Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Hai lá số mùa đông: Quý thủy cần lửa, Bính hỏa nhờ ấn cứu

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc02/10/202618 phút đọc2 lượt đọc
Hai lá số mùa đông: Quý thủy cần lửa, Bính hỏa nhờ ấn cứu

Một người đàn ông sinh giờ tý ngày Quý tị năm Canh dần 1950, giữa mùa đông nước tràn khắp bốn trụ, lạnh đến mức muôn vật không mọc nổi, vậy mà một ngọn lửa như mặt trời ẩn trong các chi hẹn một cuối đời giàu nhất vùng. Một người đàn bà sinh giờ hợi ngày Bính tuất năm Giáp thìn 1964, ngọn lửa của bà bị nước vây trùng điệp mà hai chữ ấn đứng ra che chắn. Cùng một mùa lạnh, hai cách giữ lửa khác nhau...


Một người đàn ông sinh giờ tý ngày Quý tị năm Canh dần 1950, giữa mùa đông nước tràn khắp bốn trụ, lạnh đến mức muôn vật không mọc nổi, vậy mà một ngọn lửa như mặt trời ẩn trong các chi hẹn một cuối đời giàu nhất vùng. Một người đàn bà sinh giờ hợi ngày Bính tuất năm Giáp thìn 1964, ngọn lửa của bà bị nước vây trùng điệp mà hai chữ ấn đứng ra che chắn. Cùng một mùa lạnh, hai cách giữ lửa khác nhau...

Quý thủy giữa mùa đông cần lửa sưởi, cuối đời giàu nhất vùng

Lá số: nước đông cứng giữa tháng tý, phải dùng Bính hỏa giải hàn

Mệnh nam sinh năm Canh dần 1950, tháng mười một là Mậu tý, ngày 16 là Quý tị, giờ tý là Nhâm tý. Trụ năm Canh kim là ấn, trụ tháng Mậu thổ là quan, nhật nguyên Quý thủy ở trụ ngày, trụ giờ Nhâm thủy là kiếp tài. Các chi tàng: dần có Giáp, Bính, Mậu (thương quan, tài, quan); tý có Quý (tỉ kiên); tị có Canh, Bính, Mậu (ấn, tài, quan); tý có Quý. Đại vận khởi từ năm tuổi, đi thuận: Kỷ sửu (5 tuổi), Canh dần (15), Tân mão (25), Nhâm thìn (35), Quý tị (45), Giáp ngọ (55), Ất mùi (65).

Tháng mười một, Quý thủy lạnh cứng, muôn vật không thể sinh trưởng; đó là tượng kim và thủy không thể giao hòa với nhau, nên phải dùng Bính hỏa để giải hàn. Có Bính hỏa giải lạnh thì kim ấm lên, thủy ấm lên, hai bên lại sinh nhau. Tứ trụ nhiều thủy, nhờ Mậu thổ ở trụ tháng chế ngự; thổ đến khắc thân, hỏa làm cho ấm, nên hỏa là hỉ thần, thủy là kỵ thần.

Mệnh này thuở nhỏ gia cảnh khó khăn, cầu tài không dễ. Tuổi trung niên bôn ba vất vả; cuối đời phát đạt, có công danh phú quý, phúc thọ song toàn, sống trên bảy mươi tuổi, tự tay dựng gia nghiệp. Đi xa quê hương để cầu tài thì tốt hơn. Đặc biệt sau năm 1996 vận khí rất tốt, tài vận khá, sự nghiệp ngày càng mạnh, cát tinh cao chiếu, cuộc sống về già như cõi tiên, cả nhà phú quý.

Tính cách: gấp gáp, hiếu thắng nhưng nhân hậu, nghĩa khí

Tứ trụ nhiều thủy là tượng cuộc đời phiêu bạt, di động nhiều; tính cách gấp gáp, hiếu thắng, ít chịu ràng buộc, thanh cao kiêu ngạo và dễ bị kích động. Mệnh có thái cực và thiên ất nên trong nhà có người thờ Phật, bản thân cũng thích những chuyện thần bí như mệnh lý, hương khói. Người này thông minh hiếu học, có tinh thần đi sâu nghiên cứu, tính tình chính trực, làm việc chăm chú, có đầu có đuôi.

