ý tượng: mệnh tạo rất lưu ý việc giao du bạn bè của con cái, đối với thời gian vui chơi bên ngoài của con cái đều có kiểm soát; về quan niệm thì mệnh tạo rất xem trọng gia giáo.
Thái độ của con đối với mẹ
Kế đến xem thái độ của con cái đối với mẹ. Can cung tử nữ là Đinh, khiến Thái Âm Hóa Lộc ở cung quan lộc, khiến Cự Môn Hóa Kị ở cung thiên di và xung cung mệnh. Đó là ý tượng: con cái cho rằng mẹ quá nghiêm khắc đối với việc học tập và hành vi ở bên ngoài của chúng, khiến giữa hai bên có sự tranh chấp về mặt quan niệm và không được vui vẻ.
Tính Cách Quyết Định Mệnh Vận
Cổ nhân thường nói:
Tính cách quyết định mệnh vận.
Trên nền tảng đó, thử phân tích mệnh cách của người phụ nữ này. Lấy cung mệnh tự làm thể và dụng để xem: can cung là Canh, khiến Thái Dương Hóa Lộc ở cung phúc đức, khiến Thiên Đồng Hóa Kị ở cung mệnh. Như vậy đã biểu thị rất rõ rằng người này chỉ chú ý cách suy nghĩ của bản thân, vì cung phúc đức thuộc tầng tư duy thâm sâu; đồng thời Hóa Kị lại nhập chính cung mệnh, tức tự hóa. Nói một cách dễ nghe thì người phụ nữ này khá tự kỉ, nói một cách khó nghe thì đây là người tự tư. Do đó, nhìn ở góc độ mệnh lí, e rằng vấn đề gút mắc là do ở bản thân.
Truy Nguyên Bằng Phép Chuyển Phi Hóa Kị
Đã biết gút mắc nằm ở đâu, còn phải lần cho ra nó bắt nguồn từ đâu.
Thử xem xét từ góc độ Hóa Lộc chuyển phi Hóa Kị và Hóa Kị chuyển phi Hóa Kị, để tìm nguyên do và nhân quả khiến quan hệ đối đãi giữa con cái với người phụ nữ này không được tốt. Cung tử nữ là can Đinh, khiến Thái Âm Hóa Lộc ở cung quan lộc; can cung quan lộc là Nhâm, chuyển phi Hóa Kị nhập Vũ Khúc ở cung phụ mẫu. Cũng can Đinh ấy khiến Cự Môn Hóa Kị ở cung thiên di; can cung thiên di là Giáp, chuyển phi Hóa Kị nhập Thái Dương ở cung phúc đức. Có thể thấy nguyên nhân là do cha mẹ, tức do chính mệnh tạo, còn kết quả cuối cùng là do ảnh hưởng của quan niệm và tính cách.
Kế đến, quan sát tình hình tác động lẫn nhau giữa vợ chồng, cũng có thể do tính cách của mệnh tạo mà quan hệ đối đãi của hai người không được tốt đẹp. Vì vậy đứng ở góc độ mệnh lí, trước tiên mệnh tạo nên tự điều chỉnh; sau khi thay đổi quan niệm và hành vi của bản thân mới có thể duy trì sức khỏe và hạnh phúc gia đình, nếu không thì chẳng những quan hệ với con cái không tốt, cuối cùng còn dễ dẫn đến tình trạng li hôn.
Một điểm đặc biệt về tín ngưỡng
Ngoài ra, về mệnh lí, người phụ nữ này còn có một điểm khá đặc biệt: cung phụ mẫu có Vũ Khúc Hóa Kị năm sinh, mà cung mệnh lại có Thiên Đồng tự Hóa Kị. Ý tượng của Vũ Khúc cũng có thể giải thích là thần minh, bàn thờ; cung mệnh có Thiên Đồng tự Hóa Kị là ý tượng: mệnh tạo không tin chuyện thần thánh, không có tín ngưỡng.
Phương Pháp Điều Chỉnh Cải Biến
Tổng hợp những luận đoán, đứng ở góc độ mệnh lí, phương pháp điều chỉnh cải biến như sau.
Thay đổi quan niệm, điều chỉnh tâm trạng và thái độ của bản thân, phải có một nhân sinh quan cởi mở hơn. Nên tham gia hoạt động công ích nhiều, vừa tạo cái nhân tốt của đời trước cho con cái, vừa có cơ hội mở rộng quan hệ giữa người với người, và cũng giúp cho bản thân cải thiện tính cách của mình.
Thái độ đối với chồng và con cái vẫn cứ quan tâm, nhưng không nên chuyện gì cũng nhúng tay vào can thiệp; như thế không chỉ phá hỏng tình thân mà nghiêm trọng hơn, sẽ khiến cho tình thân trở thành xa lạ, dẫn đến sự mất mát không đáng có. Tìm cho mình một công việc mà bản thân có hứng thú, không nhất định là để kiếm tiền, mà để bản thân kí thác tâm hồn vào đó; mỗi ngày mở rộng lòng ra để đón nhận niềm vui và lòng tin, mà bỏ đi tất cả nỗi thất vọng và u uất.
Tóm lại, tốt xấu cách nhau chỉ một niệm, chung quy đều phải xem bản thân đã làm gì mà thôi.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số — Tứ Hóa Phái (Nguyễn Anh Vũ), Chương 11 "Luận đoán mệnh bàn thực tế", mục "Nữ mệnh sinh năm Nhâm Tí".