Lòng tự tôn cao, trọng danh dự, tấm lòng lương thiện, quang minh lỗi lạc, hay nói điều nghĩa khí; tiền vào rồi lại ra không tụ, nhưng có đầu óc kinh doanh, vừa biết kiếm tiền vừa biết dùng tiền, hào phóng. Đó còn là người nhân hậu, làm việc thận trọng, chăm chỉ, và luôn làm tốt những việc người khác nhờ cậy.

Nghề nghiệp, phương hướng cầu tài, tiền của và đường quan

Người này hợp với các nghề thuộc thổ và hỏa. Nghề thuộc thổ gồm chăn nuôi, nông nghiệp, khai khẩn đồi núi, giao dịch đất đai, buôn bán địa ốc, phân bón, thức ăn gia súc, khoáng vật, đất đá, gạch ngói, xi măng, đồ gốm, đồ cổ, xây dựng. Nghề thuộc hỏa gồm nhiệt năng, quang học, đèn chiếu sáng, xăng dầu, cao su, thuốc nổ, vật liệu điện, hóa học, luyện kim, nhựa đường. Những nghề thuộc kim và thủy thì không có lợi.

Phương hướng cầu tài tốt nhất là phương nam so với nơi sinh ra người cha, tiếp đến là tây nam. Các phương tây, tây bắc, bắc, đông bắc không có lợi, kém nhất là bắc và đông bắc. Bạn bè có lợi cho công việc là người tuổi lợn, rồi đến tuổi ngựa, tuổi chó; không lợi với người tuổi rắn.

Tài vận có thể nói cuối đời càng ngày càng tốt. Người này lấy tài làm dụng thần, cuối đời giàu nhất một vùng. Sau các năm 1988, 1989 tài vận rất tốt; qua năm mươi tuổi thì tài vận càng lên. Còn đường quan thì quan ở đất thai nên không vượng, cầu quan không bằng cầu tài, cầu quan vừa không lợi vừa rất khó.

Hôn nhân: âm dương sai lệch, nhiều lần dang dở

Người này sinh ngày Quý tị, là ngày âm dương sai lệch, chủ về hôn nhân không thuận, có thể kết hôn mấy lần, đường tình duyên cả đời khó khăn. Lấy vợ tuổi lợn là lợi nhất, thứ đến tuổi ngựa, tuổi chó cũng được; không lợi với người tuổi rắn, tuổi khỉ. Kết hôn vào năm 1975 tương đối có lợi.

Hôn nhân cả đời không thuận nhưng tình cảm thì khá chính chuyên, có tình. Sau ba mươi lăm tuổi, số đào hoa khiến người này được nhiều bạn gái yêu thích; các năm 1984, 1987, 1993, 1994 có nhiều cô theo đuổi. Hai năm 1991, 1992 hôn nhân không thuận, có khả năng ly hôn. Đến năm năm mươi sáu tuổi lại kết hôn, và cuối đời còn có con trai.

Bệnh tật, màu sắc, hướng nhà và cách đặt tên

Tứ trụ nhiều thủy, thủy vượng. Thủy chủ về thận, nên phải đề phòng bệnh thận, bàng quang, hệ tiết niệu, hoặc chứng đau lưng vì viêm thận, thận hư. Thủy nhiều thì hỏa bị khắc; hỏa chủ tim và mắt, nên cần đề phòng bệnh tim và thị lực kém. Đặc biệt hai năm 1992, 1993 sức khỏe yếu, lực bất tòng tâm, tim có thể có vấn đề; sau bốn mươi lăm tuổi cần chú ý các mặt này. Thủy nhiều thì mộc trôi dạt, kim lạnh, nên cũng phải chú ý phổi và hệ hô hấp, nhất là sau năm mươi lăm tuổi, khi hành vận thương quan gặp quan, sức khỏe kém, chủ yếu dễ mắc bệnh tim.

Phương hướng có lợi là nam và tây nam; không lợi là bắc, đông bắc, tây và tây bắc. Nên sống ở phòng hướng bắc, hoặc phòng phía nam của căn hộ; cơ quan, công ty cũng nên mở cửa về phía bắc, bàn làm việc ngồi quay mặt về phía bắc. Màu có lợi là đỏ, vàng, hoàng thổ; màu không lợi là trắng và đen. Quần áo và dụng cụ thường ngày nên theo màu ấy; riêng các năm 1996, 1997 nên mặc nhiều áo quần màu đỏ, kể cả áo lót, như thế có lợi cho việc cầu tài, phát tài nhiều ở phương nam. Giường đặt theo hướng bắc nam, đầu ở phía nam.

Trong tên gọi không nên dùng những chữ nhiều nét, viết sít quá, cũng không nên có ba chấm thủy bên cạnh. Lấy chữ Bính thì tốt, vì Bính hỏa là lửa của mặt trời; hoặc lấy chữ thổ để chế ngự thủy. Tên có năm nét hoặc tám nét thì có lợi cho phát triển sự nghiệp, đạt được mục đích cuối cùng và cũng lợi cho sự nghiệp về sau. Người này gặp hỏa, thổ là tốt, nên ngũ hành cần được bổ sung hai thứ ấy; tên công ty cũng nên có hai chữ đó.

Vận trình và lưu niên của cả đời

Trụ năm có ấn nhưng rơi vào tử địa, nên người này không được ông cha để lại gì, hoặc ông cha nghèo xơ xác, không hưởng được âm đức, tay trắng dựng cơ đồ. Thuở nhỏ nhà nghèo, nhưng quan và ấn sinh nhau nên từ bé đã có danh khí, ham học, có học đường, từ quán, học tập rất chăm; chẳng qua là chưa gặp thời mà thôi.

Năm Bính thân 1956, dần, thân, tị tam hình đều đủ, nên trong nhà năm ấy có biến lớn, đặc biệt không lợi cho cha, có thể người cha gặp trắc trở hoặc người già trong nhà mất; bản thân cũng có thể bị thương hoặc ốm nặng. Cả đời sợ nhất gặp năm khỉ, vì bất lợi. Trong nhà các năm 1958, 1959 cũng không thuận, thường xảy ra cãi cọ, kiện tụng bất thường. Hai năm 1968, 1969 người này không thuận hoặc phải di chuyển nhiều. Sau khi thành hôn, mỗi năm sinh một con, cuộc sống rất nặng nề, nhưng vô hình trung lại gánh được nhiều hạn, vì thêm người thì có thể tránh được hạn. Sau 1980, 1981 vận khí bắt đầu chuyển tốt, và phải đi xa nhiều lần.

Từ năm Bính dần 1986 tài vận bắt đầu tốt lên. Bốn năm từ 1986 đến 1989 tài vận khá, đặc biệt hai năm 1988, 1989 là hai năm huy hoàng nhất đời, của cải đến ùn ùn, tài khí hanh thông. Ba năm 1992 đến 1994 tài vận không tốt, tổn thất tương đối lớn, vợ chồng bất lợi, bản thân cũng vướng nhiều ràng buộc tình cảm. Bốn năm 1996 đến 1999 tài vận tương đối tốt, riêng năm 1997 tốt hơn cả; cuối năm nào tài vận cũng thường rất tốt, và năm 1997 thêm người trong nhà thì có lợi. Năm Mậu dần 1998 tuy có của, nhưng phải đề phòng kiện tụng hoặc cãi vã, tranh chấp.

Hai năm năm mươi ba và năm mươi tư tuổi người này có hạn nặng, có thể người già qua đời, vì vậy không nên đầu tư gì. Bốn năm từ năm mươi sáu đến năm mươi chín tuổi tài vận tốt, nhưng năm năm mươi tám tuổi phải chú ý sức khỏe hoặc bị thương bất ngờ. Năm Bính tuất, tròn năm mươi sáu tuổi, dần, ngọ, tuất tam hợp thành tài cục, năm ấy lãi rất nhiều, cũng có thể là cưới vợ lần nữa, sinh con; trong nhà thêm người.

Hai năm sáu mươi tư và sáu mươi lăm tuổi, đại vận và lưu niên cùng gặp, người này có nỗi lo, đó là cửa ải của cuộc đời, nên hai năm ấy không nên buôn bán. Vượt qua được hai năm cửa ải ấy, đến năm Bính ngọ, bảy mươi sáu tuổi, có thể qua đời vì bệnh đau tim.

Tóm lại, tuổi trẻ cuộc đời gian lao vất vả, cuộc sống khó khăn; tuổi trung niên lao lực, bôn ba, lại bị ràng buộc về tình cảm nên việc gì cũng không suôn sẻ, ấy là mệnh lao tâm lao lực. Gần về già, đời ngày càng tốt đẹp.

Bính hỏa giữa mùa đông bị nước vây, nhờ hai chữ ấn mà thoát nguy

Ngọn nến giữa trời giá, quanh mình toàn nước, thì chính hai bàn tay che gió mới giữ được ánh sáng.

Lá số và cách chọn dụng thần

Mệnh nữ sinh năm Giáp thìn 1964, tháng mười là Ất hợi, ngày 30 là Bính tuất, giờ hợi là Kỷ hợi. Can trụ năm Giáp là thiên ấn, can trụ tháng Ất là chính ấn, nhật nguyên Bính ở trụ ngày, can trụ giờ Kỷ là thương quan. Các chi tàng: thìn có Mậu, Ất, Quý; hợi có Nhâm, Giáp; tuất có Mậu, Tân, Đinh; hợi có Nhâm, Giáp. Đại vận khởi từ chín tuổi, đi nghịch: Giáp tuất (9 tuổi), Quý dậu (19), Nhâm thân (29), Tân mùi (39), Canh ngọ (49), Kỷ tị (59), Mậu thìn (69), Đinh mão (79).

Nhật chủ Bính hỏa sinh tháng hợi là không được lệnh. Mùa đông thủy lạnh kim hàn, mộc thổ cũng đông cứng; Bính hỏa rơi vào đất tuyệt, tự đóng ở kho mộ lại bị thủy vượng vây trùng điệp. May có can trụ năm và can trụ tháng thấu thiên ấn và chính ấn, ấn tinh được nguyệt khí mà vượng, có lực, nên Bính hỏa được ấn mạnh sinh giúp, chuyển nguy thành an, từ nhược thành trung hòa. Xét toàn cục, thương quan lẫn ấn, ngũ hành sinh khắc có tình, nên lấy ấn làm dụng thần: thủy sinh mộc, mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, một cảnh tượng sôi động.

Tính cách: từ thiện, khéo léo, nhưng lo nhiều vui ít

Người này nhân từ, hiếu thuận với cha mẹ, vui lòng giúp bạn, hiền lành trung thực, giữ chữ tín, giàu lòng đồng cảm; ấn tinh và nguyệt đức cùng cung, lại mộc nhiều, ấy là tượng nhân từ. Người thông minh, khéo léo, đầu óc linh hoạt, có văn tài, nhanh miệng, vì thủy nhiều chủ về trí. Cũng táo bạo, nhiều tài nghệ, tính cao ngạo, dễ bị tiểu nhân đố kỵ. Nhật chủ đóng mộ nên đời lo nhiều vui ít; Bính ở đất mộ lại có thìn tuất xung nhau, nên tôn trọng pháp luật thì tốt.

Tổ nghiệp, cha mẹ và anh chị em

Can thấu cả chính ấn lẫn thiên ấn nên người này có hai mẹ: một người là mẹ đẻ, một người là mẹ kế, mẹ nuôi, hoặc vợ không chính thức của cha. Trụ năm có kiêu thần nên tổ nghiệp nghèo nàn, gia cảnh khó khăn, nên rời quê hương mà phát triển. Kiêu thần ở đất trường sinh, nên người này ít duyên với mẹ, có thể mẹ mất trước. Cha mẹ hoặc ông bà hiền từ, là người tích đức.

Anh chị em khoảng bốn, năm người (trừ khi cha mẹ sinh đẻ có kế hoạch thì ít hơn), sống hòa thuận, trung thực, hiền lành, vì tháng gặp thiên ất quý nhân; lại nương tựa, giúp đỡ nhau vì can ngày và can tháng tương sinh.

Hôn nhân và con cái

Hôn nhân không thuận, vì tứ trụ thấu thương quan; người xưa nói phạm thương quan tất khắc hôn nhân. Khoảng hai mươi tuổi đã có bạn trai, bước vào thời kỳ luyến ái. Kết hôn vào năm 1987 hoặc 1988 là tốt, vì đại vận gặp đào hoa, quý nhân, lưu niên thiên hợp địa hợp, chủ về có việc mừng. Phụ nữ gặp thương quan là điềm khắc chồng, tái giá, hoặc lấn át quyền chồng, quản chồng chặt nên dễ sinh mâu thuẫn, mong chú ý khắc phục. Mệnh nữ gặp nhiều quý nhân thì tâm tính bất định, nhiều bạn trai, nên biết giữ thân phận để xây hạnh phúc gia đình trọn vẹn.

Thai đầu sinh con gái (với người không bị sẩy thai và có thương quan lẫn trong trụ giờ). Con cái kiêu ngạo, tính nóng, không chịu sự quản lý, vì trụ giờ thấu thương quan lại đóng thất sát; thông minh nhưng không ham học, và tương đối khó nuôi vì trụ giờ gặp đất tuyệt.

Sự nghiệp, bệnh tật và hỉ kỵ

Tuổi nhỏ hành ấn vận là vận sinh thân, có lợi cho học hành, học đạt thành tích tốt, có thể thi đỗ đại học, vì can tháng là chính ấn sinh cho can ngày thì chắc chắn đỗ. Thương quan lẫn ấn là quý không thể nói hết, lợi về văn chương, hành chính, viết lách, sáng tác, người có tiền đồ trong văn nghiệp. Giao tiếp giỏi, cơ động chốn quan trường, lợi cho học hành. Đảm lược, nhiều thành công bất ngờ. Nhiều quý nhân thì được nâng đỡ trong đề bạt, gặp hung hóa cát.

Sức khỏe nói chung tạm được, vì ấn sinh thân, thân lại vượng, còn gặp thiên ất và nguyệt đức quý nhân. Trong trụ có kiêu thần nên phải đề phòng đẻ non và khó đẻ. Mộc vượng khắc thổ nên dễ bệnh đường ruột, dạ dày; thủy nhiều nên chú ý bệnh về mắt. Can năm thấu kiêu thần, can giờ thấu thương quan, Giáp mộc là đầu, nên những năm tuế vận hình xung khắc hại thì dễ bị thương ở đầu, cần đặc biệt chú ý.

Lợi về phương đông và phương nam, là phương của dụng thần giúp thân; lợi về màu xanh và màu đỏ; nên buôn bán những nghề thuộc mộc và hỏa. Trong cuộc sống gặp khó khăn sẽ có người giúp đỡ, nhờ thiên ất và nguyệt đức quý nhân. Phải tôn trọng pháp luật, làm nhiều điều thiện, vì thìn tuất xung nhau, trụ ngày lại đóng kho mộ.

Phân tích tuế vận qua từng đại vận

Năm sáu tuổi, trước khi bước vào đại vận, gặp lưu niên Canh tuất cùng trụ năm thiên khắc địa xung, hai tuất xung một thìn; tiểu vận Quý tị lại xung đề cương lệnh tháng, và còn thiên khắc địa xung với trụ giờ, nên có tai họa hoặc cha mẹ gặp tai nạn, đặc biệt người mẹ nhiều bệnh, nguy hiểm đến tính mạng.

Đại vận kiêu thần Giáp tuất, từ chín đến mười tám tuổi: kiêu thần sinh thân nên là vận có lợi, lợi cho học hành, lên lớp. Tứ trụ thương quan lẫn ấn, người thông minh hiếu học, thành tích cao, đường học thuận buồm xuôi gió, có khả năng học đến đại học. Năm Nhâm tuất 1982 cùng với đại vận và mệnh cục cấu thành ba tuất xung khắc một thìn; nếu không đi xa thì người này không lợi, hoặc cha mẹ gặp trắc trở.

Đại vận chính quan Quý dậu, từ mười chín đến hai mươi tám tuổi: năm Quý hợi 1983 gặp thiên ất quý nhân, tức có người phù trợ, học hành thuận lợi. Từ 1985 đến 1988 hành vận thân vượng, gặp quý nhân lại gặp đào hoa nên mọi việc trôi chảy, công việc phát đạt, cũng là những năm có tin mừng về luyến ái hoặc hôn nhân. Năm Kỷ tị 1989 có thương quan gặp quan nên nhiều trắc trở, lại tị hợi tương xung, dễ sinh trắc trở và kiện tụng. Hai năm 1990, 1991 tài tinh khắc dụng thần, nhiều việc không thuận.

Đại vận quan sát Nhâm thân, từ hai mươi chín đến ba mươi tám tuổi: năm Quý dậu 1993 quan vượng ấn vượng, lại gặp quý nhân phù trợ nên tin mừng liên tiếp, mọi việc hanh thông. Năm Giáp tuất 1994 kiêu thần cùng gặp, lại hai tuất xung một thìn, chủ về công việc không thuận, bôn ba vất vả, hoặc cha mẹ, người nhà gặp trắc trở bất ngờ. Năm Ất hợi 1995 ấn vượng thân vượng lại gặp quý nhân, mọi việc như ý. Năm Mậu dần 1998, lưu niên thực thần làm chủ, kiêu và thực cùng gặp, Mậu dần với đại vận Nhâm thân thiên khắc địa xung, mã tinh bị xung, nên năm ấy chủ về bôn ba vất vả, hoặc bản thân không thuận, hoặc người nhà gặp tai nạn, phải hết sức chú ý. Năm Kỷ mão 1999 thương quan sinh sự, lại gặp đào hoa, phải đề phòng kiện tụng hoặc tình cảm sóng gió, tránh những chuyện bất hòa vì hôn nhân. Năm Canh thìn 2000, trụ ngày thiên khắc địa xung, hai thìn xung một tuất; năm Tân tị 2001 lại thiên khắc địa xung với trụ tháng; hai năm này bản thân có hạn hoặc nhiều trắc trở, hoặc gia đình phát sinh hạn, hao tiền tốn của, phải đề phòng trước.

Đại vận chính tài Tân mùi, từ ba mươi chín đến bốn mươi tám tuổi: năm 2003 thương quan gặp quan, phải đề phòng kiện tụng hoặc tranh chấp. Các năm 2004 đến 2007 tương đối tốt, mọi việc thuận lợi, sự nghiệp và tài vận hanh thông. Các năm 2008 đến 2011 kém hơn; năm Mậu tý 2008 kiêu và thực cùng gặp, năm 2009 thương quan chủ sự, phải đề phòng nhiều trắc trở. Năm Nhâm thìn 2012 thiên khắc địa xung với trụ ngày, hai thìn xung một tuất, nhiều trắc trở, trong nhà cũng bất hòa, phải hết sức chú ý.

Đại vận thiên tài Canh ngọ, từ bốn mươi chín đến năm mươi tám tuổi: năm Quý tị 2013 thương quan lại gặp quan, lưu niên thiên khắc địa xung với trụ giờ, còn xung đề cương lệnh tháng, nên nhiều việc không thuận, một là bản thân, hai là người nhà, phải hết sức chú ý. Các năm 2014 đến 2017 tương đối tốt, mọi việc như ý. Năm Mậu tuất 2018, thái tuế thiên khắc địa xung với trụ năm, kiêu thần đoạt thực thần của lưu niên, hai tuất xung một thìn, bản thân nhiều trắc trở hoặc tai nạn, hoặc người nhà gặp tai họa bất ngờ, hoặc có việc tốn tiền của, phải hết sức đề phòng.

Đại vận thương quan Kỷ tị, từ năm mươi chín đến sáu mươi tám tuổi: thương quan chủ sự, xì hơi nhật trụ; tuổi già sức khỏe yếu nên phải giữ gìn. Năm 2028 kiêu và thực đều gặp, năm 2029 thương quan ở đất vượng, năm 2030 lưu niên Canh tuất thiên khắc địa xung với trụ năm; ba năm ấy đều nhiều việc trắc trở hoặc bệnh tật. Đại vận thực thần Mậu thìn, từ sáu mươi chín đến bảy mươi tám tuổi: kiêu thần đoạt thực thần của đại vận, kiêu là hung thần nên tuổi già nhiều bệnh tật. Năm Bính thìn 2036 ba thìn xung một tuất, kiêu thần lại đoạt thực thần của đại vận, e rằng đó là cửa ải nguy hiểm đến tính mạng, hung nhiều cát ít, có thể khó qua.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc